VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ----------
LƯƠNG THÁI ANH
ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, năm 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------
LƯƠNG THÁI ANH
ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN ĐỨC MINH
Hà Nội, năm 2021
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp hỗ trợ được hiểu khác nhau giữa các nước, tùy thuộc vào mức
độ ưu tiên trong chiến lược phát triển của từng quốc gia. Đối với Việt Nam, có thể
hiểu CNHT là ngành CN sản xuất linh kiện, phụ tùng, sản phẩm trung gian… đóng
vai trò là đầu vào và lắp ráp chúng để trở thành sản phẩm cuối cùng. Lĩnh vực
CNHT có những đặc trưng riêng và có vai trò quan trọng trong quá trình CNH-
HĐH đất nước [14]. Theo báo cáo do Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
các vị đại biểu Quốc hội về thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về giám sát
chuyên đề và chất vấn trong nhiệm kỳ khóa XIV và một số Nghị quyết trong nhiệm
kỳ khóa XIII lĩnh vực công thương chỉ ra: CNHT là ngành CN nền tảng, đóng vai
trò rất quan trọng quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng
suất và kỹ năng lao động, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cho sản phẩm và chất
lượng nền kinh tế Việt Nam.
Để phát triển CNHT, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản tạo hành lang
pháp lý thuận lợi như Nghị định số 111/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển
CNHT, Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 18/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Chương trình phát triển CNHT từ năm 2016 đến năm 2025… và
cách đây không lâu, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 115/NQ-CP
ngày 06/8/2020 về các giải pháp thúc đẩy phát triển CNHT với nhiều chính sách
mới. Nhiều DN kỳ vọng đây là cú hích lớn để phát triển lĩnh vực CNHT và CN chế
biến, chế tạo Việt Nam.
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, sự phát triển hiện nay của
ngành CNHT Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng. Cụ thể, sản phẩm CNHT
sản xuất trong nước chưa phong phú về chủng loại, kiểu dáng và mẫu mã, chất
lượng sản phẩm còn thấp, giá thành cao. Mặt khác, quy mô và năng lực cạnh tranh
của các DN CNHT còn yếu, chưa đủ lực để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng,
sản xuất toàn cầu; trình độ công nghệ còn khoảng cách so với các nước cùng khu
vực. Ðiều này khiến tỷ lệ nội địa hóa các ngành CN còn ở mức thấp; nhiều ngành
CN có thế mạnh như điện tử, dệt may, da giày, ô-tô, xe máy… vẫn phụ thuộc nhiều
1
vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu, khiến sản xuất bị động, chi phí cao [36].
Theo đánh giá của ông Trương Thanh Hoài, Cục trưởng Cục CN (Bộ Công thương),
tình trạng nhập siêu các yếu tố đầu vào cho sản xuất từ Trung Quốc và các quốc gia
khác là tình trạng kéo dài từ rất nhiều năm trở lại đây, khiến giá trị gia tăng của các
ngành CN nội địa rất thấp, dễ bị tổn thương trước những biến động về chính trị -
kinh tế - xã hội trong và ngoài nước [37]. Đặc biệt, năm 2020 với tác động nặng nề
từ đại dịch toàn cầu Covid-19, những hạn chế trên được bộc lộ rõ nét hơn bao giờ
hết. Khi mà nội lực của các ngành sản xuất hạn chế, còn phụ thuộc nhiều vào các
chuỗi cung ứng nước ngoài; không tự chủ được về các yếu tố đầu vào của sản xuất,
phụ thuộc phần lớn vào linh phụ kiện, nguyên vật liệu nhập khẩu đã dẫn đến tình
trạng tê liệt sản xuất, khiến hàng loạt DN lao đao và có nguy cơ phá sản.
Để khắc phục tình trạng trên, thiết nghĩ chúng ta cần phải nhìn nhận lại toàn
diện các chính sách đã và đang áp dụng đối với ngành CNHT, từ đó tìm ra hướng đi
đúng đắn trong giai đoạn sắp tới. Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy trong một số
trường hợp và trong một giai đoạn phát triển kinh tế, chính sách ưu đãi thuế có thể
góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua khuyến khích đầu tư và nâng cao
năng lực cạnh tranh của một số ngành CN ưu tiên [15, tr.6]. Điển hình là các quy
định liên quan đến ưu đãi thuế TNDN bởi lẽ thuế TNDN là một nhân tố vô cùng
quan trọng ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển của CNHT và trong thực tế triển
khai, các chính sách pháp luật liên quan đến ưu đãi thuế TNDN đối với các DN sản
xuất sản phẩm CNHT còn xuất hiện nhiều hạn chế như quy định về ưu đãi chuyển
tiếp, khó khăn trong việc xác định đối tượng hưởng ưu đãi, công tác quản lý thuế…
Từ những phân tích trên, tác giả nhận thấy vai trò vô cùng quan trọng của
CNHT đối với mục tiêu CNH-HĐH đất nước mà Đảng và Nhà nước ta nhắm đến và
ưu đãi thuế TNDN là một trong những bước đà có ý nghĩa to lớn nhằm thúc đẩy
việc phát triển mạnh mẽ ngành CNHT. Mong muốn nghiên cứu một cách đầy đủ, có
hệ thống ưu đãi thuế TNDN theo pháp luật đầu tư trong lĩnh vực CNHT ở Việt Nam
hiện nay, tác giả chọn đề tài “Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật đầu
tư trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu.
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ
❖ Định nghĩa về công nghiệp hỗ trợ
Ratana Eiamkanitchat (1999), The role of small and medium supporting
industries in Japan and Thailand [24]. Theo đó, CNHT là các DN sản xuất linh
kiện, phụ tùng được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp cuối cùng của các ngành
CN, cụ thể là CN ô tô, máy móc, điện tử.
Ryuichiro Inoue (1998), Future prospects of Supporting Industries in
Thailand and Malaysia [28] thì xác định theo nghĩa rộng, CNHT sản xuất nhiều bộ
phận, phụ kiện và cả các nguyên vật liệu cơ bản. Theo nghĩa hẹp, có thể coi CNHT
là quá trình biến đổi của vật liệu, bao gồm khuôn và dập, đúc, rèn, mạ, hàn, gia
công, xử lý nhiệt và chế biến nhựa, theo tác giả, đây là nhóm quan trọng, cần phải
chú ý hơn trong quá trình nghiên cứu.
Nguyen Thi Xuan Thuy (2006), “Supporting Industries: A Review of
Concepts and Development” [35] đã nêu ra định nghĩa về CNHT ở Việt Nam là một
nhóm các hoạt động CN cung cấp đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và
công cụ để sản xuất ra các linh kiện phụ tùng này) cho ngành CN lắp ráp và chế
biến.
Trương Thị Chí Bình (2010), “Phát triển CNHT trong ngành điện tử gia
dụng ở Việt Nam” [2] cho rằng CNHT là toàn bộ việc tạo ra những linh phụ kiện
tham gia vào việc hình thành các sản phẩm hoàn thiện cho người tiêu dùng. Sản
phẩm CNHT chủ yếu bao gồm một số lĩnh vực như kim loại, nhựa và cao su, điện
và điện tử.
Ngoài ra, một số tác giả nêu ra rằng CNHT là ngành CN sản xuất vật liệu,
phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành CN sản xuất,
lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Khái
niệm này được sử dụng trong nghiên cứu của Hà Thị Hương Lan (2014) “CNHT
trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam” [13], Nguyễn Thị Thu Huyền và Lê
Xuân Sang (2011) “Chính sách thúc đẩy phát triển CNHT: Lý luận, thực tiễn và
định hướng cho Việt Nam” [11], Nguyễn Thị Dung Huệ (2012) “Phát triển CNHT
3
ngành dệt may của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” [9], Trương
Nam Trung (2017) “CNHT ngành sản xuất ô tô ở Việt Nam” [18], Trần Đức Hiệp
và Nhâm Phong Tuân (2014) [6], “Ảnh hưởng của các chính sách tới sự phát triển
của ngành CNHT ô tô Việt Nam”, Tạp chí khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh
doanh, tập 30, số 4, tr 12-20.
Tác giả Vũ Thị Thanh Huyền (2018), “Phát triển CNHT và tăng trưởng kinh
tế Việt Nam: trường hợp ngành điện tử” [10] lại tiếp cận theo hướng tương đối hẹp.
Cụ thể, CNHT là các ngành CN sản xuất các nguyên vật liệu cơ bản, các linh kiện,
phụ tùng, bán thành phẩm để cung cấp cho các ngành CN lắp ráp như ngành ô tô, xe
máy, điện, điện tử…Trong đó, sản phẩm CNHT các ngành lắp ráp bao gồm các
nguyên vật liệu cơ bản như nhựa, cao su, kim loại; các linh kiện phụ tùng bao gồm:
linh kiện nhựa – cao su, linh kiện kim loại, linh kiện điện (như pin, ắc quy, dây
dẫn), linh kiện điện tử…
❖ Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ
Tác giả Vũ Thị Thanh Huyền (2018) [10] đồng ý với quan điểm của tác giả
Hoàng Văn Châu khi cho rằng CNHT có các đặc điểm sau: tính đa cấp, tính hệ
thống liên kết theo quy trình sản xuất, theo khu vực và phụ thuộc vào ngành CN
chính, đa dạng về công nghệ và trình độ công nghệ, thu hút số lượng lớn DN, nhất
là các DNNVV. Ủng hộ quan điểm này còn có nghiên cứu của Hà Thị Hương Lan
(2014) [13], Nguyễn Thị Dung Huệ (2012) [9].
