Luận văn
Hoàn thiện tổ chức kế toán
tại Xí nghiệp Dược phẩm 120
lấy tổ chức kế toán vật liệu
làm ví d
LỜI MỞ ĐẦU
phân hthông tin trong hệ thống quản lý, tổ chức kế toán vai trò cung
cấp những thông tin hữu ích về tình hình tài chính của đơn vhạch toán thông qua
hthống ghi chép, tổng hợp trên chứng từ, sổ tài khoản và biểu mẫu báo o nhằm
phục vụ đắc lực cho công tác quản lý.
Trên sở tìm hiểu tổ chức kế toán trong thực tế hoạt động của nghiệp
Dược phẩm 120, em đã chọn đề tài cho Chuyên đthực tập môn học hạch toán kế
toán của mình là: "Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Xí nghiệp Dược phẩm 120 lấy tổ
chức kế toán vật liệu làm d", đồng thời thông qua tả thực tế kết hợp phân
tích để đề xuất ý kiến góp phần hoàn thiện tổ chức kế toán của đơn vị.
Với mục đích kết hợp luận và thực tiễn, củng cvà vận dụng kiến thức đã
học, đưa ra những phân tích cthể và kiến nghị cho đơn vị, bài viết của em, ngoài
Lời mở đầu và Kết luận, gồm 3 phần chính:
Phần I: Lý luận chung tổ chức kế toán trong doanh nghiệp.
Phần II: Thực trạng tổ chức kế toán tại Xí nghiệp Dược phẩm 120.
Phần III: Phương hướng hoàn thiện tchức kế toán tại nghiệp Dược phẩm
120.
Với yêu cầu nghiên cứu thực tế trong phạm vi môn học hạch toán kế toán, em
đã sdụng kết hợp các phương pháp chung: phương pháp nghiên cứu quan hệ biện
chứng giữa kế toán với bộ phận quản và giữa c phần hành kế toán với nhau...và
các một số phương pháp riêng như: mô tvà phân tích, sơ đồ và bảng biểu...để minh
hoạ và hoàn thiện Chuyên đề thực tập của mình.
PHẦN I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN
TRONG DOANH NGHIỆP
Hthống kế toán được xem như một hệ thống thông tin dùng đđo lường,
xử lý và truyền đạt thông tin về tài chính của một đơn vị kinh tế.
Sơ đồ 1: Quan hkế toán với hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý.
HỆ THỐNG KẾ TOÁN DOANH
NGHIỆP
- Quan sát
- Phản ánh
- Xử lý
- Phân loại
- Tổng hợp
- Trình bày
Kế toán được coi như một hoạt động dịch vụ, nối giữa c hoạt động kinh
doanh những người m quyết định. Thnhất, kế toán đo lường các hoạt động
kinh doanh bằng cách phản ánh, ghi chép các dữ liệu. Thhai, qua xphân loại
sắp xếp các dữ liệu này tr thành thông tin hữu ích. Thba, thông tin này được
tổng hợp, truyền đạt, qua hệ thống chứng từ sổ sách, đến những người ra quyết định.
Người ta thể nói rằng, các dữ kiện về hoạt động kinh doanh là đầu vào của hệ
thống kế toán và nhng thông tin hữu ích cho người làm quyết định là đầu ra đã
được hệ thống kế toán xử lý và cung cấp.
Trong vài m trlại đây, xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra rất
mạnh mẽ và càng mạnh mẽ sâu rộngn trong Thế kỷ 21 này. Hội nhập với quốc tế
trên nền tảng c quan hệ song phương đa phương đang yêu cầu xu hướng
tất yếu của mỗi quốc gia. Trước xu thế đó, hthống kế toán Việt Nam cũng đang
từng bước được cải cách và hoàn thiện cho phù hợp yêu cầu của cơ chế kinh tế mới
trong nền kinh tế mở, phù hợp thông lệ và Chuẩn mực quốc tế.
