
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------
VŨ THỤY TRANG
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI VỚI KHU VỰC ĐÔNG Á
(GIAI ĐOẠN TỪ 1991 ĐẾN NAY)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội – 2007

1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
1. Tính cấp thiết của đề tài
3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
5
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
8
4. Phương pháp nghiên cứu và đóng góp của luận văn
9
5. Kết cấu luận văn
9
Chương 1: Cơ sở hình thành chính sách đối ngoại của của Liên bang
Nga đối với khu vực Đông Á từ năm 1991 đến nay
10
1.1. Bối cảnh quốc tế
12
1.2. Bối cảnh khu vực
16
1.3. Bối cảnh trong nước
20
1.4. Sự chuyển hướng trong chính sách đối ngoại từ “định hướng Đại
Tây Dương” đến “định hướng Âu - Á”
26
Chương 2: Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga đối với khu vực
Đông Á từ năm 1991 đến nay
31
2.1. Chính sách đối ngoại của Nga đối với Trung Quốc
31
2.2. Chính sách đối ngoại của Nga đối với Nhật Bản
41
2.3. Chính sách đối ngoại của Nga đối với Bán đảo Triều Tiên
51
2.4. Chính sách đối ngoại của Nga đối với ASEAN
58
2.5. Quan điểm của Nga về một số vấn đề của khu vực
65
2.5.1 Quan điểm của Nga về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều
Tiên
65
2.5.2. Quan điểm của Nga về xây dựng Cộng đồng Đông Á
69
2.5.3. Quan điểm của Nga về vấn đề biển Đông
71

2
Chương 3: Đánh giá kết quả thực hiện chính sách đối ngoại của Liên
bang Nga đối với khu vực Đông Á
74
3.1. Kết quả thực hiện
74
3.1.1. Thành tựu
74
3.1.2. Hạn chế
79
3.2. Tác động của chính sách Đông Á của Nga đối với một số nước
83
3.3. Triển vọng hợp tác của Nga ở Đông Á
86
3.4. Vị thế của Việt Nam trong chính sách Đông Á của Nga
89
KẾT LUẬN
95
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XX đi qua đánh dấu nhiều sự kiện trọng đại trong quan hệ quốc tế,
một trong những sự kiện đó là sự ra đời và tan rã của Liên bang Cộng hoà Xã hội
Chủ nghĩa Xô Viết (gọi tắt là Liên Xô). Liên Xô tan rã tác động không nhỏ đến
sự thay đổi tương quan lực lượng trên thế giới, đồng thời tạo nên những chuyển
biến nhanh chóng trong đời sống quan hệ quốc tế của các nước cũng như các khu
vực trên phạm vi toàn cầu. Trật tự thế giới hai cực đối đầu tồn tại gần nửa thế kỷ
kết thúc, cục diện thế giới và cấu trúc quyền lực quốc tế đang được sắp xếp lại.
Quan hệ giữa các quốc gia dân tộc không còn bị chi phối nặng nề bởi ý thức hệ,
thay vào đó là lợi ích dân tộc được đặt lên hàng đầu trong quan hệ quốc tế. So
sánh lực lượng trên bình diện toàn cầu từ chỗ cân bằng giữa hai hệ thống chính
trị – xã hội đối lập nay chuyển sang hướng có lợi cho Mỹ và phương Tây.
Trong bối cảnh nhiều biến động ấy, Đông Á hiện hữu trên bàn cờ chính
trị quốc tế với nhiều bình diện và khía cạnh khác nhau. Cho đến nay đã có rất
nhiều ý kiến về cách xác định khuôn khổ Đông Á xét từ các tiêu chí khu vực địa
– văn hoá, địa – lịch sử – văn hoá. Đó là, có thể coi Đông Á bao gồm Đông Bắc
Á và Đông Nam Á, hoặc coi Đông Á chính là Đông Nam Á. Ngoài ra còn cách
gọi Đông Á bao gồm cả Nam Á nhưng không phổ biến [32, tr.31]. Đông Á, theo
cách hiểu khác là vùng bờ phía Tây của Thái Bình Dương, trải dài từ vùng
Trucốtca của Nga ở phía Bắc tới Singapore ở phía Nam [63, tr.208]. Tuy nhiên,
Đông Á trong bài luận văn này được nhận thức như một khu vực địa – chính trị
bao gồm Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.
Là khu vực rộng lớn, giàu có về tài nguyên thiên nhiên, bao gồm các nước
có nền kinh tế phát triển năng động nhất hiện nay như Trung Quốc, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), lại chiếm giữ một vị
trí địa – chính trị, địa - kinh tế chiến lược, Đông Á đang ngày càng trở thành một

4
trong những khu vực có tầm ảnh hưởng trên bản đồ chính trị thế giới đương đại.
Cùng với Bắc Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Đông Á đã phát triển nhanh thành
một trong ba trụ cột kinh tế thế giới. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, Đông
Á là một khu vực kinh tế năng động nhất trên thế giới trong suốt ba thập kỷ qua.
Trong giai đoạn 1980-2003, GDP của khu vực Đông Á đạt tốc độ tăng trung
bình 7%/năm, cao hơn hẳn tốc độ trung bình của các khu vực khác trong nền
kinh tế thế giới [32, tr.44].
Qua đây, chúng ta có thể thấy được vị trí và vai trò không thể thiếu của
Đông Á trong quan hệ quốc tế nói chung, cũng như trong việc hoạch định chính
sách đối ngoại của các quốc gia nói riêng. Khi chiến tranh lạnh kết thúc, các
cường quốc có lợi ích nhiều mặt ở Đông Á đều khẩn trương điều chỉnh chính
sách để bước vào cuộc cạnh tranh xác lập vị thế mới có lợi hơn trong khu vực.
Bước lên vũ đài quốc tế với tư cách là một quốc gia độc lập, được thừa kế
các mối quan hệ của Liên Xô trước đây, nên Liên bang Nga có đầy đủ cơ sở và
điều kiện khách quan để củng cố ảnh hưởng của mình với Đông Á. Tuy vậy,
những khó khăn trong nước và chính sách đối ngoại hướng về phương Tây ở giai
đoạn đầu đã làm cho vị thế cường quốc của Nga bị giảm sút đáng kể trên thế giới
nói chung và Đông Á nói riêng. Chính điều này đã thức tỉnh bản sắc Á - Âu cùng
với tâm thức nước lớn của Liên bang Nga, buộc nước Nga phải có những điều
chỉnh thích hợp trong chính sách đối ngoại nhằm từng bước nâng cao vai trò
cũng như tiếng nói trong khu vực Đông Á.
Trong bối cảnh đó, tiến hành nghiên cứu “chính sách đối ngoại của Liên
bang Nga đối với Đông Á từ năm 1991 đến nay” là việc làm cần thiết, có ý nghĩa
quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn đối với Việt Nam. Trước tiên, nó sẽ góp
phần nhận thức đúng đắn những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Liên
bang Nga qua các thời kỳ với các nước thuộc khu vực Đông Á cũng như quan
điểm của Nga về các vấn đề chung của khu vực như vấn đề hạt nhân trên bán đảo