❖ Vai trò của công nghiệp hỗ trợ
Do Manh Hong (2008), Promotion of supporting Industries – the key for
attrating FDI in developing countries [25]. Theo tác giả, để thúc đẩy nền kinh tế
phát triển bền vững, các nước đang phát triển cần tạo mọi điều kiện để thu hút FDI,
song để làm được điều đó, chỉ có một con đường duy nhất là thúc đẩy và xây dựng
một nền CNHT đủ mạnh để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI.
E. Ratana (1999) [24] đã đề cập đến vai trò của CNHT đối với sự phát triển
các ngành sản xuất ở Nhật Bản, các chính sách tiêu biểu của Nhật Bản đối với phát
triển CNHT; thực trạng CNHT của Thái Lan và CNHT của các DNNVV, các chính
4
sách phát triển CNHT của Thái Lan; các vấn đề tồn tại của DNNVV và CNHT Thái
Lan.
Junichi Mori (2005), “Development of Supporting Industries for Vietnam’s
Industrialization: Increasing Positive Vertical Externalities through Coolaborative
Training” [31] đề cập đến vai trò của CNHT trong việc tăng trưởng kinh tế thể hiện
thông qua việc dẫn dắt dòng FDI vào trong nước, thu hút đầu tư từ các công ty đa
quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền và Lê Xuân Sang (2011) [11] đã nêu ra 7 vai
trò của CNHT: (i) CNHT là động lực trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng cho ngành CN,
giúp tăng sức cạnh tranh của sản phẩm CN chính và đẩy nhanh quá trình CN hóa;
(ii) tạo ra tính chuyên môn hóa; (iii) hội nhập CN toàn cầu; (iv) thu hút đầu tư nước
ngoài và tạo tăng trưởng bền vững; (v) khuyến khích ứng dụng, sử dụng khoa học
công nghệ cao, lực lượng lao động có cơ hội được tiếp xúc, học hỏi, nâng cao tay
nghề; (vi) ổn định kinh tế, xã hội, đẩy mạnh quá trình CN hóa; (vii) phát triển các
cụm liên kết ngành.
Tác giả Hà Thị Hương Lan (2014) [13] đề cập về vai trò có tính hai mặt của
phát triển CNHT như sau: phát triển CNHT là cơ sở quan trọng thực hiện hiệu quả
quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường; góp phần hình thành cơ cấu
kinh tế quốc dân theo hướng hợp lý, hiện đại; tăng sức cạnh tranh của sản phẩm CN
và của cả nền kinh tế; hỗ trợ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và đẩy nhanh
CN hóa, hiện đại hóa đất nước; thúc đẩy chuyên môn hóa sản xuất và gắn phân
công lao động quốc gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế; giúp tiếp thu
chuyển giao công nghệ và là con đường nhanh nhất biến ngoại lực thành nội lực;
nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài; đảm bảo cung ứng các linh kiện phụ kiện phục
vụ hoàn chỉnh sản phẩm của DN trong các ngành CN; đảm bảo cho các DN trong
ngành CN hoạt động hiệu quả, hoàn thành được kế hoạch sản xuất.
❖ Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ
Ryuichiro Inoue (1998) [28] đã đưa ra một loạt giải pháp nhằm điều chỉnh
chính sách CN sau khủng hoảng như: tăng cường phát triển các ngành CNHT ô tô,
5
điện tử…đẩy mạnh mô hình liên kết CN, xây dựng các khu, cụm CN, trong đó nhấn
mạnh sự cần thiết xây dựng một hệ thống CNHT hoàn chỉnh.
Junichi Mori (2005) [31], tác giả đã đề cập đến một số giải pháp để phát triển
CNHT như: cải tiến công nghệ, hoàn thiện các chính sách công, đẩy mạnh hợp tác
và đào tạo nguồn nhân lực.
Nguyễn Thị Tường Anh (2014) [1], “Kinh nghiệm phát triển CNHT của một
số nước và hàm ý cho Việt Nam”, tạp chí tài chính số 11 đề cập đến các chính sách
mở cửa thu hút vốn FDI của các công ty đa quốc gia và thành lập các cơ quan, tổ
chức quản lý chuyên trách về CNHT theo kinh nghiệm phát triển ngành CNHT của
một số nước trên thế giới.
Hà Thị Hương Lan (2014) [13] đã nêu ra một số kinh nghiệm từ các quốc gia
như Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Malaysia trong quá trình phát triển CNHT từ
đó đề ra các giải pháp để phát CNHT tại Việt Nam trong đó có nêu ra các giải pháp
như: xây dựng quy hoạch phát triển cho ngành CNHT; hoàn thiện hệ thống luật
pháp và chính sách phát triển CNHT; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển CNHT với
hoạt động của các DN trong một số ngành CN; đa dạng hóa CNHT hướng vào sản
phẩm có giá trị gia tăng cao và bảo vệ môi trường sinh thái, tài nguyên; phát triển
cụm liên kết ngành gia tăng năng suất, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm CNHT;
thiết kế và quản trị cơ sở dữ liệu về CNHT.
Các tác giả khác như Vũ Thị Thanh Huyền (2018) [10], Trương Nam Trung
(2017) [18], Nguyễn Thị Thu Huyền và Lê Xuân Sang (2011) [11] cũng có cách
tiếp cận tương tự khi nêu ra kinh nghiệm từ nước ngoài sau đó đề ra các biện pháp
nhằm thúc đẩy phát triển CNHT tại Việt Nam.
Tác giả Phạm Thái Hà (2017) [7] đã khái quát các chính sách liên quan đến
ngành CNHT tại Việt Nam, đồng thời cũng nêu ra một số điểm hạn chế, vướng mắc
trong thủ tục cũng như quy định.
Tác giả Bùi Minh Tuấn (2017) [17] nêu ra các chính sách ưu đãi thuế đối với
CNHT hiện nay và cho rằng việc phát triển CNHT chưa thật sự tương xứng. Tác giả
cũng nêu ra một số vướng mắc và giải pháp đối với các chính sách ưu đãi thuế liên
quan đến CNHT.
6
2.2. Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
❖ Định nghĩa về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2001), “Giáo trình luật thuế”
[20]; Học viện tài chính (2010), “Giáo trình thuế thu nhập” [8] đã lần lượt nêu ra
khái niệm thuế TNDN như sau: thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào phần thu
nhập sau khi đã trừ các chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ; thuế TNDN là thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các DN trong
kỳ tính thuế.
United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD) (2000),
“Tax incentives and foreign direct investment: A global survey” [33] đề cập ưu đãi
thuế là các quy định pháp luật cho phép giảm gánh nặng thuế của nhà đầu tư để
khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư theo những cách mong
muốn nhất định.
Trương Bá Tuấn (2019), “Chính sách ưu đãi thuế tại Việt Nam: Những vấn
đề đặt ra và khuyến nghị”, Tạp chí tài chính [16] cho rằng ưu đãi thuế được hiểu là
việc áp dụng các chính sách thuế có “sự khác biệt” so với các quy định chung của
pháp luật thuế nhằm tạo ra sự đối xử ưu đãi hơn cho một nhóm đối tượng người nộp
thuế cụ thể.
Tác giả Vũ Sỹ Cường (2018), “Ưu đãi thuế cho doanh nghiệp: kinh nghiệm
các nước và thực tiễn Việt Nam”, Tạp chí tài chính [3] tiếp cận theo hướng ưu đãi
thuế là hình thức mà một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một khu vực hành chính thuế
dành những điều kiện, những quyền lợi đặc biệt về thuế cho các tổ chức và cá nhân
nộp thuế hơn so với các quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc khu vực hành chính thuế khác
khi đáp ứng được những điều kiện nhất định của chính sách ưu đãi.
❖ Các hình thức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Đinh Hải Yến (2011), “Pháp luật ưu đãi thuế TNDN ở Việt Nam – Thực
trạng và giải pháp” [22], Lê Quang Thuận và Trương Bá Tuấn (2016), “Báo cáo
nghiên cứu đánh giá chính sách ưu đãi thuế tại Việt Nam” [15] đã tổng hợp và
7
nghiên cứu về các hình thức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm: ưu đãi về
thuế suất; ưu đãi miễn thuế, giảm thuế; chuyển lỗ; Trích lập Quỹ phát triển khoa
học và công nghệ của DN và một số hình thức khác.
❖ Vai trò của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Lê Quang Thuận và Trương Bá Tuấn (2016) [15] đã nêu ra một số vai trò
của ưu đãi thuế TNDN trong lĩnh vực CNHT như sau: khuyến khích đầu tư vào địa
bàn hoặc lĩnh vực mà Chính phủ định hướng hoạt động đầu tư, góp phần tạo động
lực phát triển ngành CNHT, khuyến khích người dân bỏ vốn thành lập DN mới, đầu
tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải
thiện môi trường sinh thái…Đồng thời có thể hướng các tổ chức, cá nhân đầu tư vào
ngành CNHT theo đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.
❖ Chính sách pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh
vực công nghiệp hỗ trợ
Bùi Minh Tuấn (2017), “Bàn thêm về chính sách ưu đãi thuế đối với
CNHT”, Tạp chí tài chính [17] và tác giả Phạm Thái Hà (2017), “Chính sách thuế
thúc đẩy ngành CNHT Việt Nam phát triển”, Tạp chí tài chính [7] dựa trên các quy
định của pháp luật và khẳng định các Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm CNHT có thể
đạt được ưu đãi cao nhất về thuế TNDN (thuế suất 10% trong vòng 15 năm, miễn 4
năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm).
