BẢN DỊCH
HIỆP ĐỊNH GIỮA
CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC CAM-PU-CHIA VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN
VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP
Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Cam-pu-chia,
mong muốn ký kết một Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các
loại thuế đánh vào thu nhập,
Đã thoả thuận dưới đây:
Điều 1
Phạm vi áp dụng
Hiệp định này áp dụng đối với các đối tượng là những đối tượng cư trú của một hoặc của cả hai
Nước ký kết.
Điều 2
Các loại thuế bao gồm trong Hiệp định
1. Hiệp định này áp dụng đối với các loại thuế đánh vào thu nhập do một Nước ký kết hoặc chính
quyền địa phương của Nước ký kết đó, đánh vào thu nhập, bất kể hình thức áp dụng của các loại thuế
đó như thế nào.
2. Tất cả các loại thuế thu trên tổng thu nhập, hoặc những phần của thu nhập, bao gồm các loại
thuế đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng động sản hoặc bất động sản, các loại thuế đánh trên tổng
số tiền lương hoặc tiền công do doanh nghiệp trả, cũng như thuế trên giá trị tăng thêm của tài sản đều
được coi là thuế đánh vào thu nhập.
3. Các loại thuế hiện hành được áp dụng tại Hiệp định này cụ thể là:
(a) tại Cam-pu-chia:
(i) Thuế đối với Lợi nhuận bao gồm Thuế Khấu trừ, Thuế Lợi nhuận Bổ sung đối với Tiền lãi cổ
phần Phân phối và Thuế Chuyển nhượng Tài sản; và
(ii) Thuế Lương;
(sau đây gọi là “thuế Cam-pu-chia”); và
(b) tại Việt Nam:
(i) thuế thu nhập cá nhân;
(ii) thuế thu nhập doanh nghiệp; và
(iii) thuế thu nhập phụ thu dầu khí;
(sau đây gọi là “thuế Việt Nam”).
4. Hiệp định này cũng sẽ được áp dụng đối với bất kỳ các loại thuế có tính chất tương tự hoặc về
cơ bản giống như các loại thuế trên được ban hành sau ngày ký Hiệp định này để bổ sung, hoặc thay thế
các loại thuế hiện hành. Các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ thông báo cho nhau
những thay đổi quan trọng trong các luật thuế của hai nước.
Điều 3
Các định nghĩa chung
1. Theo nội dung của Hiệp định này, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi có sự giải thích khác:
(a) Thuật ngữ “Nước ký kết” và “Nước ký kết kia” có nghĩa là Cam- pu-chia hoặc Việt Nam tuỳ
ngữ cảnh đòi hỏi;
(b) Thuật ngữ “Cam-pu-chia” có nghĩa là lãnh thổ của Vương quốc Cam-pu-chia, cũng như các
vùng biển, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển liền kề với ranh giới phía ngoài của lãnh hải
mà Vương quốc Cam-pu-chia thực hiện các quyền chủ quyền hoặc quyền tài phán phù hợp với luật pháp
quốc tế;
(c) Thuật ngữ “Việt Nam” có nghĩa là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; khi dùng theo
nghĩa địa lý, thuật ngữ này có nghĩa là lãnh thổ đất liền, các hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải và vùng trời phía
trên đó, vùng biển ngoài lãnh hải, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển mà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán phù hợp với pháp luật
quốc gia và luật pháp quốc tế;
(d) Thuật ngữ “đối tượng” bao gồm cá nhân, công ty và bất kỳ tổ chức của nhiều đối tượng nào
khác;
(e) Thuật ngữ “công ty” có nghĩa là bất kỳ tổ chức công ty hoặc bất kỳ một thực thể nào được coi
là tổ chức công ty dưới giác độ thuế;
(f) Thuật ngữ “doanh nghiệp của một Nước ký kết” và “doanh nghiệp của Nước ký kết kia” theo
thứ tự có nghĩa là một doanh nghiệp được điều hành bởi đối tượng cư trú của một Nước ký kết và một
doanh nghiệp được điều hành bởi đối tượng cư trú của Nước ký kết kia;
(g) Thuật ngữ “vận tải quốc tế” có nghĩa là bất kỳ sự vận chuyển nào bằng tàu thuỷ hoặc máy
bay, hoặc tàu hoặc phương tiện đường bộ hoặc thuyền được điều hành bởi một doanh nghiệp có địa
điểm đăng ký (thành lập) tại một Nước ký kết, trừ trường hợp khi chiếc tàu thuỷ, máy bay, tàu hoặc
phương tiện đường bộ hoặc thuyền đó chỉ hoạt động giữa những địa điểm trong Nước ký kết kia;
(h) Thuật ngữ “nhà chức trách có thẩm quyền” có nghĩa là:
(i) Trong trường hợp của Cam-pu-chia, là Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Tài chính hoặc người đại diện
được uỷ quyền; và
(ii) Trong trường hợp của Việt Nam, là Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc người đại diện được uỷ
quyền.
