MẤY VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ HIỆU QUẢ VÀ AN TOÀN
ĐẬP Ở MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN
Giả Kim Hùng
Chi hội trưởng Hội Đập lớn & PT
nguồn nước miền Trung
Đập Định Bình (Bình Định), đập tông đầm lăn được khởi công đầu tiên và đạt
chất lượng cao tại nước ta do Cty CP Xây dng 47 thi công.
Tóm tắt: Giới thiệu các đập hồ Thủy lợi và Thủy điện đã xây dựng, vài nét vcác
điều kiện tự nhiên nêu mấy vấn đề cần quan tâm để nâng cao hiệu quả xây
dựng và an toàn Đập ở miền này.
1. Miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam: Hiện gồm 13 tỉnh thành
diện tích tự nhiên trên 10 vạn km2 chiếm 30,47% diện tích cả nước với dân số chỉ
chiếm khoảng 15% cả nước, nhiều tiềm năng kinh tế hội to lớn. 35 năm
qua (1975 2010), tsau ngày thống nhất đất nước, nhất trên 20 năm đổi mới,
miền này đã những thay đổi lớn lao và nhanh chóng bmặt kinh tế hội và
ổn định chính trị, đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều tài nguyên được quản
khai thác hiệu quả. Một trong những nguyên nhân trực tiếp, là nhhàng
loạt các công trình Thủy lợi Thủy điện lớn nhỏ được xây dựng khắp i. Tiêu
biểu là các công trình thủy lợi như: Phú Ninh (Quảng Nam), Thạch Nham, Nước
Trong, Núi Ngang (Quảng Ngãi), Vạn Hội, Núi Một, Định Bình (Bình Định), Phú
Xuân, Đồng Trôn (P Yên), Suối Hành, Đá Bàn, Suối Dầu (Khánh Hòa), Sông
Trâu,Tân Giang (Ninh Thuận), Sông Quao, Giây, Lòng Sông (Bình Thuận),
ĐăkUy, Biển Hồ, Ayn Hạ (Gia Lai), Krongbuk, EaSoup (ĐăkLăk), Đàteh, Tuyền
Lâm (Lâm Đồng), ĐăkRồ (ĐăkNông) v.v…, các công trình thủy điện như:
Sông Tranh 2, A Vương (Quảng Nam); Vĩnh Sơn (Bình Định), Sông Hinh, Sông
Ba H(Phú Yên), An Khê, Ialy (Gia Lai), Đồng Nai 3, Đồng Nai 4 (Lam Đồng
Đăknông), Đa Mi Hàm Thuận (Lâm đồng), TrAn (Đồng Nai), Đại Ninh (Bình
Thuận), Thác (Bình Phước) v.v…, cấp nước tưới cho hàng chục vạn ha lúa,
màu, cây công nghiệp, cấp hàng chục tỉ kilowat giờ điện năng cho các đô thị và c
nhiều vùng sâu vùng xa, cấp nước sinh hoạt cho hàng triệu nời dân, góp phần
cải tạo môi trường khí hậu và hình thành nhiều đô thị mới, các khu du lịch văn hóa,
sinh thái …
Đó thành tựu chung của các ngành xây dựng TL TĐ, của các cấp bộ
Đảng, chính quyền nhân dân các địa phương trong nước, của cán bộ (Ksư,
công nhân các đơn vị của BộThuỷ lợi nay là Bộ NN&PTNT, Bộ Điện lực nay là B
công thương), trong đó những đóng góp đáng kể của các kỹ sư, chuyên gia
vấn Khảo t Thiết kế ngành xây dựng TL TĐ, đã vượt qua muôn vàn khó khăn,
đặc biệt đã sớm hiểu và ứng dụng nhiều công nghệ kthuật xây dựng phù hợp với
các điều kiện tự nhiên mới lạ ở miền này. Một số hồ đập TL và TĐ ghi ở bảng sau.
2. Các điều kiện xây dựng hồ đập:
Rất phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp về tự nhiên, kinh tế, xã hội,
nhiều đặc trưng cực đoan từng vùng, từng tiểu vùng vđịa hình, địa chất, khí
tượng thủy văn, về tình hình phân bdân cư, đất đai và vtrình độ phát triển
liên quan đến việc nghiên cứu, xây dựng và quản lý vận hành các hđập.
2.1. Địa hình:
nhiều hình thái khá đặc biệt và phức tạp. Về cao độ, từ 1200 ÷ 1500m
Lâm Đồng, 700 ÷ 800m Gia Lai Kon Tum, 450 ÷ 500m ĐăkLăk- Đăk Nông,
xuống đồng bằng ven biển chỉ còn vài chục đến vài mét ,hình thành 2 -3 bc địa
hình cao thấp kề nhau không khu vực chuyển tiếp rõ rệt. Dọc theo chiều kinh
tuyến Bắc – Nam lại càng phức tạp: núi, đồi đồng bằng xen kẻ, nhiều nhánh núi
xuyên ngang của dãy Trường Sơn chia cắt vùng đồng bằng thành những ô nhỏ dọc
các thung lũng sông, mạng lưới sông suối lớn nhỏ dày đặc lại chia cắt nhỏ các
vùng dân cư đất canh tác. Các hệ thống kênh dẫn cấp nước rất phức tạp và tốn
kép. Các đường dây tải điện cũng phải vắt qua nhiều đồi núi, lũng sông mới
chuyển tải được khắp các vùng.