❖ Giải pháp hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
Bùi Minh Tuấn (2017) [17] đã đề cập tới một số vấn đề đặt ra và đề xuất giải
pháp để hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế TNDN trong lĩnh vực CNHT liên quan
đến quy định chuyển tiếp, tiêu chí xác định đối tượng hưởng ưu đãi.
Phạm Thái Hà (2017) [7] đã nêu ra một số giải pháp về thuế TNDN để phát
triển CNHT như sau: Việt Nam có thể Ban hành chính sách thuế TNDN ưu đãi vượt
khung đối với dự án CNHT trọng điểm từng giai đoạn. Cần tiếp tục đơn giản hóa
thủ tục hành chính thuế theo hướng nhanh chóng, tạo thuận lợi cho người nộp thuế
tự nguyện tuân thủ pháp luật thuế, giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế. Chuẩn
hóa quy trình quản lý thuế dựa trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin đảm bảo
8
thống nhất, có tính liên kết cao; ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý không
chỉ giúp giảm thiểu chi phí quản lý hành chính đối với hoạt động quản lý thuế mà
còn giảm thiểu các hoạt động hành chính khác, rút gọn quy trình quản lý.
2.3. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu
Nhìn chung, đã và đang có nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới xem
xét về lý luận và thực trạng phát triển CNHT nói chung và đối với một số ngành cụ
thể nói riêng. Các công trình này đã nghiên cứu và từng bước làm rõ một số vấn đề
lý luận chung về CNHT, trình bày kinh nghiệm của một số quốc gia trên các khía
cạnh chiến lược phát triển CNHT, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam, gợi ý cho quá trình hoạch định cơ chế, chính sách phát triển CNHT ở Việt
Nam. Một số tác giả khác tập trung nghiên cứu về ưu đãi thuế TNDN tại Việt Nam.
Các nghiên cứu này đã khái quát chung ưu đãi thuế TNDN tại Việt Nam (khái niệm,
các hình thức ưu đãi, vai trò). Đây được xem là một nguồn tham khảo vô cùng quy
báu cho tác giả trong quá trình tổng hợp, phân tích và hoàn thiện chương 1 của luận
văn này. Bên cạnh đó, không thể không nhắc tới các nghiên cứu liên quan đến ưu
đãi thuế trong lĩnh vực CNHT tại Việt Nam. Các công trình này đã trình bày một
cách sơ lược tất cả các ưu đãi thuế (thuế TNDN, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất
khẩu, nhập khẩu) nhằm phát triển CNHT. Đồng thời, nêu ra một vấn đề và giải pháp
tương ứng để hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế trong lĩnh vực CNHT.
Tuy nhiên, một số công trình chỉ tập trung nghiên cứu ở góc độ kinh tế, nêu
ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của CNHT và đề ra những giải pháp
giải quyết các vấn đề trên. Một số khác thì đề cập đến nhiều chính sách phát triển
CNHT như nhóm chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, nhóm chính sách phát triển
các DN mới, nhóm chính sách khu, cụm CN, nhóm chính sách hỗ trợ tài chính và
thuế… hoặc có phân tích các ưu đãi thuế nhằm phát triển CNHT nhưng chưa đào
sâu làm rõ về ưu đãi thuế TNDN. Chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về
mặt pháp luật liên quan đến các chính sách ưu đãi về thuế (đặc biệt là thuế TNDN)
trong lĩnh vực CNHT. Trong luận văn này, tác giả xin đi sâu nghiên cứu các vấn đề
về ưu đãi thuế TNDN trong việc phát triển CNHT, từ đó làm rõ những hạn chế,
thiếu sót trong các chính sách pháp luật liên quan để góp phần phục vụ cho việc học
9
tập, nghiên cứu, hoạch định chính sách và thực hiện pháp luật ưu đãi thuế TNDN
theo pháp luật đầu tư trong lĩnh vực CNHT ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
• Mục đích nghiên cứu
Từ cách tiếp cận của chuyên ngành Luật Kinh tế, luận văn được nghiên cứu
nhằm làm rõ thực trạng pháp luật ưu đãi thuế TNDN theo pháp luật đầu tư trong
lĩnh vực CNHT ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, dựa trên những nghiên cứu có
được luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật ưu đãi thuế TNDN
theo pháp luật đầu tư trong lĩnh vực CNHT ở Việt Nam.
• Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ưu đãi thuế TNDN theo pháp luật đầu tư
trong lĩnh vực CNHT ở Việt Nam hiện nay.
Phân tích thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật ưu đãi thuế TNDN theo
pháp luật đầu tư trong lĩnh vực CNHT ở Việt Nam hiện nay.
Đề ra những định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật ưu đãi thuế
TNDN theo pháp luật đầu tư trong lĩnh vực CNHT ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ưu đãi thuế TNDN theo pháp luật đầu tư
trong lĩnh vực CNHT ở Việt Nam hiện nay.
Do tiếp cận nghiên cứu từ mã ngành Luật Kinh tế nên luận văn không nghiên
cứu các quy phạm của pháp luật ưu đãi thuế TNDN theo pháp luật đầu tư trong lĩnh
vực CNHT ở Việt Nam hiện nay nhưng thuộc nội dung của pháp luật hành chính
như: pháp luật thủ tục thực hiện ưu đãi thuế TNDN theo pháp luật đầu tư trong lĩnh
vực CNHT ở Việt Nam hiện nay; về kiểm tra, thanh tra việc thực hiện ưu đãi thuế
TNDN theo pháp luật đầu tư trong lĩnh vực CNHT ở Việt Nam hiện nay; về vi
phạm và xử lý vi phạm trong ưu đãi thuế TNDN theo pháp luật đầu tư trong lĩnh
vực CNHT ở Việt Nam.
10
• Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về ưu đãi thuế TNDN theo pháp luật đầu tư trong lĩnh vực CNHT (đặc biệt là
các ngành được liệt kê trong danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển) ở Việt
Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện chế định pháp luật này kể từ khi Nghị định về
phát triển CNHT số 111/2015/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2016.
Hiện nay có nhiều hình thức ưu đãi thuế TNDN như ưu đãi thuế suất; miễn,
giảm thuế suất; chuyển lỗ; trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của DN.
Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hai hình thức phổ biến nhất của ưu đãi
thuế TNDN, đó là thuế suất ưu đãi và miễn thuế, giảm thuế.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh: so sánh giữa quy định của Luật Đầu tư 2020, Luật
thuế TNDN 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2013 và 2014, các văn bản hướng dẫn
với thực tiễn áp dụng; so sánh quy định về ưu đãi thuế TNDN đối với các DN sản
xuất CNHT tại Việt Nam với quy định của một số nước trên thế giới. Từ đó cho
thấy rõ sự khác biệt, điểm chưa thống nhất cũng như điểm hạn chế giữa các quy
định pháp luật, giữa quy định của pháp luật với thực tiễn, giữa luật Việt Nam và
một số quy định của luật nước ngoài, từ đó nêu lên được tính cấp thiết của luận văn
trong phần “lý do chọn đề tài”; phần 1.2; 1.3 của luận văn.
Phương pháp tổng hợp: tiến hành tìm kiếm những giáo trình, luận văn, luận
án, những bài viết khoa học liên quan đến ưu đãi thuế TNDN trong lĩnh vực CNHT,
những công văn mang tính chỉ đạo riêng biệt đối với các DN cụ thể để làm rõ hơn
thực tiễn áp dụng đối với đề tài này. Bằng phương pháp này, nêu bật lên quan điểm
của tác giả cũng như xu hướng áp dụng trên thực tế để sử dụng vào phần “tình hình
nghiên cứu” và phần 2.1 của luận văn.
Phương pháp phân tích: tiến hành phân tích các quy định của pháp luật hiện
hành tại chương 1 của luận văn để tìm ra những vướng mắc trong quy định pháp
luật hiện hành cũng như trong thực tiễn áp dụng. Từ đó đưa ra những hướng giải
quyết cho những bất cập đó trong phần 2.2.
11
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc đề xuất giải pháp
hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ưu đãi thuế TNDN
theo pháp luật đầu tư trong lĩnh vực CNHT ở Việt Nam hiện nay. Do đó, luận văn
có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, hoạch
định chính sách và thực hiện pháp luật ưu đãi thuế TNDN theo pháp luật đầu tư
trong lĩnh vực CNHT ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm hai chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong
lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
Chương 2: Thực trạng pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật đầu tư về
ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam
hiện nay.
12
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
1.1. Khái quát chung về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh vực
công nghiệp hỗ trợ
1.1.1. Khái quát chung về công nghiệp hỗ trợ
1.1.1.1. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ
Công nghiệp hỗ trợ được hiểu khác nhau giữa các nước, tùy thuộc vào mức
độ ưu tiên trong chiến lược phát triển của từng quốc gia. Trên thực tế có khá nhiều
định nghĩa CNHT được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước
Đông Á.