(i) Thuật ngữ “đối tượng mang quốc tịch”, liên quan đến một Nước ký kết, có nghĩa là:
(i) bất kỳ cá nhân mang quốc tịch của Nước ký kết đó; và
(ii) bất kỳ pháp nhân, công ty hợp danh và hiệp hội nào có tư cách theo các luật có hiệu lực tại
Nước ký kết đó.
2. Khi một Nước ký kết áp dụng Hiệp định này vào bất kỳ thời điểm nào, bất kỳ thuật ngữ nào
chưa được định nghĩa tại Hiệp định này sẽ có nghĩa theo như định nghĩa tại luật của Nước đó đối với các
loại thuế mà Hiệp định này áp dụng vào thời điểm đó, bất kỳ nghĩa nào theo các luật thuế được áp dụng
của Nước đó sẽ có giá trị cao hơn nghĩa của thuật ngữ đó theo các luật khác của Nước đó, trừ trường
hợp ngữ cảnh đòi hỏi có sự giải thích khác.
Điều 4
Đối tượng cư trú
1. Theo nội dung của Hiệp định này, thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước ký kết” có nghĩa
là bất kỳ đối tượng nào, mà theo các luật của Nước đó, là đối tượng chịu thuế căn cứ vào nhà ở, nơi cư
trú, trụ sở thành lập, trụ sở đăng ký, trụ sở điều hành, địa điểm kinh doanh chính, hoặc bất kỳ các tiêu
thức nào khác có tính chất tương tự, và cũng bao gồm Nước đó hoặc bất kỳ chính quyền địa phương
nào của Nước đó.
Tuy nhiên, thuật ngữ này không bao gồm bất kỳ đối tượng nào là đối tượng chịu thuế tại Nước
đó chỉ đối với thu nhập từ các nguồn tại Nước đó.
2. Trường hợp theo các quy định tại khoản 1, khi một cá nhân là đối tượng cư trú của cả hai
Nước ký kết, thì thân phận cư trú của cá nhân đó sẽ được xác định như sau:
(a) Cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước mà tại đó cá nhân đó có nhà ở
thường trú; nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú ở cả hai Nước, cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư
trú chỉ của Nước mà cá nhân đó có các quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn (trung tâm của các
quyền lợi chủ yếu);
(b) Nếu không thể xác định được Nước nơi cá nhân đó có trung tâm các quyền lợi chủ yếu, hoặc
nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở cả hai Nước, thì cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư
trú chỉ của Nước mà cá nhân đó thường sống;
(c) Nếu cá nhân đó thường xuyên sống ở cả hai Nước hoặc không thường xuyên ở Nước nào,
thì cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước mà cá nhân đó mang quốc tịch;
(d) Nếu cá nhân đó là đối tượng mang quốc tịch của cả hai Nước hoặc không mang quốc tịch
của Nước nào, các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ giải quyết vấn đề đó bằng thỏa
thuận chung.
3. Theo những quy định tại khoản 1 một đối tượng không phải là một cá nhân là đối tượng cư trú
của cả hai Nước ký kết, thì đối tượng đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước có trụ sở đăng ký
(thành lập) của đối tượng đó.
Điều 5
Cơ sở thường trú
1. Theo nội dung của Hiệp định này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” có nghĩa là một địa điểm kinh
doanh cố định mà qua đó doanh nghiệp thực hiện toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh của
mình.
2. Thuật ngữ “cơ sở thường trú” chủ yếu bao gồm:
(a) Trụ sở điều hành;
(b) Chi nhánh;
(c) Văn phòng;
(d) Nhà máy;
(e) Xưởng;
(f) Kho hàng; đá hoặc bất kỳ địa điểm khai thác tài
(g) Mỏ, giếng dầu hoặc khí, mỏ guyên thiên nhiên nào khác; và
(h) Trang trại hoặc khu đất trồng cây.