Trải qua 6 năm thực hiện Chương trình cải cách Kế toán Việt Nam 10 m
1995-2005, h thống kế toán Việt Nam đã sphát triển đáng khích lệ trong việc
tiếp cận và hình thành những nguyên tắc kế toán hiện đại của kinh tế thị trường,
từng bước tạo dựng khuôn khổ pháp cho kế toán, kiểm toán trong môi trường
chung của thông lệ quốc tế. Hệ thống Chuẩn mực Kế toán quốc gia đã bắt đầu được
tạo lập, tạo môi trường tin cậy cho đầu tư kinh doanh trên sở chia sẻ kinh
nghiệm với bạn bè quốc tế, vận dụng có chọn lọc thông lệ và Chuẩn mực quốc tế về
kế toán và kiểm toán, phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế, với năng lực quản
tài chính ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trường, đứng trước nhu cầu cạnh tranh và xu
thế hội nhập, các doanh nghiệp ngày càng đề cao vai trò của kế toán trong việc cung
cấp những thông tin phục vụ nhu cầu quản lý bên trong doanh nghiệp bởi họ chẳng
những cần số liệu chi tiết của kế toán như trước đây hơn thế, họ rất cần kế toán
bằng ngôn ngữ của mình, th hiện một cách chính xác các mục tiêu của doanh
nghiệp thông qua các bản dự toán, giúp họ kiểm soát quá trình thực hiện mục tiêu
khi ra quyết định về quản lý. Chính vì vậy, bên cạnh kế toán tài chính, kế toán quản
trra đời với cách nhánh thứ hai trong hthống kế toán nhằm cung cấp tất cả
thông tin kế toán đã được đo lường, xử và truyền đạt để sử dụng trong việc quản
trị nội bộ của đơn vị.
HO
T
ĐỘNG
KINH
DOANH
CA
DOANH
NGHIP
RA
QUYT
ĐỊNH
QUN LÝ
Hiện nay, trên thế giới, kế toán quản trị đang thực sự trở thành một công cụ
đắc lực và hiệu quả giúp các nhà quản trong việc ra quyết định về quản lý.
Việt Nam, tuy Chế độ Kế toán ban hành theo Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT
ngày 1/11/1995 của Bộ Tài chính vbản khắc phục được hạn chế của hệ thống
Kế toán Việt Nam trước đó nhưng còn chưa đề cập sâu đến kế toán quản trị,n nữa
hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam vẫn đang được từng bước soạn thảo và công
bố, do vậy đòi hỏi nhận thức đầy đủ, hướng dẫn cụ thể về kế toán quản trị Việt
Nam đang một nhu cầu hết sức bức thiết góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ
thống kế toán Việt Nam.
Kế toán còn được hiểu là một nghcủa quản hay một môn Hạch toán tác
nghiệp với các bước kỹ thuật chuyên sâu trong quá trình t ghi chép, xử lý phân tích
các nghiệp vụ kinh tế trên chứng từ, sổ tài khoản đến lập báo cáo kế toán và khoá sổ.
Sthống nhất giữa các bước này cũng như quan hgiữa chúng được thể hiện thông
qua nguyên lý chung về tổ chức hạch toán kế toán.
Tchức hạch toán kế toán là xây dựng mối liên hgiữa các yếu tcấu thành
bản chất của hạch toán kế toán: chứng từ, tính giá, đối ứng kế toán và tổng hợp-cân
đối thông qua t chức hệ thống ghi chép của kế toán trên chứng từ, sổ tài khoản và
báo cáo kế toán cho các mục đích quản lý.
Trên sở đối tượng và nhiệm vụ của tổ chức hạch toán kế toán, nội dung tổ
chức hạch toán kế toán bao gồm:
Tổ chức bộ sổ kế toán
Tổ chức công tác kế toán
Tổ chức bộ máy kế toán
Mỗi một tổ chức trên đều chứa đựng 4 yếu tố cơ bản của hệ thống hạch toán kế
toán: chứng từ, tính giá, đối ứng kế toán, tổng hợp-cân đối đều là những công
việc không thể tách rời trong tổ chức hạch toán kế toán. Bởi vậy, tổ chức sổ kế toán
một trong những điều kiện để tổ chức tốt công tác kế toán, tổ chức khối lượng
công tác kế toán là sở để xây dựng bộ máy kế toán thích hợp nhằm tổ chức công
tác kế toán hiệu quả, phục vụ yêu cầu quản lý tại đơn vị.
Tổ chức hệ thống sổ kế toán thực chất là thiết kế khối lượng công tác hạch toán
trên hthống sổ tài khoản theo một quy tắc nhất định trên cơ schứng tkế toán
nhằm mục đích lập báo cáo kế toán. Sổ tài khoản chính là phương tiện vật chất để
thực hiện công tác kế toán.
Nội dung tổ chức sổ kế toán:
Xây dựng hệ thống các loại sổ với nhiệm vụ xác định loại sổ và slượng sổ
mỗi loại.
Thiết kế nội dung, hình thức kết cấu của các sổ tài khoản mỗi loại.
Xây dựng quy trình hạch toán trên stạo thành nguyên tắc kế toán chung.