Định nghĩa CNHT chính thức được đưa ra lần đầu tiên ở Nhật Bản vào giữa
những năm 1980 trong Chương trình Phát triển CNHT Châu Á. Nó được dịch trực
tiếp từ thuật ngữ gốc trong tiếng Nhật là “Suso-no San-gyuo”, trong đó Suso-no
nghĩa là “Chân núi” và Sangyuo là “CN”. Nếu xem toàn bộ quy trình sản xuất một
sản phẩm như một quả núi thì các ngành CNHT đóng vai trò chân núi, còn CN lắp
ráp, sản xuất hoàn tất sản phẩm cuối cùng đóng vai trò đỉnh núi. Do đó, nếu không
có CNHT rộng lớn, vững chắc thì cũng sẽ không có CN lắp ráp sản xuất hoàn tất
cuối cùng bền vững, ổn định. Với cách hình dung như trên, tổng thể ngành CN có
thể được xem như là sự kết hợp giữa CNHT và CN lắp ráp sản xuất hoàn tất sản
phẩm cuối cùng, trong đó, CNHT được coi là cơ sở nền tảng, CN lắp ráp sản xuất
hoàn tất sản phẩm cuối cùng có vai trò hoàn thành giá trị sử dụng của sản phẩm.
Ở Nhật Bản, thuật ngữ CNHT ban đầu được dùng để chỉ “các DNNVV có
đóng góp cho sự phát triển cơ sở hạ tầng CN ở các nước Châu Á trong trung và dài
hạn”. Sau đó, định nghĩa chính thức của quốc gia về CNHT được Bộ Kinh tế,
Thương mại và CN Nhật Bản (METI) đưa ra vào vào năm 1993: CNHT là các
ngành CN cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn…
cho các ngành CN lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử). Hiện nay, CNHT ở Nhật
Bản được hiểu là “một nhóm các hoạt động CN cung ứng các đầu vào trung gian
13
(không phải nguyên vật liệu thô và các sản phẩm hoàn chỉnh) cho các ngành CN hạ
nguồn”
Còn theo BSID: CNHT là các ngành CN cung cấp linh phụ kiện, máy móc,
thiết bị và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất như đóng gói, kiểm tra sản phẩm … cho các
ngành CN cơ bản [13, tr.148]. Còn Ủy ban đầu tư Thái Lan (BOI) khẳng định:
“CNHT là các DN sản xuất linh phụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp
của các ngành CN ô tô, máy móc và điện tử”.
Ở Việt Nam, thuật ngữ CNHT xuất hiện trong các chương trình hợp tác kinh
tế với Nhật Bản. Thuật ngữ CNHT được sử dụng chính thức từ năm 2004, chủ yếu
trong các chỉ thị, công văn chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ. Đến năm 2007, khái
niệm CNHT chính thức được đưa ra trong bản Quy hoạch tổng thể phát triển các
ngành CNHT đến 2010, tầm nhìn 2020: “hệ thống CNHT là hệ thống các nhà sản
xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang,
cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng…cho khâu lắp ráp cuối cùng” [12].
Khái niệm này được hiểu là các ngành sản xuất nền tảng của ngành CN chính yếu.
Nó bắt đầu từ việc sản xuất nguyên vật liệu đến gia công, chế tạo các sản phẩm phụ
tùng, linh kiện, nguyên phụ liệu bằng các công nghệ chuyên môn hóa sâu… cho các
ngành CN sản xuất-lắp ráp các sản phẩm thuộc công cụ, tư liệu sản xuất hoặc sản
phẩm tiêu dùng. CNHT có thể chia thành hai thành phần chính: (i) Phần cứng là các
cơ sở sản xuất nguyên vật liệu và các linh kiện lắp ráp; (ii) Phần mềm bao gồm các
bộ phận thiết kế sản phẩm, mua sắm, hệ thống dịch vụ CN và marketing [6].
Đến năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày
03 tháng 11 năm 2015 về phát triển CNHT. Theo đó, CNHT được định nghĩa là
“các ngành CN sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp
cho sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh” và “Hoạt động phát triển CNHT bao gồm:
Hoạt động trợ giúp của cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân về CNHT,
đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ chuyển giao công nghệ
sản xuất sản phẩm CNHT, hợp tác quốc tế, phát triển thị trường; đầu tư dự án sản
xuất sản phẩm CNHT; cung ứng dịch vụ phục vụ CNHT”. Như vậy, dựa trên quan
điểm của Quy hoạch thì Nghị định này chỉ tập trung vào phần cứng của CNHT.
14
Với nhiều khái niệm khác nhau như đã đề cập ở trên, trong luận văn này, tác
giả căn cứ vào định nghĩa được quy định trong Nghị định số 111/2015/NĐ-CP để
phân tích, chứng minh các vấn đề liên quan. Cụ thể, CNHT là tập hợp các ngành
CN sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng phục vụ cho các ngành CN
sản xuất thành phẩm.
1.1.1.2. Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ
Thứ nhất, tính đa cấp của CNHT. Trong quá trình sản xuất CN luôn có sự
đan xen, tác động lẫn nhau; sản phẩm đầu ra, quá trình sản xuất của ngành này lại là
sản phẩm hỗ trợ hay sản phẩm đầu vào, quá trình sản xuất cho ngành khác. Thậm
chí, để sản xuất ra sản phẩm hỗ trợ cùng phải cần tới CNHT cho bản thân nó [13].
Trong chuỗi sản xuất này, các nhà cung cấp được phân loại theo cấp độ, vị trí họ
tham gia vào hệ thống. Ngoài ra, tính đa cấp trong sản xuất CNHT còn thể hiện ở
chỗ, các nhà cung cấp sản phẩm CNHT có thể rất khác nhau về quy mô vốn, quy
mô sản xuất, sở hữu, công nghệ…
Thứ hai, tính hệ thống liên kết theo quy trình sản xuất, theo khu vực và phụ
thuộc vào ngành CN chính. Do cùng nằm trong chuỗi giá trị của sản xuất, các DN
CNHT có mối quan hệ liên kết chặt chẽ với nhau. Từ mối quan hệ này cũng dẫn đến
yêu cầu phát triển CNHT một cách có hệ thống và tập trung theo các cụm, khu CN.
Sự phát triển của các DN sản xuất lắp ráp sẽ tạo nhu cầu và kích thích sự phát triển
của các DN cung cấp sản phẩm hỗ trợ, ngược lại, sự phát triển của các DN CNHT
sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, đem lại lợi thế cạnh tranh để thu hút, giữ
chân các nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia, các DN lắp ráp. [10]
Thứ ba, tính đa dạng về công nghệ và trình độ sản xuất. Để có một sản phẩm
lắp ráp hoàn chỉnh thì trong quá trình sản xuất luôn đòi hỏi nhiều loại linh kiện, phụ
tùng với những chi tiết, đặc điểm phức tạp; ngược lại, có những chi tiết lại không
đòi hỏi kỹ thuật quá khó. Chính sự đa dạng này tạo ra sự khác nhau về mức độ,
trình độ công nghệ đối với các sản phẩm hỗ trợ.
Thứ tư, thu hút một số lượng lớn DN, nhất là các DNNVV. Do đặc tính đa
cấp, đa dạng về công nghệ; do sự tham gia vào nhiều công đoạn của sản xuất nên
ngành CNHT thu hút một số lượng lớn các DN, với các quy mô, trình độ đa dạng,
15
trong đó, số lượng DN ở cấp thấp rất lớn. Đa phần các DN ở cấp này là các
DNNVV.
Thứ năm, CNHT là ngành đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao. Lao động
trong ngành CNHT phần lớn là các chuyên gia vận hành máy móc, những kiểm soát
viên về chất lượng sản phẩm, các kỹ thuật viên và các kỹ sư có trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao, được đào tạo theo tiêu chuẩn, trình độ lành nghề, chuyên môn sâu
[13]. Họ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển CNHT bởi họ chính là những
người vận hành, triển khai, sáng tạo ra các phương pháp hiệu quả để vận dụng trong
lĩnh vực đòi hỏi nhiều tính chuyên môn này.
1.1.1.3. Vai trò của công nghiệp hỗ trợ
Luận văn dựa theo hướng tiếp cận của hai tác giả Lê Xuân Sang và Nguyễn
Thị Thu Huyền [11] để tổng hợp các vai trò của CNHT như sau:
Thứ nhất, CNHT góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm CN
và đẩy nhanh quá trình CN hóa. Thực tế, khi CNHT kém phát triển thì sẽ kéo theo
sự trì trệ của các ngành CN chính, lúc này ngành CN sẽ phụ thuộc rất lớn vào nhập
khẩu. Các sản phẩm của ngành CN chính muốn phát triển cần dựa vào sự phát triển
của ngành CNHT và CNHT sẽ là nhân tố thúc đẩy nền kinh tế hoạt động lành mạnh,
tăng khả năng cạnh tranh, hướng đến xây dựng và phát triển kinh tế thị trường.
Ngành CNHT phát triển sẽ làm tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm giá thành sản xuất CN,
thúc đẩy quá trình CN hóa.
Thứ hai, CNHT góp phần hạn chế nhập siêu, đảm bảo tính chủ động cho nền
kinh tế. Khi ngành CNHT không phát triển, các ngành CN chính sẽ kém phát triển
và xuất hiện tình trạng nhập siêu. CNHT sẽ giúp ngành sản xuất chủ động được
nguồn nguyên vật liệu đầu vào, không phải nhập khẩu nguyên liệu và các linh kiện,
phụ tùng cho sản xuất lắp ráp, chủ động lựa chọn được nhà cung cấp, cắt giảm chi
phí sản xuất, giảm giá thành, tăng năng lực cạnh tranh. Mặt khác, việc tự cung ứng
nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng giúp nền kinh tế chủ động hơn, không bị lệ
thuộc vào các nước khác cũng như ít bị các tác động từ biến động kinh tế toàn cầu.