3. Thuật ngữ “cơ sở thường trú” cũng bao gồm:
(a) Một địa điểm xây dựng, dự án xây dựng, lắp ráp hoặc lắp đặt hoặc các hoạt động giám sát
liên quan, nhưng chỉ khi địa điểm, dự án hoặc các hoạt động này kéo dài hơn 183 ngày;
(b) Việc cung cấp các dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn do một doanh nghiệp thực hiện thông
qua những người làm công hoặc những đối tượng khác được doanh nghiệp giao thực hiện các hoạt
động trên, nhưng chỉ khi các hoạt động mang tính chất nêu trên kéo dài (trong cùng một dự án hoặc một
dự án có liên quan) tại một Nước ký kết trong một giai đoạn hoặc nhiều giai đoạn gộp lại hơn 183 ngày
trong bất kỳ giai đoạn 12 tháng; và
(c) Việc tiến hành các hoạt động (bao gồm cả việc vận hành thiết bị chủ yếu) tại Nước ký kết kia
để thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên trong một giai đoạn hoặc nhiều giai đoạn vượt quá 90
ngày trong bất kỳ giai đoạn 12 tháng.
4. Mặc dù có các quy định trên của Điều này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” sẽ được coi là không
bao gồm:
(a) Việc sử dụng các phương tiện chỉ với mục đích lưu kho hoặc trưng bày hàng hoá hoặc tài
sản của doanh nghiệp;
(b) Việc duy trì kho hàng hoá hoặc tài sản của doanh nghiệp chỉ với mục đích lưu kho hoặc trưng
bày;
(c) Việc duy trì kho hàng hoá hoặc tài sản của doanh nghiệp chỉ với mục đích để cho doanh
nghiệp khác gia công;
(d) Việc duy trì một địa điểm kinh doanh cố định chỉ với mục đích mua hàng hoá hoặc tài sản,
hoặc để thu thập thông tin cho doanh nghiệp; và
(e) Việc duy trì một địa điểm kinh doanh cố định chỉ với mục đích tiến hành bất kỳ hoạt động nào
khác mang tính chất chuẩn bị hoặc phụ trợ cho doanh nghiệp.
5. Mặc dù có những quy định tại các khoản 1 và 2, trường hợp một đối tượng - trừ đại lý có tư
cách độc lập được điều chỉnh bởi khoản 7 - hoạt động tại một Nước ký kết thay mặt cho một doanh
nghiệp của Nước ký kết kia, doanh nghiệp đó sẽ được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết thứ
nhất đối với bất kỳ hoạt động nào mà đối tượng đó thực hiện cho doanh nghiệp, nếu đối tượng đó:
(a) Có và thường xuyên thực hiện tại Nước đó thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên của
doanh nghiệp, trừ khi các hoạt động của đối tượng đó được giới hạn trong phạm vi các hoạt động nêu tại
khoản 4 mà những hoạt động đó nếu được thực hiện thông qua một địa điểm kinh doanh cố định thì sẽ
không làm cho địa điểm kinh doanh cố định đó trở thành một cơ sở thường trú theo những quy định tại
khoản đó; hoặc
(b) Không có thẩm quyền trên, nhưng thường xuyên duy trì tại Nước thứ nhất một kho hàng hoá
hoặc tài sản, qua đó đối tượng này thường xuyên giao hàng hoá hoặc tài sản thay mặt cho doanh
nghiệp; hoặc
(c) Thường xuyên có được các đơn đặt hàng tại Nước thứ nhất toàn bộ hoặc gần như toàn bộ
cho chính doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp khác chịu sự kiểm soát của doanh nghiệp hoặc có
quyền kiểm soát lợi ích trong doanh nghiệp đó.
6. Mặc dù có các quy định trên của Điều này, một doanh nghiệp bảo hiểm của một Nước ký kết,
trừ trường hợp tái bảo hiểm, sẽ được coi là có một cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia nếu doanh
nghiệp đó thu phí bảo hiểm trong lãnh thổ của Nước kia hoặc bảo hiểm các rủi ro tại Nước kia thông qua
một đối tượng không phải là một đại lý có tư cách độc lập được điều chỉnh bởi khoản 7.
7. Một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ không được coi là có một cơ sở thường trú tại
Nước ký kết kia chỉ vì doanh nghiệp đó thực hiện kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một đại lý môi
giới, một đại lý hoa hồng nói chung, hoặc bất kỳ một đại lý nào khác có tư cách độc lập, với điều kiện
những đối tượng này hoạt động trong khuôn khổ kinh doanh thông thường của mình. Tuy nhiên, khi
những hoạt động của đại lý đó dành toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ đại diện cho doanh nghiệp đó, và các
điều kiện được đưa ra hoặc áp đặt giữa doanh nghiệp và đại lý trong các quan hệ thương mại và tài
chính của họ khác với các điều kiện được đưa ra giữa các doanh nghiệp độc lập, đại lý đó sẽ không
được coi như một đại lý có tư cách độc lập trong phạm vi ý nghĩa của khoản này.
