Lister (1827 – 1912): Người mở đường cho phẫu thuật vô khuẩn
Lister ra đời ngày 5 tháng 4 năm 1827 tại miền quê Essex, cách xa London
chừng hai mươi cây số về phía đông bắc, trong một gia đình khá giả. Ông bố,
Joseph Jackson Lister (1786 1869), vừa là chhãng buôn rượu vừa là người say
nghiên cứu quang học đã chế tạo nhiều thấu kính, dụng cụ quan sát. Điều
này đã ảnh hưởng và kích thích trí của cậu Lister, một chú nhút nhát,
trầm lặng. Năm 25 tuổi, Lister tốt nghiệp Đại học London và làm tr cho
William Sharpey (1802 1880), một giáo suốt gần 40 m phụ trách môn sinh
học. Chịu nh hưởng của thầy dạy nên anh đã những công trình nghiên cứu
vcác (giãn co) đồng tử, cơ dựng lông da. Trong thời gian học Y
khoa, anh dịp dự buổi phẫu thuật vô cảm của Robert Liston (1794 1847) thc
hiện lần đầu tiên tại London, điều này tác động mạnh đến Lister nên anh ngý
muốn trở thành phu thuật viên. Thầy Sharpey khuyên gii thiệu anh đến
Edinburgh theo học James Syme (1799 1870). giáo sư khoa ngoại lâm sàng
tại Đại học Edinburgh, Syme đã nhiều đóng góp về bệnh phồng mạch, về đoạn
khớp cổ chân, đặc biệt cuốn luận văn của ông “Về phương pháp cắt rạch các khớp
bệnh” đã giúp thêm nhiều hiểu biết để tránh khỏi việc đoạn chi người bệnh. Niềm
say kiên nhẫn học tập của chàng thanh niên Lister đã m giáo sư Syme chú ý
quý mến anh. m 29 tuổi, Lister thành hôn với Ines, con gái lớn của Syme,
sau này Ines không chngười bạn đời mà còn người giúp việc đắc lực cho
Lister trong những công việc phẫu thuật, nghiên cứu hằng ngày. Trong thời gian
làm việc tại Edinburgh, Lister công bố tài liệu nghiên cứu Về các giai đoạn đầu
tiên của viêm” trong đó ông nhấn mạnh đến hai hiện tượng:
1. Các động mạch đều giãn rộng dưới tác động của hệ thần kinh.
2. Những yếu tố gây bệnh làm tổn thương với hiện tượng kết dính hồng
cầu, bạch cầu vào vách mạch, vì vậy dòng máu ngưng chậm và dễ bị lấp tắt.
Thời đó, trong bệnh viện không mấy ai có ý thức đầy đủ về công việc phẫu
thuật: người bệnh đến mổ không cần được chuẩn bị sạch sẽ, nhiều khi không tắm
trước, họ nằm trên chiếc bàn gtrần trụi, phẫu thuật viên đứng bên cạnh, vẫn mặc
quần áo bình thường như lúc dạo chơi ngoài phố, riêng chiếc áo khoác thì được
cởi bỏ để tránh máu bắn bẩn, vài người cẩn thận thì mang thêm chiếc áo choàng cũ
còn đầy vết máu nâu đen. Nếu lỡ ý đánh i con dao, cái kéo xuống đất thì
người phụ cúi xuống nhặt rồi trao lại cho ông thầy mổ, hoặc cẩn thận mài sắc
con dao mổ trên một mảnh da bò giống hệt bác thợ cạo râu lành nghề. Tỷ lệ nhiễm
trùng sau mthường rất cao, vết thương nào cũng mủ, nhưng chẳng ai để tâm
đến chuyện đó, vốn từ xưa vn là chuyện thường ngày xảy ra. Tỷ lệ tử vong sau
mcũng không thấp, James Young Simpson (1811 1870) đã nhận xét “Bệnh
nhân lên bàn mổ có nhiều nguy chết hơn là binh lính ra chiến trận. :o
Tình trạng bệnh viện Glasgow cũng tương tự như vậy khi Joseph Lister, 33
tuổi, đến phụ trách khoa ngoại m sàng. Nhiu bệnh nhân sau mổ bị nhiễm trùng
nặng, chảng ai hiểu nguyên nhân vì sao, ng không biết phương cách nào để
phòng chống hiện trạng bi đát này. Lister đ m chú ý và nhận thấy các vết
thương gãy xương kín , mặc dù bị bầm giập nhiều nhưng vẫn dễ lành khỏi. Trái lại
những vết thương hở rách da thường dễ bị nhiễm trùng nng, khó chữa khỏi và
nguy hại cho tính mạng người bệnh. Vì sao thế nhỉ? Do vết thương có tiếp xúc với
không khí ư? yếu tố gây nhiễm trùng luôn tồn tại trong không k chăng?
Lister suy nghĩ nhưng chưa tìm được câu trả lời.