Thứ ba, CNHT góp phần nâng cao trình độ công nghệ, lao động chuyên môn
hóa cao. Phát triển CNHT sẽ có tác động khuyến khích ứng dụng, sử dụng khoa học
16
công nghệ cao, lực lượng lao động có cơ hội được tiếp xúc, học hỏi, nâng cao tay
nghề.
Thứ tư, phát triển CNHT nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Để đạt hiệu
quả kinh tế cao nhất, các nhà đầu tư nước ngoài thường quan tâm đến nhiều yếu tố
tạo nên một môi trường đầu tư thuận lợi, trong đó CNHT là nhân tố quan trọng để
các nhà đầu tư nước ngoài xem xét, nghiên cứu khi đưa ra quyết định đầu tư vào
một thị trường. Thực tế, nhân tố lao động giá rẻ ngày nay không còn sức hấp dẫn
nhiều trong thu hút đầu tư, phát triển bền vững vì tỷ lệ của chi phí về CNHT cao
hơn nhiều so với chi phí lao động nên dù một nước có ưu thế về lao động nhưng
CNHT không phát triển sẽ khiến cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn. Xu hướng
đầu tư hiện nay cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài thường lựa chọn những nơi có
ngành CNHT phát triển để chủ động nguồn nguyên liệu, linh kiện, phụ kiện; giảm
chi phí đầu vào, đảm bảo về tiến độ của các dự án,…Do đó, phát triển CNHT sẽ
giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từ đó quốc gia sở tại có thể tận dụng nguồn
vốn, kinh nghiệm quản lý, những tiến bộ về khoa học – kỹ thuật từ các nước phát
triển để phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước.
Thứ năm, CNHT là cơ sở để thực hiện hội nhập CN toàn cầu. Trong bối cảnh
hội nhập toàn cầu, khi các quan hệ hợp tác được thiết lập, sản phẩm CNHT sẽ là
một bộ phận hiện hữu, không tách rời, cấu thành trong các sản phẩm của các tập
đoàn CN đa quốc gia hàng đầu thế giới. CNHT sẽ trở thành một bộ phận trong
chuỗi sản xuất CN của khu vực cũng như toàn cầu.
Thứ sáu, phát triển CNHT là điều kiện đủ để phát triển các cụm liên kết
ngành – công cụ rất hữu hiệu để nâng cao cạnh tranh, đổi mới công nghệ và phát
triển kinh tế vùng thông qua xây dựng mạng lưới các nhà cung ứng sản phẩm đầu
vào cho các DN khác.
Ngoài 6 vai trò đã được đề cập, CNHT có thể dẫn đến một số ảnh hưởng
không mong muốn, cụ thể: trong quá trình phát triển CNHT, nếu không cẩn trọng
có thể dẫn đến tình trạng phụ thuộc vào các nhà đầu tư nước ngoài. Thực vậy, vì
đặc thù của các sản phẩm CNHT là để hỗ trợ cho các ngành CN chính nên những
sản phẩm này khó tiếp cận với người tiêu dùng cuối cùng, lúc này tình trạng phụ
17
thuộc vào các tập đoàn đa quốc gia sẽ phát triển vì đây chính là đối tượng tiềm năng
nhất trong ngành CN chính. Bên cạnh đó, khi CNHT phát triển một cách nhanh
chóng mà quy trình đào tạo chưa được cập nhật kịp thời có thể dẫn đến hiện tượng
đào tạo dàn trải, thiếu thực tiễn, hoặc chuyên môn chưa phù hợp với yêu cầu của
DN, từ đó ảnh hưởng đến chuỗi sản xuất, gây thiệt hại cho nhiều chủ thể khác nhau.
Ngoài ra, khi tập trung CNHT quá đà, chạy theo lợi nhuận hoặc lợi ích cục bộ
không quan tâm đến việc phát triển bền vững sẽ gây ra các vấn đề như ô nhiễm môi
trường, khai thác cạn kiệt tài nguyên…
Như đã phân tích ở trên, có thể thấy rõ CNHT có tác động hai mặt đến nền
kinh tế - xã hội của quốc gia. Do đó, trong quá trình phát triển CNHT cần cẩn trọng
để giúp phát huy những mặt thuận lợi và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra, cần đề
ra những định hướng phát triển phù hợp và thiết lập một hệ thống pháp luật hoàn
chỉnh trong tương lai gần.
1.1.2. Khái quát chung về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật
đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
1.1.2.1. Khái niệm ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
❖ Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu vào thu nhập là nhóm thuế giữ vai trò quan trọng trong việc tạo lập
nguồn thu cho ngân sách nhà nước, nhất là đối với các nước phát triển. Thuế thu
vào thu nhập được xem là loại thuế mà Nhà nước đánh vào thu nhập thực tế của các
chủ thể nhằm điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân vào ngân sách
nhà nước với mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện công
bằng xã hội [19, tr.262].
Có thể thấy rằng tên gọi của sắc thuế thường biểu hiện đối tượng chịu thuế
của sắc thuế đó. Thuế TNDN chủ yếu thu vào thu nhập phát sinh trong quá trình
hoạt động sản xuất, kinh doanh nên những khoản thu nhập chịu thuế là những thu
nhập hình thành chủ yếu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hoặc
có liên quan đến quá trình này.
Hiện tại, khái niệm về thuế TNDN chưa được quy định cụ thể trong các văn
bản quy phạm pháp luật nhưng đã có một số công trình giải thích khái niệm thuế
18
TNDN như sau: thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi đã
trừ các chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ [20];
thuế TNDN là thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các DN trong kỳ tính thuế [8].
Tóm lại, trong luận văn này, thuế TNDN được hiểu là loại thuế trực thu đánh
vào phần thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong kỳ tính
thuế.
❖ Khái niệm ưu đãi thuế
Chính sách ưu đãi thuế có nhiều mục tiêu khác nhau như: thu hút nguồn vốn
từ bên ngoài, thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực ưu tiên, qua đó, tạo ra các
động lực cho tăng trưởng kinh tế; khuyến khích phát triển vùng; khuyến khích tạo
việc làm; giải quyết những khó khăn tạm thời, cấp bách trước mắt về vốn cho DN;
thúc đẩy xuất khẩu, gia tăng hàm lượng nội địa của sản phẩm sản xuất trong nước;
phát triển khoa học và công nghệ; phát triển DNNVV hay để thúc đẩy bảo vệ môi
trường, sản xuất và tiêu dùng xanh.
Ưu đãi thuế có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Trong đó, có
thể định nghĩa ưu đãi thuế là các quy định pháp luật cho phép giảm gánh nặng thuế
của nhà đầu tư để khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư theo
những cách mong muốn nhất định [33, tr.12]
Hoặc ưu đãi thuế được hiểu là việc áp dụng các chính sách thuế có “sự khác
biệt” so với các quy định chung của pháp luật thuế nhằm tạo ra sự đối xử ưu đãi hơn
cho một nhóm đối tượng người nộp thuế cụ thể. Để một chính sách thuế được xem
là một biện pháp “ưu đãi thuế”, chính sách thuế đó phải chứa đựng 3 yếu tố: (i) Sự
khác biệt so với các quy định về thuế được áp dụng chung; (ii) Sự khác biệt tạo ra
những ưu đãi nhất định cho người nộp thuế và (iii) Để được hưởng lợi, đối tượng
nộp thuế phải đáp ứng được một số điều kiện nhất định (ví dụ, thực hiện đầy đủ chế
độ hóa đơn, chứng từ...) [16].
Trong nghiên cứu của PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, ưu đãi thuế được định nghĩa là
hình thức mà một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một khu vực hành chính thuế dành
những điều kiện, những quyền lợi đặc biệt về thuế cho các tổ chức và cá nhân nộp
19
thuế hơn so với các quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc khu vực hành chính thuế khác khi
đáp ứng được những điều kiện nhất định của chính sách ưu đãi [3].
Trong luận văn này, tôi hiểu ưu đãi thuế là hình thức mà một quốc gia, một
vùng lãnh thổ, một khu vực hành chính thuế dành những điều kiện, những quyền lợi
đặc biệt về thuế cho các tổ chức và cá nhân nộp thuế hơn so với các quốc gia, vùng
lãnh thổ hoặc khu vực hành chính thuế khác khi đáp ứng được những điều kiện nhất
định của chính sách ưu đãi. Điểm chung nhất của ưu đãi thuế là tạo ra một lợi thế so
sánh về lợi ích (thuế) cho đối tượng nộp thuế khi đáp ứng được những yêu cầu nhất
định so với những đối tượng khác cùng tham gia vào các hoạt động đầu tư và kinh
doanh [5].
Như vậy, ưu đãi thuế là việc dành những điều kiện, quyền lợi đặc biệt về
thuế cho các đối tượng nộp thuế khi đáp ứng những điều kiện của chính sách ưu đãi.
Từ đó có thể hiểu ưu đãi thuế theo nghĩa khách quan là tổng hợp các quy định pháp
luật mà theo đó, chủ thể nộp thuế được hưởng những ưu tiên nhất định so với mặt
bằng chung trong quan hệ thuế với Nhà nước.
❖ Khái niệm ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Do thuế TNDN là thuế trực thu nên thường được Nhà nước sử dụng trong
việc chuyển tải chính sách điều tiết lợi ích cho phù hợp với một số trường hợp cụ
thể nhằm đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc cũng như chiều ngang. Nói cụ thể
hơn, với các trường hợp giống nhau về bản chất của giao dịch nhưng khác biệt về
điều kiện thực hiện hoặc cùng điều kiện nhưng khác nhau về lĩnh vực hoặc bản chất
của giao dịch, Nhà nước sẽ thông qua chế độ ưu đãi thuế TNDN phong phú và đa
dạng để tạo sự bình đẳng một cách tương đối cho các quan hệ này [19].