8. Việc một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết kiểm soát hoặc chịu sự kiểm soát
bởi một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia hoặc tiến hành kinh doanh tại Nước ký kết kia
(có thể thông qua một cơ sở thường trú hoặc dưới hình thức khác), sẽ không làm cho bất kỳ công ty nào
trở thành cơ sở thường trú của công ty kia.
Điều 6
Thu nhập từ bất động sản
1. Thu nhập mà một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ bất động sản (kể cả thu
nhập từ nông nghiệp hoặc lâm nghiệp) có tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
2. Thuật ngữ “bất động sản” sẽ có nghĩa theo như luật pháp của Nước ký kết nơi có bất động
sản đó. Thuật ngữ này trong mọi trường hợp sẽ bao gồm cả những phần tài sản phụ kèm theo bất động
sản, đàn gia súc và thiết bị sử dụng trong nông nghiệp và lâm nghiệp, các quyền được áp dụng theo n
các quy định tại luật chung về điền sản, quyền sử dụng bất động sản và các quyền được hưởng các
khoản thanh toán cố định hoặc không cố định trả cho việc khai thác hoặc quyền khai thác các mỏ, nguồn
khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác; các tàu thuỷ, thuyền, phương tiện đường sắt hoặc
đường bộ, và máy bay sẽ không được coi là bất động sản.
3. Các quy định tại khoản 1 cũng sẽ áp dụng đối với thu nhập phát sinh từ việc trực tiếp sử dụng,
cho thuê, hoặc sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào khác của bất động sản.
4. Những quy định tại các khoản 1 và 3 cũng sẽ áp dụng đối với thu nhập từ bất động sản của
một doanh nghiệp và thu nhập từ bất động sản sử dụng cho việc thực hiện các dịch vụ cá nhân độc lập.
Điều 7
Lợi nhuận kinh doanh
1. Lợi nhuận của một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ
trường hợp doanh nghiệp có tiến hành kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú
tại Nước ký kết kia. Nếu doanh nghiệp tiến hành kinh doanh theo cách trên, thì các khoản lợi nhuận của
doanh nghiệp có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia, nhưng chỉ trên phần lợi nhuận phân bổ cho: (a) cơ
sở thường trú đó; (b) việc bán tại Nước ký kết kia những hàng hoá hoặc tài sản cùng loại hoặc tương tự
như những hàng hoá hoặc tài sản bán qua cơ sở thường trú đó; hoặc (c) các hoạt động kinh doanh khác
được thực hiện tại Nước ký kết kia cùng loại hoặc tương tự với những hoạt động được thực hiện thông
qua cơ sở thường trú đó.
2. Thể theo các quy định tại khoản 3, khi một doanh nghiệp của một Nước ký kết tiến hành kinh
doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia, thì tại mỗi Nước ký kết s
có những khoản lợi nhuận được phân bổ cho cơ sở thường trú nói trên mà cơ sở thường trú đó có thể
thu được nếu nó là một doanh nghiệp riêng và tách biệt tham gia vào các hoạt động như nhau hoặc
tương tự trong cùng các điều kiện như nhau hoặc tương tự và có quan hệ hoàn toàn độc lập với doanh
nghiệp mà nó là cơ sở thường trú của doanh nghiệp đó.
3. Trong khi xác định lợi nhuận của một cơ sở thường trú, cơ sở này sẽ được phép tính vào các
khoản chi phí được trừ các khoản chi phí phát sinh phục vụ cho mục đích kinh doanh của cơ sở thường
trú này, bao gồm cả chi phí điều hành và chi phí quản lý chung cho dù chi phí đó phát sinh tại Nước nơi
cơ sở thường trú đó đóng hoặc ở bất kỳ nơi nào khác. Tuy nhiên, sẽ không cho phép tính vào các khoản
chi phí được trừ bất kỳ khoản tiền nào, nếu có, do cơ sở thường trú trả cho (trừ khi là khoản thanh toán
các chi phí thực tế) trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc bất kỳ văn phòng nào khác của doanh nghiệp
dưới hình thức tiền bản quyền, các khoản phí hoặc bất kỳ khoản thanh toán tương tự nào khác để được
phép sử dụng sáng chế hoặc các quyền khác, hoặc dưới hình thức tiền hoa hồng trả cho việc thực hiện
các dịch vụ riêng biệt hoặc trả cho công việc quản lý, hoặc dưới hình thức thu nhập tính trên tiền cho cơ
sở thường trú vay, trừ trường hợp thu nhập từ tiền cho vay của tổ chức ngân hàng. Tương tự như vậy,
khi xác định lợi nhuận của cơ sở thường trú sẽ không tính đến các khoản tiền (trừ các khoản tiền thanh
toán các chi phí thực tế) do cơ sở thường trú thu từ trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc bất kỳ văn
phòng nào khác của doanh nghiệp, dưới hình thức tiền bản quyền, các khoản phí hoặc các khoản thanh
toán tương tự để cho phép sử dụng sáng chế hoặc các quyền khác, hoặc dưới hình thức tiền hoa hồng
trả cho việc thực hiện các dịch vụ riêng biệt hoặc trả cho công việc quản lý, hoặc dưới hình thức thu
nhập tính trên tiền cho trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc bất kỳ văn phòng nào của doanh nghiệp vay,
trừ trường hợp thu nhập từ tiền cho vay của tổ chức ngân hàng.