Xây dựng hình ghi chép của cả hệ thống shay còn gọi là hình thức tổ
chức sổ kế toán.
Hiện nay, hình thức tổ chức sổ kế toán đang dần được phát triển và hoàn thiện
theo yêu cầu của công tác quản và công tác kế toán trong nền kinh tế cạnh tranh.
Trong thực tế, nhiều nước trên thế giới đang xu hướng sdùng duy nhất 1 hình
thức tổ chức sổ cho các doanh nghiệp. Khác với Mỹ chủ yếu áp dụng 1 hình thức sổ
Nhật ký chung, ở Việt Nam hiện có 4 hình thức phổ biến:
Hình thức Nhật ký chung
Hình thức Nhật ký - Sổ cái
Hình thức Chứng từ - Ghi s
Hình thức Nhật ký - Chứng từ
Hình thức Nhật -Sổ cái rất ít được áp dụng do tính chất cồng kềnh, mở rộng
chiều ngang của sổ, n nữa sổ chỉ thích hợp cho đơn vị kinh doanh đơn giản, s
dụng rất ít tài khoản và lao động kế toán, trình độ quản lý và lao động kế toán thấp.
Hthống sổ sách kế toán phải được thiết kế thích hợp với hệ thống tài khoản
bởi sổ sách kế toán chính là phương tiện vật chất phản ánh, thể hiện tài khoản cùng
nội dung phản ánh của tài khoản. Sổ sách kế toán phù hợp với tài khoản thì mới
phản ánh (bằng phương pháp đối ứng tài khoản) được nội dung kinh tế của các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh đã được phân loại, tập hợp.
Dựa vào đặc điểm vốn và quy nghiệp v của mình, đơn vị hạch toán t
chức hệ thống sổ sách theo một hình thức sổ kế toán thống nhất và thích hợp, tổ
chức công tác kế toán theo hình thức sổ đã áp dụng.
Khối lượng tổ chức công tác hạch toán kế toán của một đơn vị hạch toán được
quy định trong Điều lệ tổ chức Kế toán Nhà nước ban hành theo Quyết định 25-
HĐBT ngày 18/3/1989.
Khối lượng công tác kế toán trước hết được nhìn nhận theo từng giai đoạn của
quá trình hạch toán: giai đoạn hạch toán ban đầu trên hthống chứng từ; giai đoạn
hệ thống hoá, phân loại cho các chứng từ trên bộ sổ kế toán đã thiết kế; giai đoạn x
chọn lọc để lập các báo cáo kế toán. Bên cạnh đó, tuỳ theo yêu cầu của quản
lý, khối lượng công tác kế toán còn bao gm khối lượng hạch toán tổng hợp cho đối
tượng và hạch toán chi tiết cho một sđối tượng. Ngoài ra, khối lượng công tác kế
toán còn được tổ chức trên hai hthống kế toán tài chính và kế toán quản trị đáp ứng
nhu cầu cung cấp thông tin phục vụ chủ thể không những bên ngoài mà cbên trong
nội bộ đơn vị.
Công tác kế toán phổ biến được tổ chức theo những phần việc riêng gọi là
phần hành kế toán. Phần hành kế toán là khi lượng công tác kế toán gắn với một
đối tượng cụ thể của hạch toán kế toán như: vốn bằng tiền, tài sản cố định, vật liệu
đầu vào, chi phí sản xuất và tính giá thành, tiêu thvà kết quả tiêu thụ... Từ đó, mỗi
phần hành lại được phân chia logic từ tiền tại quỹ đến tiền gửi ngân hàng tiền
đang chuyển; từ xây dựng cơ bản đến mua sắm và thanh hay nhượng bán tài sản
cđịnh; tthu mua đến dự trữ nguyên vật liệu; từ hạch toán chi phí trực tiếp cho
từng loại hoạt động đến chi phí chung phân bổ cho từng loại hoạt động đó; từ dự trữ
đến tiêu thụ hàng hoá, xác định và phân phối lợi nhuận;...
Trong mỗi phần nh này, đơn vị hạch toán tiến hành t chức khép kín một
quy trình kế toán từ giai đoạn hạch toán ban đầu đến đến giai đoạn ghi sổ tài khoản
kết thúc giai đoạn lập báo cáo kế toán. Và trong đó, thể tiến hành hạch toán
chi tiết, tổng hợp cho đối tượng trong phần hành. Do vậy, tổ chức công tác kế toán
y dng hệ thống chỉ tiêu thông tin theo các phần hành thông qua việc thiết kế
khối lượng công tác kế toán theo 3 giai đoạn, theo mức độ chi tiết hay tổng hợp,