Năm 1865, trong một cuộc thảo luận về vấn đề nhiễm trùng với Thomas
Anderson, một giáo sư hóa học, Lister được giới thiệu cuốn sách nhan đề
“Nghiên cứu về hiện tượng thối rữa” của nhà hoá học người Pháp Louis Pasteur,
Lister thật ngạc nhiên và chú ý đến luận điểm của Pasteur cho rằng trong không
khí những mầm vi sinh vật, đây chính là nguyên nhân gây hiện tượng lên men lên
men thối rữa. Phải chăng nơi phòng mổ, không khí cũng chứa đầy những
mầm đó? Chúng bám vaò bàn mổ, dao mổ, quần áo thầy thuốc mổ khi lưỡi dao
rạch trên da bệnh nhân cũng chính là lúc các mầm vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể
người bệnh, có thật như vậy không? Lister suy nghĩ và ông quyết định phải loại bỏ
các mầm vi sinh vật đó, nhưng bằng ch nào nhỉ? Theo Pasteur, thể dùng
phương pháp đun sôi để sát trùng, nhưng tại bệnh viện thì thật khó áp dụng như
vậy.
Một buổi chiều, trong khi dạo chơi, Lister dừng lại trước một bể lớn chứa
nước cống của thành phố. Nước đục đen ngòm, trên bmặt phủ một chất nhầy đặc
quánh. Lister cất công tìm hỏi nhiều người, hi cả vị giáo sư hóa học và được biết
đó chất acid carbolic, được dùng để thanh khiết, sát trùng. Tháng 3 m 1865,
Lister quyết định thử nghiệm phương pháp sát trùng bằng acid carbolic cho một
trường hợp gãy xương đùi hở. Bệnh nhân là một người thợ gầy yếu, chắc khó sống
được nếu phải cắt đoạn chi và cũng không thoát chết do nhiễm trùng. Lister bôi
đắp acid carboxyluc và nắn vùng xương gãy nhưng bệnh nhân chết ngay vì
choáng: cuộc thnghiệm đầu tiên không đạt kết quả mong muốn. Hai tháng sau,
Lister lại thử nghiệm một lần nữa trên một bệnh nhi 11 tuổi, bị xe cán gãy chân,
xương lòi ngoài da. Ông nắn vùng xương gãy , dùng băng tẩm ướt vi acid
carbolic thường xuyên thay băng. Vào ngày thứ tư, vốn là thời điểm dễ có
nhiễm trùng vết thương, Lister nhnhàng cẩn thận mở ng: Ông ngạc nhiên khi
thấy không chút mủ nào, vết thương khô sạch. Kết quả tốt đẹp này khích l
Lister. Trong suốt 18 tháng liền sau đó, ông tiếp tục dùng phương pháp sát trùng
để điều trị thêm 11 bệnh nhân nữa, kết quả: 8 người khỏi hoàn toàn, 1 người bị
hoại thư rồi cũng khỏi, người phải cắt chi, chỉ có 1 người chết.
Tháng 3 m 1867, trên tLancet, nội san của giới khoa học Anh, Lister
thông báo: “Một phương pháp mới để điều trgãy xương biến chứngvới 12
trường hợp đều khỏi (trừ 2 bị chết ngay) trong đó 7 bị rách da nặng. Vài tháng
sau ông cho xuất bản chuyên đề “Về nguyên tc sát trùng trong phẫu thuật” để xác
nhận những điểm cơ bản của phương pháp mới là hủy diệt các mầm bệnh không
cho xâm nhập vào các vết thương hở bằng cách sát trùng.
Trong những m sau, nhiều thầy thuốc áp dụng phương pháp mới đó
nhưng rồi người ta nhận thấy acid carbolic là một chất độc và phải pha loãng ti
1/10 hoặc 1/20, trong phòng mổ đầy mùi ng hắc, còn người bệnh thì nước tiểu
đổi màu xanh lam, th rét run vì nhim độc. Lúc này, chính bản thân Lister
cũng chưa hiểu rõ quá trình nhim trùng, chưa hiểu acid carbolic chtác dụng
bảo vệ những vết thương sớm nhưng kém hiệu quả đối vi vết thương muộn. Thời
đó người ta cũng chưa biết rằng ngoài những vi trùng ái k(cần không khí để
phát triển) thường hiện diện tại vết thương hở, lại những vi trùng yếm khí
(không cần không khí) vẫn hoạt động nảy sinh trong vết thương kín. Vì vậy sự ph
biến phương pháp sát trùng nhiều khó khăn. Tại nước Anh, chỉ 2 bệnh viện
Liverpool Manchester những kết quả tốt nhờ cách sát trùng: trước kia thời
gian lành vết thương là 6 tháng nay giảm còn 6 tuần lễ, tỷ lệ tvong cũng hạ thấp:
chỉ 10 % các trường hợp cắt đoạn chi bị chết do nhiễm trùng.
Sau 9 m m việc tại Glaslow, Lister rời đến Đại học Edinburgh. Thời
gian Glaslow, ông đã phát hiện ra phương pháp sát trùng, nhđó phẫu thuật đã
những kết quả tốt đẹp. Lister tiếp tục nghiên cưú cải tiến phương pháp sát
trùng: ông đề ra cách băng vết thương với nhiều lớp gạc tẩm acid phenic,
các dụng cụ phẫu thuật đều được ngâm trong dung dịch sát trùng, thm chí ông
còn sáng chế một máy bơm phun những hạt nước dịch acid carbolic 2% thành một
màn sương mù trong phòng mổ. Tong những điều kiện sát trùng như vậy, Lister đã