intTypePromotion=1
ADSENSE

Lỗi NTLDR is missing và cách khắc phục- P4

Chia sẻ: Cong Thanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

115
lượt xem
12
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

fastdetect chỉ là một trong các tham số đi kèm, bạn không cần bận tâm đến chúng. Nếu có muốn tìm hiểu thêm, bạn có thể tham khảo thêm về chúng trong bài: "Boot INI Options Reference". Đối với Windows 9X thì không có các thiết đặt rắc rối đối với chúng như những dòng như vậy bởi vì chúng thì có cơ chế khởi động đơn giản hơn so với họ Windows NT. Mỗi dòng khởi động của chúng chỉ là: C:\="Microsoft Windows 9X" (Trong đó C là ký tự được gán cho phân vùng đầu tiên tính riêng...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lỗi NTLDR is missing và cách khắc phục- P4

  1. * /fastdetect chỉ là một trong các tham số đi kèm, bạn không cần bận tâm đến chúng. Nếu có muốn tìm hiểu thêm, bạn có thể tham khảo thêm về chúng trong bài: "Boot INI Options Reference". Đối với Windows 9X thì không có các thiết đặt rắc rối đối với chúng như những dòng như vậy bởi vì chúng thì có cơ chế khởi động đơn giản hơn so với họ Windows NT. Mỗi dòng khởi động của chúng chỉ là: C:\="Microsoft Windows 9X" (Trong đó C là ký tự được gán cho phân vùng đầu tiên tính riêng theo các phân vùng có định dạng FAT hoặc FAT32) Thứ tự trước sau đối với các dòng đại diện cho mỗi hệ điều hành được nêu trong phần này không quan trọng, bạn có thể thay đổi chúng để phù hợp đối với tình trạng khởi động của bạn (chẳng hạn những hệ điều hành nào thường xuyên được sử dụng thì xếp lên trên cùng, càng ít sử dụng bao nhiêu thì càng xếp nó xuống phía dưới). Còn nếu như bạn muốn thay đổi hệ điều hành mặc định
  2. của hệ thống thì chỉ việc viết dòng tương ứng với hệ điều hành đó ở đằng sau cụm: default= Nếu như bạn thấy khó khăn cho việc thực hiện soạn thảo một tập tin boot.ini để thay thế, bạn có thể thử dùng các nội dung của một tập tin boot.ini như sau để thử khởi động máy tính cho những lần khác nhau. Đây là một ý tưởng rất hay khi mà tôi gặp ở một diễn đàn trong quá trình tìm kiếm thông tin minh hoạ và bổ sung cho bài viết này. Bản chất của nội dung này là liệt kê các trường hợp có thể đối với các phân vùng khác nhau (có đến 4 phân vùng được liệt kê) và hai ổ cứng độc lập khác nhau. [Boot Loader] timeout=30 Default=multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(1)\Windows [Operating Systems] multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(1)\Windows="1. Thu
  3. khoi dong lan thu nhat" /fastdetect multi(0)disk(0)rdisk(1)partition(1)\Windows="2. Thu khoi dong lan thu hai" /fastdetect multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(2)\Windows="3. Thu khoi dong lan thu ba" /fastdetect multi(0)disk(0)rdisk(1)partition(2)\Windows="4. Thu khoi dong lan thu bon" /fastdetect multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(3)\Windows="5. Thu khoi dong lan thu nam" /fastdetect multi(0)disk(0)rdisk(1)partition(3)\Windows="6. Thu khoi dong lan thu sau" /fastdetect multi(0)disk(0)rdisk(0)partition(4)\Windows="7. Thu khoi dong lan thu bay" /fastdetect multi(0)disk(0)rdisk(1)partition(4)\Windows="8. Thu khoi dong lan thu tam" /fastdetect C:\="9. Thu khoi dong lan thu chin" D:\="10. Thu khoi dong lan thu muoi. Neu khong duoc thi moi tho ve sua nhe!"
  4. Với nội dung của tập tin boot.ini như trên mà hệ thống khởi động được đối với lựa chọn nào thì bạn chỉ việc xoá các dòng có lựa chọn khác không có nghĩa và thay đổi dòng "Thu khoi dong.." thành tên của hệ điều hành đó (Windows 98, Windows XP...) hoặc theo ý của bạn là xong. Cách soạn thảo tập tin boot.ini Ở trên thì bạn đã hiểu được nội dung và ý nghĩa của tập tin, hoặc là nếu bạn không hiểu gì về nó thì cũng có thể có giải pháp dành cho bạn. Vấn đề còn lại là làm như thế nào để soạn thảo chúng? Nếu như bạn đang ở trong hệ điều hành Windows, và đọc được bài viết này bạn muốn thay đổi một chút thì không mấy khó khăn. Bạn có thể xem bài "How to edit the Boot.ini file in Windows XP" ở mục xem thêm (bằng tiếng Anh, nhưng chúng rất dễ hiểu thôi). Nếu như không đọc ở đó thì bạn chỉ việc thực hiện đơn giản theo vài bước như thế này để sửa đổi boot.ini trên trình soạn thảo Notepad của Windows (sau khi bạn chuột phải vào