Ưu đãi thuế TNDN là việc Nhà nước dành cho các tổ chức hoạt động sản
xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế trong các lĩnh vực, địa
bàn, loại hình mà Nhà nước khuyến khích phát triển với những điều kiện thuận lợi
hơn về thuế suất, về thời gian miễn, giảm thuế và những vấn đề khác nhằm thu hút
đầu tư, hỗ trợ, giúp đỡ các DN đó trong quá trình hoạt động, góp phần thực hiện
mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
20
1.1.2.2. Đặc trưng của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo pháp luật đầu tư
trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam hiện nay
Ưu đãi thuế được áp dụng khá phổ biến đối với nhiều hình thức khác nhau ở
các nước phát triển và đang phát triển nhằm khuyến khích đầu tư trong nước cũng
như thu hút vốn đầu tư nước ngoài [23]. Việc áp dụng rộng rãi và đa dạng chính
sách thuế cùng với các chính sách khuyến khích đầu tư khác đã góp phần vào sự
tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở các nước CN mới như Hàn Quốc, Đài Loan và
Singapore [33].
Tương tự như nhiều quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam cũng đã áp
dụng ưu đãi thuế như là một công cụ quan trọng để phát triển đầu tư. Có thể thấy rõ
điều này thông qua các quy định liên quan đến ưu đãi đầu tư. Cụ thể khoản 1 Điều
15 Luật Đầu tư năm 2020 đã nêu ra 4 hình thức ưu đãi như sau: (i) Ưu đãi thuế
TNDN, bao gồm áp dụng mức thuế suất thuế TNDN thấp hơn mức thuế suất thông
thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn thuế, giảm
thuế và các ưu đãi khác theo quy định của pháp luật thuế TNDN; (ii) Miễn thuế
nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên liệu, vật tư,
linh kiện nhập khẩu để sản xuất theo quy định của pháp luật thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu; (iii) Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất; (iv)
Khấu hao nhanh, tăng mức chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế.
Trong đó, các chính sách ưu đãi về thuế suất hay miễn, giảm thuế có thời hạn
là những ưu đãi dựa trên lợi nhuận của DN. Liên quan đến hình thức ưu đãi về thuế
suất, Chính phủ quy định mức thuế suất thấp hơn mức thuế suất phổ thông nhằm
thu hút vốn đầu tư vào các lĩnh vực hay địa bàn cần khuyến khích. Trong khi đó,
chính sách miễn, giảm thuế có thời hạn, nhà đầu tư được miễn hoặc giảm số thuế
phải nộp trong một thời hạn nhất định. Đây được xem là những hình thức ưu đãi
thuế phổ biến nhất [32] nhờ vào ưu điểm dễ quản lý của mình. Tuy nhiên, khi nhìn
từ góc độ thực tiễn, hình thức ưu đãi này có thể không hiệu quả bởi vì nhà đầu tư sẽ
bán hoặc chấm dứt dự án đầu tư khi hết thời hạn ưu đãi và thành lập dự án mới để
hưởng kỳ ưu đãi mới, điều này dẫn đến việc tăng mạnh các dự án đầu tư ngắn hạn,
tạo ra sự lợi dụng các chính sách để đầu tư mà không phải vì mục tiêu đầu tư bền
21
vững. Bên cạnh đó, chính sách ưu đãi này cũng sẽ tạo ra các kẽ hở để các nhà đầu
tư có thể sử dụng nhiều thủ thuật khác nhau (ví dụ như chuyển giá) để chuyển lợi
nhuận từ nơi không có ưu đãi thuế đến nơi có ưu đãi thuế [15, tr.10]. Ngoài ra, một
hạn chế khác của các biện pháp ưu đãi này là chi phí ngân sách cao và số thu ngân
sách giảm trong nhiều trường hợp là không dự tính được và độc lập với lợi ích mà
dự án đầu tư có thể mang lại [27].
Bên cạnh các ưu đãi dựa trên lợi nhuận như đã đề cập ở trên, các ưu đãi dựa
trên chi phí như chính sách khấu hao nhanh hay chính sách miễn thuế nhập khẩu
cũng được nhiều nước áp dụng. Tại Việt Nam, hình thức ưu đãi miễn thuế nhập
khẩu được điều chỉnh bởi Luật Đầu tư năm 2020 và Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu năm 2016. Đây là hình thức ưu đãi gián tiếp cho phép người nộp thuế tránh
được việc liên hệ trực tiếp với cơ quan quản lý thuế nhưng rất dễ bị lạm dụng khi
thực chất người chịu thuế không được hưởng ưu đãi mà người nộp thuế sẽ được
hưởng. Hình thức này rất khó biện minh trên cơ sở chính sách, trừ những trường
hợp đặc biệt [5] từ đó gây ra gánh nặng trong công tác quản lý. Bên cạnh đó, không
thể không nhắc đến khấu hao nhanh khi bàn về các ưu đãi dựa trên chi phí. Khấu
hao nhanh là hình thức ưu đãi thuế bằng cách cho phép DN được trích khấu hao tài
sản cố định vào chi phí sản xuất hợp lý được trừ cao hơn mức khấu hao cho phép
theo lịch trình thông thường. Phương pháp này có ưu điểm giúp cho DN nhanh
chóng thu hồi vốn đầu tư, hạn chế ảnh hưởng của hao mòn vô hình; ít tốn kém chi
phí vì số thu bị giảm trong những năm đầu ít nhất cũng được khôi phục lại một phần
trong những năm tiếp theo của vòng đời tài sản; nếu khấu hao nhanh chỉ áp dụng
tạm thời, khi các điều kiện khác ngang bằng thì điều đó có thể dẫn tới một luồng
đầu tư ngắn hạn vì nhà đầu tư có xu hướng đẩy nhanh các kế hoạch đầu tư cho
tương lai để tận dụng ưu đãi này, từ đó tạo ra tính lan tỏa cho dự án đầu tư [5].
Đồng thời, khấu hao nhanh minh bạch hơn về số giảm thu ngân sách do ưu đãi và
không có sự phân biệt đối xử đối với tài sản vốn có vòng đời dài [15, tr.11]. Tuy
nhiên, việc tính toán khấu hao cũng phức tạp hơn do phải tính lại hàng năm và phải
trong một mức độ nhất định làm cho chi phí khấu hao không hoàn toàn phù hợp với
22
mức độ hao mòn của tài sản cố định trong quá trình sử dụng [38], từ đó tạo ra gánh
nặng trong công tác quản lý.
Ngoài ra, còn phải kể đến hình thức ưu đãi miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền
thuê đất, thuế sử dụng đất. Điểm này đã được cụ thể hóa trong Luật đất đai năm
2013, cụ thể: tại Điều 110 về miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất quy định dự
án sử dụng đất vào mục đích sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư hoặc
địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư (trừ dự án đầu tư xây dựng
nhà ở thương mại) thì được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Trong trường
hợp người thuộc đối tượng được hưởng cả miễn và giảm tiền sử dụng đất theo quy
định tại Nghị định này hoặc các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan thì
được miễn tiền sử dụng đất; trường hợp người thuộc đối tượng được giảm tiền sử
dụng đất nhưng có nhiều mức giảm khác nhau quy định tại Nghị định này và các
văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan thì được hưởng mức giảm cao nhất.
Còn trong trường hợp người thuê đất, thuê mặt nước vừa thuộc đối tượng được
miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước vừa thuộc đối tượng được giảm tiền thuê đất, thuê
mặt nước, sau khi được hưởng ưu đãi miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước thì tiếp tục
được giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định cho thời gian thuê đất tiếp
theo (nếu có); trường hợp được hưởng nhiều mức giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước
khác nhau thì được hưởng mức giảm cao nhất. Liên quan đến thuế sử dụng đất,
ngày 17/6/2010 Quốc hội đã ban hành Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số
48/2010/QH12 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2012. Theo đó, việc miễn
thuế, giảm thuế chỉ áp dụng trực tiếp đối với người nộp thuế và chỉ tính trên số tiền
thuế theo quy định tại Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Quy định về miễn
thuế, giảm thuế được cụ thể hóa tại thông tư 153/2011/TT-BTC: miễn thuế đối với
đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư (đặc biệt ưu đãi
đầu tư); dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự
án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư (ưu đãi đầu tư) tại địa bàn có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn và giảm thuế đối với đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh
vực ưu đãi đầu tư; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư (ưu đãi đầu tư), lĩnh vực đặc biệt khuyến
23
khích đầu tư (đặc biệt ưu đãi đầu tư), địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn,
địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện theo quy định của
pháp luật đầu tư. Khi đã có những cơ chế cụ thể điều chỉnh, hình thức ưu đãi này
được xem là một nhân tố quan trọng trong quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Bởi lẽ,
tại Việt Nam đất đai là một chế định khá đặc biệt và việc có thể hưởng các ưu đãi
liên quan đến đất đai là một đặc quyền, giúp hỗ trợ một phần vốn trong giai đoạn
đầu của quá trình đầu tư.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rõ mỗi hình thức ưu đãi có ưu, nhược
điểm riêng. Mỗi quốc gia có chính sách áp dụng khác nhau đối với từng loại hình
ưu đãi này nhằm phù hợp với chiến lược, mục tiêu phát triển đất nước. Trong đó, ưu
đãi thuế TNDN là một trong những ưu đãi phổ biến nhất bởi chính sức lan tỏa mạnh
mẽ của nó.
