Kĩ thut trng rng
tràm
I. Các xuất xứ của cây tràm:
Cây tràm có nhiều loài và trong mt loài lại có nhiều xuất xứ
khác nhau. Ở những loài khác nhau và những xuất xứ khác
nhau thì khnăng sinh trưởng, khả năng chống chịu các tác
nhân gây hại như sâu bnh và chuột cũng rất khác nhau. Vì
thế, việc chọn loài cũng là mt nhân tố quan trọng trong công
việc trồng rừng.
Theo một số kết quả nghiên cứu và thực nghiệm đã được
công bố. Chọn các loài tràm có các xuất xứ như sau để trồng
rừng:
* Đối với loài tràm bản địa có tên khoa học là Melaleuca
cajuputi (còn gọi tràm ta) nên chọn một trong những xuất xứ
sau:
+ Xuất xứ Vĩnh Hưng, Mộc Hóa của tỉnh Long An
+ Xuất xứ Tịnh Biên của tỉnh An Giang
Nhìn chung, các xuất xứ vưà nêu trên của loài Tràm ta đều
sinh trưởng kém hơn các giống tràm nhập nội. Tuy nhiên, vì
có nguồn gốc bản địa nên cây tràm ta có kh năng chống chịu
các tác nhân gây hại đến cây tốt hơn.
* Đối với tràm nhập nội (còn gọi là tràm Úc), hiện 2
loại: Melaleuca leucadendraMelaleuca viridiflora và c2
loài này cũng có nhiều xuất xứ.
+ Tràm Melaleuca leucadendra có khả năng sinh trưởng rất
nhanh, đặc biệt là với các xuất xứ Bensbach và PNG. Tuy
nhiên, các ging tràm nhập nội này thường bị các tác nhân
gây hại tấn công như sâu ăn chồi, sâu đục thân và chuột p
hại.
+ Tràm Melaleuca viridiflora, có khnăng sinh trưởng tốt,
chỉ sau loài Melaleuca leucadendra. Do ít bị sâu cắn chồi và
ít bị chuột cắn phá hơn Melaleuca leucadendra, nên cũng có
thể xem loài này có triển vọng phát triển như là một cây
trồng rừng tốt.
Về thời gian khai thác tràm để làm c thì đối với tràm Úc
khong 5 6 năm, tràm ta thì t 7 10 năm (phụ thuộc vào
mức độ đầu tư).
II. Kỹ thuật trồng rừng tràm:
2.1/ Kỹ thuật xử lý thực bì và làm đất:
Thực bì có thể chia làm 2 loại:
+ Loại 1: thành phần thảm thực vật chủ yếu là cỏ năng, cỏ
ống, cỏ mồm, cỏ bàng. Những loài cỏ này thường mọc trên
đất thấp, có thời gian ngập nước dài.
+ Loại 2: Thành phần chủ yếu là đưng, cây mua, tràm gió,
dây chọi và mt số dây leo cây bụi khác. Chúng thuờng mọc
dày hoặc mọc từng đám và trên đất cao có thời gian ngập
nước ngắn.
Cách phân biệt loại thực bì như trên giúp ta quyết định khâu
làm đất: như đối với thực bì loại 1 thì có thể xử lý hoặc
không xứ lý, nhưng đối với thực bì loi 2 thì nên xử ly trước
khi làm đất. Về xử lý thực bì có 3 cách làm như sau:
Thủ công: phát dọn toàn diện cỏ dại và cây bụi, gom lại
thành đống và đốt. Tiến hành đốt vào lúc sáng sớm hoặc cuối
buổi chiều. Trước khi đốt cần phải làm ranh cản lửa và đốt từ
cuối hướng gió. Công việc phát dọn này nên tiến hành vào
đầu mùa khô, khoảng tháng 2 – 3.
Xử lý băng cơ giới: Có thể sử dụng máy kéo có bánh lồng
trục đất vào mùa nước rút khi mực nước ngập ngoài hiện
trường còn khong 0,4 0,6m để nhấn chìm thực bì trong
đất. Sau khi loi bỏ thực bì, các loại cỏ rác trôi nổi trên mt
nước cần phải được thu dn và gom lại để dọc bờ bao của
trồng rừng.
Kết hợp thủ công và cơ giới: Sau khi phát đốt thực bì, thì s
dụng máy cày để cày lt đất từ 1 – 2 lần vào tháng 4 – 5.
Làm đất: Có 2 cách làm đất, lên líp nhẹ hoặc không lên líp:
n líp nhẹ: tạo líp rộng 4 m, cao từ 0, 2m 0,3m, mương
rộng tối đa 1,3m, có thể lên líp bằng thủ công hoặc bằng cơ
giới tùy theo điều kiện sẵn có.