  5. biểu tượng My Computer ở màn hình Desktop rồi chọn Properties, rồi sau đó bấm vào các tab và nút được đánh số lần lượt 1, 2, 3 theo như hướng dẫn ở ảnh minh hoạ. khắc phục lỗi ntldr is missing Còn nếu như bạn đang bị mất tập tin này và đang ở trong DOS và sử dụng Volkov Commander trong đĩa Hiren's Boot CD? Cách đơn giản và nhanh nhất có lẽ là bạn nên tìm một tập tin cũng có định dạng INI nào đó ở
  6. trong thư mục Windows (hoặc ở đâu đó, chúng rất nhiều), copy ra phân vùng chứa cùng với các tập tin NTLDR rồi mở tập tin này ra (với phím F4), xoá toàn bộ nội dung đi, gõ các nội dung ở trên vào rồi đổi tên chúng thành boot.ini (với phím F6). Nếu như bạn khởi động với một đĩa Live CD của một hệ điều hành nào đó như Windows hoặc các bản phân phối của Linux thì chắc rằng cũng có nhiều phần soạn thảo text để tạo ra một tập tin có tên boot.ini cùng với những nội dung như vậy. Nhưng những cách này đều phức tạp, bạn nên thực hiện việc sao các tập tin boot.ini cùng với hai tập tin quan trọng nói ở trên đến một thư mục nào đó như phần "Phòng ngừa" viết dưới đây. PHÒNG NGỪA
  7. Phòng ngừa là một biện pháp tốt hơn là khắc phục bởi vì chúng ta chủ động biết trước và kiểm soát được lỗi này nếu như vô tình gặp phải, hoặc là còn có thể giúp đỡ người khác sửa chữa lỗi này được. Do Vì các thuộc tính của tập tin không có biện pháp NTLDR nên theo mặc định thì hạn chế triệt để nên chúng không hiển thị ở trên chúng ta không thể Explorer, còn Total phòng ngừa theo cách Commander thì có thể biết được ngăn chặn lỗi xảy ra, chúng và thay đổi các thuộc mà chỉ có thể lưu lại tính này một cách dễ dàng (bạn các tập tin để rồi từ đó không nên thay đổi chúng) có thể dễ dàng phục hồi lại chúng sau khi xảy ra lỗi.
  8. Cách thức phòng ngà là chúng ta sao lưu ba tập tin boot.ini, NTDETECT.COM, ntldr đến một thư mục nào đó (khác phân vùng so với phân vùng mồi khởi động của các hệ điều hành để tránh xảy ra lỗi đối với chính các tập tinh dự phòng này bởi phân vùng cài đặt hệ điều hành thường có mức độ rủi ro cao hơn so với các phân vùng khác. Tôi đề cử bạn lựa chọn phân vùng được gán ký tự thứ hai sau phân vùng cài đặt hệ điều hành. Cụ thể nếu máy tính của bạn chỉ có một phân vùng thì nên đặt trong một thư mục nào đó, nếu có hai phân vùng trở lên mà thì đặt chúng ở các phân vùng của ổ cứng có ký tự được gán sau cùng. Những tập tin này có thuộc tính [Ẩn] (Hidden), [Hệ thống] (System) nên bạn cần lưu ý tránh nhầm tưởng rằng chưa lưu được (bởi vì chúng không hiển thị ở chế độ bình thường ở Explorer). Nếu như bạn sử dụng phần mềm Total Commander thì thao tác đối với tập tin và thư mục sẽ thuận tiện hơn nhiều (xem giao diện của Total Commander như hình minh hoạ ở phía trên).
  9. Tuy rằng biện pháp phòng ngừa này có thể không có tác dụng triệt để vấn đề hư hỏng hoặc bị xoá các tập tin quan trọng viết ở trên, chúng chỉ giúp bạn sửa chữa một cách thuận tiện hơn mà thôi. Chúng thì hữu ích cho các trường hợp mà bạn không thể tìm thấy thư mục chứa bộ cài đặt Windows hoặc không tìm thấy đĩa Windows mà thôi. Tôi nghĩ rằng sự phòng ngừa tốt nhất là bạn đã hiểu ra tầm quan trọng của hai tập tin này nhằm tránh xoá chúng đi. HÌNH NHƯ ... CHẲNG CÓ ÍCH GÌ VỚI BÀI NÀY? Hình như là tôi chẳng thấy ích lợi nào từ bài này đối với bạn - khi mà bạn không bao giờ bị lỗi như vậy, hoặc bạn không có ý định tự sửa chữa các lỗi của máy tính của mình bởi vì đã có nhân viên phụ trách sửa chữa máy tính, hoặc có những người bạn thông thạo sẵn sàng giúp đỡ khi sự cố xảy ra. Có lẽ thế chăng? Nhưng tôi nghĩ là không, bạn có thể nhận ra nhiều điều thú vị: Có thể sử dụng các đĩa Live CD để copy một tập tin quan trọng từ máy tính mà không cần biết mật khẩu
  10. của máy tính đó? Điều này đã xảy ra đối với tôi khi mà một đồng nghiệp nghỉ việc do lý do riêng, mà chúng tôi lại cần một số tập tin được lưu lại trên máy tính của người đó. Tôi đã dùng đĩa Ubuntu để khởi động và copy vào một USB flash (Ubuntu hoặc đĩa Live CD chứa hệ điều hành Windows XP nhận dạng khá tốt với USB flash) mà không phải hỏi mật khẩu nhạy cảm của đồng nghiệp đó (nếu thực hiện điều này thì bạn nên hỏi về quyền truy cập vào máy tính hoặc thông báo lại khi chủ nhân máy tính đó có mặt nhé) . Một trường hợp khác là khi cần phải ghi đè, xoá, thao tác với các tập tin hệ thống mà chính hệ điều hành không cho phép, bạn cũng có thể sử dụng đĩa Live CD hoặc Hiren Boot CD để thao tác mà không cần tìm kiếm một phần mềm (có các phần mềm như vậy) cho phép thực hiện điều này
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2