1.1.2.3. Các hình thức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo quy định hiện hành, ưu đãi thuế TNDN ở Việt Nam bao gồm các hình
thức sau:
Ưu đãi về thuế suất được hiểu là áp dụng mức thuế suất thuế TNDN thấp
hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án
đầu tư. Theo đó, dự án đầu tư thuộc diện ưu đãi được áp dụng thuế suất 20% trong
thời gian mười năm hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư (từ 01/01/2016 là
17%), thuế suất 15% hoặc thuế suất 10% trong thời gian mười lăm năm hoặc toàn
bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư, tùy theo tiêu chí, như dự án tạo nhiều việc làm,
có quy mô lớn, dự án đầu tư tại địa bàn, lĩnh vực khuyến khích đầu tư. Ngoài ra,
trong một số trường hợp, thời gian hưởng ưu đãi của dự án có thể được gia hạn ví
dụ những dự án có quy mô lớn, công nghệ cao, cần đặc biệt thu hút đầu tư thì Thủ
tướng Chính phủ có quyền quyết định kéo dài thêm thời gian áp dụng thuế suất ưu
đãi theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Ưu đãi thuế suất được quy định cụ thể
như sau:
(1) Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm áp dụng đối với:
- Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh
tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao;
24
- Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới, bao gồm: nghiên cứu khoa
học và phát triển công nghệ; ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công
nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật Công nghệ
cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo DN công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm
cho phát triển công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên
đầu tư phát triển theo quy định của Luật Công nghệ cao; đầu tư xây dựng -
kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo DN công nghệ cao; đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước theo quy định
của pháp luật; sản xuất sản phẩm phần mềm; sản xuất vật liệu composit, các
loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm; sản xuất năng lượng tái tạo,
năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải; phát triển công nghệ
sinh học; bảo vệ môi trường;
- Thu nhập của DN công nghệ cao, DN nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
theo quy định của Luật Công nghệ cao;
- Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất (trừ
dự án sản xuất mặt hàng thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, dự án khai
thác khoáng sản) đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Dự án có quy mô vốn
đầu tư tối thiểu sáu nghìn tỷ đồng, thực hiện giải ngân không quá ba năm kể
từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và có tổng doanh thu tối thiểu đạt
mười nghìn tỷ đồng/năm, chậm nhất sau ba năm kể từ năm có doanh thu
hoặc Dự án có quy mô vốn đầu tư tối thiểu sáu nghìn tỷ đồng, thực hiện giải
ngân không quá ba năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và sử
dụng trên ba nghìn lao động.
- Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc
Danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển đáp ứng một trong các tiêu chí
sau: Sản phẩm CNHT cho công nghệ cao theo quy định của Luật Công nghệ
cao hoặc Sản phẩm CNHT cho sản xuất sản phẩm các ngành: dệt - may; da -
giầy; điện tử - tin học; sản xuất lắp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm
này tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2015 trong nước chưa sản xuất được
25
hoặc sản xuất được nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên
minh Châu Âu (EU) hoặc tương đương.
- Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, trừ dự
án sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và dự án khai thác khoáng
sản, có quy mô vốn đầu tư tối thiểu mười hai nghìn tỷ đồng, sử dụng công
nghệ phải được thẩm định theo quy định của Luật Công nghệ cao, Luật Khoa
học và công nghệ, thực hiện giải ngân tổng vốn đầu tư đăng ký không quá
năm năm kể từ ngày được phép đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư.
(2) Áp dụng thuế suất 10% cho toàn bộ thời gian thực hiện dự án đối với:
- Thu nhập của DN từ thực hiện hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục,
đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường;
- Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư - kinh doanh nhà ở xã hội để
bán, cho thuê, cho thuê mua đối với các đối tượng quy định tại Điều 53 của
Luật Nhà ở;
- Thu nhập của cơ quan báo chí từ hoạt động báo in, kể cả quảng cáo trên báo
in theo quy định của Luật Báo chí; thu nhập của cơ quan xuất bản từ hoạt
động xuất bản theo quy định của Luật Xuất bản;
- Thu nhập của DN từ: trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; nuôi trồng, chế biến
nông sản, thủy sản ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; nuôi
trồng lâm sản ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; sản xuất,
nhân và lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; sản xuất, khai thác và tinh chế
muối, trừ sản xuất muối được miễn thuế TNDN theo quy định của pháp luật;
đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông sản, thủy sản và thực
phẩm;
- Thu nhập của hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp, diêm nghiệp không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trừ thu
nhập của hợp tác xã được miễn thuế TNDN theo quy định của pháp luật.
(3) Áp dụng thuế suất 20% (từ 01/01/2016 là 17%) trong thời gian mười năm đối
với:
26
- Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh
tế - xã hội khó khăn;
- Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới, bao gồm: sản xuất thép cao
cấp; sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng; sản xuất máy móc, thiết bị
phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp; sản
xuất thiết bị tưới tiêu; sản xuất, tinh chế thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản;
phát triển ngành nghề truyền thống.
(4) Áp dụng thuế suất 20% (từ 01/01/2016 là 17%) đối với thu nhập của Quỹ tín
dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô.
(5) Áp dụng thuế suất 15% đối với thu nhập của DN trồng trọt, chăn nuôi, chế
biến trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản không thuộc địa bàn có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn.
Ưu đãi miễn thuế, giảm thuế là hình thức miễn thuế từ khi DN có lợi nhuận
hoặc giảm 50% mức thuế suất được áp dụng. Tuy nhiên, nếu sau 3 năm kể từ khi
bắt đầu hoạt động mà DN không có lợi nhuận thì thời gian hưởng ưu đãi tính từ
năm thứ tư, kể từ khi DN bắt đầu hoạt động. Miễn giảm thuế có thời hạn được áp
dụng căn cứ vào điều kiện được hưởng ưu đãi, cụ thể:
(1) Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với:
- Thu nhập của DN được hưởng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm
như đã nêu ở trên.
- Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực xã hội hóa
thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó
khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 218/2013/NĐ-CP
được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 31/2021/NĐ-CP.
(2) Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo đối với
thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực xã hội hóa tại
địa bàn không thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn
hoặc đặc biệt khó khăn.
27
(3) Miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối
với thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới được hưởng mức ưu đãi thuế suất
20% (từ 01/01/2016 là 17%) trong thời gian mười năm như đã trình bày ở
trên và thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu CN (trừ khu
CN nằm trên địa bàn có điều kiện - kinh tế xã hội thuận lợi).
Địa bàn có điều kiện - kinh tế xã hội thuận lợi quy định tại Khoản này là các
quận nội thành của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc Trung ương và
các đô thị loại I trực thuộc tỉnh, không bao gồm các quận của đô thị loại đặc
biệt, đô thị loại I trực thuộc Trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh
mới được thành lập từ huyện kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009; trường hợp
khu CN nằm trên cả địa bàn thuận lợi và địa bàn không thuận lợi thì việc xác
định ưu đãi thuế đối với khu CN căn cứ vào vị trí thực tế của dự án đầu tư
trên thực địa. Việc xác định đô thị loại đặc biệt, loại I quy định tại Khoản này
thực hiện theo quy định của Chính phủ quy định về phân loại đô thị
Chuyển lỗ: lỗ phát sinh trong kỳ tính thuế là số chênh lệch âm về thu nhập
chịu thuế [22, tr.56]. DN sau khi quyết toán thuế mà bị lỗ thì chuyển toàn bộ và liên
tục số lỗ vào thu nhập (thu nhập chịu thuế đã trừ thu nhập miễn thuế) của những
năm tiếp theo. Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp
sau năm phát sinh lỗ. Quá thời hạn 5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ, nếu
số lỗ phát sinh chưa chuyển hết thì sẽ không được chuyển vào thu nhập của các năm
tiếp sau.
Ví dụ 1: Năm 2013 DN A có phát sinh lỗ là 10 tỷ đồng, năm 2014 DN A có
phát sinh thu nhập là 12 tỷ đồng thì toàn bộ số lỗ phát sinh năm 2013 là 10 tỷ đồng,
DN A phải chuyển toàn bộ vào thu nhập năm 2014.
Ví dụ 2: Năm 2013 DN B có phát sinh lỗ là 20 tỷ đồng, năm 2014 DN B có
phát sinh thu nhập là 15 tỷ đồng thì:
+ DN B phải chuyển toàn bộ số lỗ 15 tỷ đồng vào thu nhập năm 2014;
+ Số lỗ còn lại 5 tỷ đồng, DN B phải theo dõi và chuyển toàn bộ liên tục theo
nguyên tắc chuyển lỗ của năm 2013 nêu trên vào các năm tiếp theo, nhưng tối đa
không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ.
28
Trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của DN là hình thức ưu
đãi nhằm khuyến khích DN đầu tư, phát triển công nghệ, khoa học tiên tiến vào sản
xuất, kinh doanh. Cụ thể, DN thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
Việt Nam được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển
khoa học và công nghệ của DN. Riêng DN nhà nước, ngoài việc thực hiện trích Quỹ
phát triển khoa học và công nghệ theo quy định của Luật này còn phải bảo đảm tỷ lệ
trích Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tối thiểu theo quy định của pháp luật
khoa học và công nghệ. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của DN chỉ được sử
dụng cho đầu tư khoa học và công nghệ tại Việt Nam. DN không được hạch toán
các khoản chi từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của DN vào chi phí được trừ
khi xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế.