Địa hình các lũng sông cũng rất phức tạp, do vùng núi trung du rất dốc,
ít những thung lũng khả năng tạo thành các hchứa dung tích lớn, đồng
thời cũng ít gặp các vtrí hẹp, cân đối để thể ngăn sông với đập ngắn và btrí
tràn xlũ một cách dễ dàng và ít tốn kém.
2.2. Địa chất:
Công trình vùng ven biển cũng phức tạp do các hoạt động kiến tạo mãnh
liệt trước kia, các điều kịên phong hóa nhiệt đới lâu dài và địa hình chia cắt.
Vnền móng công trình, hầu hết đều phải đặt trên các nền phong a
mạnh, các đứt gãy sâu hoặc trên nền aluvi trẻ tầng cát cuội sỏi dày. Việc
điều tra các yếu tố vê kiến tạo để xét ảnh hưởng đến khả năng làm việc lâu dài của
công trình rất quan trọng nhưng thường khó khăn và tốn kém. Trong quá trình
thi công thường khó tránh khởi các phát sinh phải xử lý. Đặc biệt về vật liệu đất
đắp đập khi áp dụng loại hình đập đất đá đầm nén vùng ven biển cũng cực kỳ
phức tạp, có nhiều đặc tính bất lợi như tan rã, trương nở, lún ướt, một số đập phải
thay đổi kết cấu mặt cắt đập và các chỉ tiêu thiết kế như hệ số đầm nén, hệ số thẩm
v.v… trong quá trình thi công.Tây Nguyên, trên các vùng sản phẩm của đất Ba
zan, dụng trọng khô rất nhỏ, chỉ 1,2 ÷ 1,3T/m3 m cho đập đất đắp phải
khối lượng lớn để ổn định trượt.
2.3. Mưa và dòng chảy:
Các lưu vực biến đổi rất lớn từ phía Bắc vao phía Nam, Lượng mưa năm từ
3000mm Quảng Nam đến dưới 1000mm Bình Thuận, lại tập trung 75 ÷ 80%
vào 3 tháng mùa mưa, còn lại 9 tháng là mùa khô hạn kéo dài. Dòng chảy lưu vực
cũng biến động lớn theo vùng theo thi gian. Moduyn dòng chảy bình quân
nhiều m biến đổi từ 75 ÷ 80 l/s km2 c sông A Vương Tam Kỳ, xuống
còn xấp xỉ 10l/s km2 ở sông Ba tại Đồng Cam, và chỉ còn 4l/s – km2 ô suối Hành
Nam Khánh Hòa. Sbiến đổi của modyn dòng chảy kiệt càng mãnh liệt hơn, từ
20l/s km2 đến 0,1l l/s- km2. Dòng chảy cũng cực kỳ phức tạp: cường suất
trên các sông rất lớn, và rất khác nhau: t10cm/giờ (sông Cái Phan Rang) đến
50cm-100cm/gi(Trà Khúc Quảng Ngãi). Moduyn lũ rất lớn so với các lưu vực
miền Bắc, trên 15m3/s km2. Tổng lượng lũ cũng rất lớn, có lưu vực tổng lượng
lũ trong một trận lớn n tổng lượng nước đến trung bình nhiều năm! Các trận
lũ năm 2009 vùng này đã góp phần làm rõ tình hình đó. Những đặc điểm dị
thường trên ảnh hưởng lớn đến đời sống dân quy kích thước các công
trình TL nhất đối với hồ chức nước, đập ngăn sông và công trình tràn x
lũ, cả các vấn đề dẫn dòng thi công xây dựng công trình cũng như trong quá trình
quản lý khai thác đảm bảo hiệu quả và an toàn hđập.
Tiềm năng thủy điện kdồi dào nhất là phía Bắc và trên Tây Nguyên
nhnguồn nước đến dồi dào và độ dốc lòng sông lớn.
2.4. Điều kiện khí hậu và đất đai:
Thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng vùng nhiệt đới năng suất
cao nếu đủ nước tưới và bảo đảm điều hòa các yếu tố nước đất cây trồng và
thời vụ, nhiều nới có thể trồng 2 ÷ 3 vụ cây hàng năm trong năm và gần như có thể
trồng trọt quanh năm trừ thời gian ngắn trong mùa bão lụt. Ảnh hưởng bất lợi đối
với cây trồng ít gặp n các vùng min Bắc. Năng suất cây trồng trên 1 ha d
dàng đạt trên 10 tn thóc/năm, trên 1,5 tấn phê/năm, trên 80 ÷ 100 tấn mía/v
Việc đầu cho CTTL-cao n nhưng chắc chắn sẽ được bồi hoàn bằng
stăng trưởng của nền sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn điện khóa
đất nước.
2.5. Điều kiện xây dựng công trình hđập:
Nói chung khó khăn từ việc đánh giá nguồn nước (dòng chảy năm, kiệt,
lũ, diễn biến lòng b sông hạ lưu hồ đập …), đến các điều kiện nền móng, vật liệu
xây dựng. Giải pháp CT chủ yếu là phải xây dựng các hồ chứa điều tiết dòng chảy
tác động đến các môi trường, Khối lượng công trình thường đòi hi lớn n
ngày scàng lớn hơn so với các vùng miền Bắc. Theo số liệu thống kê chưa đầy
đủ các CT đã xây dựng để tưới cho 1 ha bằng hồ đập, cần đào đắp 150 ÷ 220m3