4. Trường hợp tại một Nước ký kết vẫn thường xác định các khoản lợi nhuận phân bổ cho cơ sở
thường trú trên cơ sở phân chia tổng lợi nhuận của doanh nghiệp thành các phần khác nhau, thì không
có nội dung nào tại khoản 2 ngăn cản Nước ký kết đó xác định lợi nhuận chịu thuế theo cách phân chia
theo thông lệ đó; tuy nhiên, phương pháp phân chia được áp dụng như vậy phải đưa ra kết quả phù hợp
với các nguyên tắc nêu tại Điều này.
5. Vì mục đích của các khoản trên, các khoản lợi nhuận được phân bổ cho cơ sở thường trú sẽ
được xác định theo cùng một phương pháp qua các năm, trừ khi có đủ lý do chính đáng để xác định theo
phương pháp khác.
6. Không có nội dung nào tại Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc áp dụng bất kỳ luật nào của một
Nước ký kết liên quan đến thuế áp dụng đối với thu nhập từ bảo hiểm, trừ tái bảo hiểm, với các công ty
bảo hiểm không cư trú với điều kiện là luật pháp có liên quan thực thi tại một trong hai Nước ký kết đối
với bảo hiểm có tại Nước đó.
7. Khi lợi nhuận bao gồm các khoản thu nhập được đề cập riêng tại các Điều khác của Hiệp định
này, thì những quy định của các Điều đó không bị ảnh hưởng bởi các quy định tại Điều này.
Điều 8
Vận tải quốc tế
1. Lợi nhuận thu được từ hoạt động của máy bay trong vận tải quốc tế sẽ chỉ bị đánh thuế tại
Nước ký kết nơi doanh nghiệp đăng ký (thành lập).
2. Lợi nhuận do một doanh nghiệp của một Nước ký kết thu được từ hoạt động vận tải quốc tế
của tàu thuỷ, các phương tiện đường sắt hoặc đường bộ hoặc thuyền có thể bị đánh thuế tại Nước ký
kết kia, nhưng thuế đánh tại Nước ký kết kia sẽ được giảm một số tiền bằng 50 phần trăm.
3. Những quy định tại các khoản 1 và 2 cũng sẽ áp dụng đối với các khoản lợi nhuận từ việc
tham gia vào một tổ hợp, một liên doanh hoặc một hãng hoạt động quốc tế.
Điều 9
Các doanh nghiệp liên kết
1. Khi:
(a) một doanh nghiệp của một Nước ký kết tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc quản lý,
kiểm soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, hoặc
(b) các đối tượng cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc quản lý, kiểm soát hoặc góp
vốn vào một doanh nghiệp của một Nước ký kết và vào một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, và trong
cả hai trường hợp, trong các mối quan hệ thương mại hoặc tài chính giữa hai doanh nghiệp trên có
những điều kiện được đưa ra hoặc áp đặt khác với điều kiện được đưa ra giữa các doanh nghiệp độc
lập, lúc đó mọi khoản lợi nhuận mà một doanh nghiệp có thể thu được nếu không có các điều kiện trên,
nhưng nay vì các điều kiện này mà doanh nghiệp đó không thu được, sẽ vẫn được tính vào các khoản lợi
nhuận của doanh nghiệp đó và bị đánh thuế tương ứng.
2. Khi một Nước ký kết tính vào các khoản lợi nhuận của một doanh nghiệp tại Nước đó - và
đánh thuế tương ứng - các khoản lợi nhuận mà một doanh nghiệp tại Nước ký kết kia đã bị đánh thuế ở
Nước kia và những khoản lợi nhuận được tính vào như vậy là những khoản lợi nhuận lẽ ra thuộc về