Trong thời hạn năm năm, kể từ khi trích lập, nếu Quỹ phát triển khoa học và
công nghệ không được sử dụng hoặc sử dụng không hết 70% hoặc sử dụng không
đúng mục đích thì DN phải nộp ngân sách nhà nước phần thuế TNDN tính trên
khoản thu nhập đã trích lập quỹ mà không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục
đích và phần lãi phát sinh từ số thuế TNDN đó. Thuế suất thuế TNDN dùng để tính
số thuế thu hồi là thuế suất áp dụng cho DN trong thời gian trích lập quỹ. Lãi suất
tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần quỹ không sử dụng hết là lãi suất trái
phiếu kho bạc loại kỳ hạn một năm áp dụng tại thời điểm thu hồi và thời gian tính
lãi là hai năm. Lãi suất tính lãi đối với số thuế thu hồi tính trên phần quỹ sử dụng sai
mục đích là lãi phạt chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế và thời gian tính
lãi là khoảng thời gian kể từ khi trích lập quỹ đến khi thu hồi.
Các trường hợp giảm thuế khác: (i) DN sản xuất, xây dựng, vận tải sử dụng
từ 10 đến 100 lao động nữ, trong đó số lao động nữ chiếm trên 50% tổng số lao
động có mặt thường xuyên hoặc sử dụng thường xuyên trên 100 lao động nữ mà số
lao động nữ chiếm trên 30% tổng số lao động có mặt thường xuyên của DN được
giảm thuế TNDN bằng số chi thêm cho lao động nữ, gồm: Chi đào tạo lại nghề; Chi
phí tiền lương và phụ cấp (nếu có) cho cô giáo dạy ở nhà trẻ, mẫu giáo do DN tổ
chức và quản lý; Chi khám sức khỏe thêm trong năm; Chi bồi dưỡng cho lao động
nữ sau khi sinh con; Lương, phụ cấp trả cho thời gian lao động nữ được nghỉ sau
29
khi sinh con, nghỉ cho con bú theo chế độ nhưng vẫn làm việc. (ii) DN sử dụng lao
động là người dân tộc thiểu số được giảm thuế TNDN bằng số chi thêm cho lao
động là người dân tộc thiểu số để đào tạo nghề, tiền hỗ trợ về nhà ở, bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số trong trường hợp chưa được Nhà nước
hỗ trợ theo chế độ quy định. (iii) DN thực hiện chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh
vực ưu tiên chuyển giao cho các tổ chức, cá nhân thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế
- xã hội khó khăn được giảm 50% số thuế TNDN tính trên phần thu nhập từ chuyển
giao công nghệ.
1.1.2.4. Vai trò của ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đầu tư trong lĩnh
vực công nghiệp hỗ trợ
Ưu đãi thuế TNDN trong lĩnh vực CNHT được áp dụng ở Việt Nam với mục
tiêu là tạo điều kiện giảm mức vốn đầu tư ban đầu hoặc giảm chi phí sản xuất, kinh
doanh của DN trong hoạt động lĩnh vực CNHT thông qua giảm nghĩa vụ thuế cho
DN. Từ đó thúc đẩy DN hoạt động trong lĩnh vực CNHT đầu tư vào nghiên cứu
phát triển để tăng trưởng có chiều sâu và đáp ứng yêu cầu hợp tác kinh doanh quốc
tế trong nền kinh tế tri thức [4]. Có thế thấy rằng việc giảm gánh nặng thuế đồng
thời tăng ưu đãi thuế trong lĩnh vực CNHT đã góp phần thúc đẩy DN mở rộng sản
xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tạo tiền đề cho sự phát triển ổn
định lâu dài của các DN. Dựa trên nghiên cứu của Lê Quang Thuận và Trương Bá
Tuấn [15], tác giả tổng hợp ra các vai trò của ưu đãi thuế TNDN đối với đầu tư
trong lĩnh vực CNHT như sau:
Mục tiêu của chính sách ưu đãi thuế là khuyến khích đầu tư vào địa bàn hoặc
lĩnh vực mà Chính phủ định hướng hoạt động đầu tư. Do Việt Nam đang trong quá
trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nên môi trường đầu tư vẫn còn nhiều
hạn chế như kết cấu hạ tầng kém phát triển, thiếu đồng bộ về khuôn khổ pháp lý.
Trình độ công nghệ, trình độ phát triển thị trường tài chính còn thấp nên việc ban
hành và áp dụng các chính sách ưu đãi thuế là tối ưu cần thiết để bù đắp những hạn
chế trên. Chính sách ưu đãi giúp Nhà nước hướng nguồn đầu tư vào các lĩnh vực
nhất định từ đó có tác dụng lan tỏa nhằm phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm tại
chỗ cho người lao động. Khi chính sách ưu đãi thuế khuyến khích đúng các sản
30
phẩm CNHT cần ưu tiên sản xuất, qua đó phát huy lợi thế cạnh tranh, khả năng sản
xuất trong nước và tiềm năng xuất khẩu, khả năng tham gia vào chuỗi sản xuất toàn
cầu hay tham gia chuỗi sản xuất cung ứng sản phẩm, thiết bị cho các công ty đa
quốc gia.
Áp dụng chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích đầu tư. Các chính sách này
góp phần huy động nguồn vốn trong và ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định. Thực tế đã cho thấy rõ khu vực đầu tư
trực tiếp nước ngoài đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.
Miễn, giảm thuế đã thúc đẩy gia tăng doanh thu xuất khẩu qua các năm, đặc biệt là
xuất khẩu của khu vực FDI. Ngoài ra, với sự tham gia mạnh mẽ của các hoạt động
xuất khẩu của khu vực FDI, xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao đã tăng
nhanh hơn nhóm các sản phẩm truyền thống khác.
Bên cạnh đó, việc giảm gánh nặng thuế và đa dạng hóa các hình thức ưu đãi
thuế đã góp phần tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước
ngoài. Việt Nam cũng trở thành địa điểm đầu tư hấp dẫn cho nguồn vốn đầu tư nước
ngoài. Các ưu đãi thuế TNDN còn góp phần tạo động lực phát triển ngành CNHT,
khuyến khích người dân bỏ vốn thành lập DN mới, đầu tư xây dựng dây chuyền sản
xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái…
Đồng thời có thể hướng các tổ chức, cá nhân đầu tư vào ngành CNHT theo đúng
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.
1.2. Lý luận pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đầu tư trong
lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
1.2.1. Khái niệm pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đầu tư
trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
Pháp luật thuế là một ngành luật phức tạp bởi nó luôn phải biến chuyển phụ
thuộc vào nền kinh tế - xã hội từng thời kỳ. Tại Việt Nam, cùng với quá trình cải
cách thuế, hệ thống chính sách ưu đãi thuế đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung.
Thời gian qua, CNHT đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và định
hướng là một trong những ngành ưu tiên phát triển và được ưu đãi đầu tư. Với sự ra
đời của Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ
31
về phát triển CNHT và các văn bản chính sách liên quan, hệ thống pháp luật, chính
sách về CNHT ngày càng được hoàn thiện, góp phần hỗ trợ thúc đẩy ngành CNHT
ngày càng phát triển và lớn mạnh. Bên cạnh quy định một văn bản riêng biệt hướng
dẫn CNHT, lĩnh vực này còn được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật như Luật
đầu tư 2020, Luật thuế TNDN 2008 được sửa đổi, bổ sung và các văn bản hướng
dẫn khác. Trong đó, Luật thuế TNDN là văn bản cụ thể hóa chính sách ưu đãi, giữ
vai trò hướng dẫn chi tiết các ưu đãi thuế TNDN trong lĩnh vực CNHT.
Dưới góc độ pháp lý, pháp luật thuế TNDN là tập hợp các quy phạm pháp
luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh những
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ thuế đối
với những khoản thu nhập có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ
chức kinh doanh và phi kinh doanh trong xã hội [19].
Ở Việt Nam, tiền thân của thuế TNDN là thuế lợi tức được áp dụng vào
trước năm 1990 và áp dụng cho các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh, các DN quốc
doanh thì áp dụng chế độ trích nộp lợi nhuận. Kể từ sau năm 1990, Nhà nước ta
thực hiện cải cách căn bản hệ thống chính sách thuế và Luật thuế lợi tức được ban
hành để áp dụng thống nhất chung đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động
sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Trải qua quá trình áp dụng trong
thực tiễn, Luật thuế lợi tức đã thu được nhiều kết quả hơn so với quy định cũ. Song
bên cạnh đó, do tình hình kinh tế - xã hội luôn có những bước phát triển mới, Luật
thuế lợi tức đã bộc lộ nhiều hạn chế. Do vậy, ngày 10/5/1997, Quốc hội đã thông
qua Luật thuế TNDN, chính thức có hiệu lực áp dụng ngày 01/01/1999. Kể từ khi
có hiệu lực thi hành, Luật thuế TNDN đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Những
lần sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN chủ yếu về các khía cạnh sau [15, tr.25]: (i)
thống nhất và giảm thuế suất thuế TNDN; (ii) cải cách cơ sở tính thuế TNDN; (iii)
điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế cho phù hợp với mục tiêu và thực tiễn; (iv) đơn
giản hóa công tác quản lý thuế TNDN.
Năm 2015 đã chứng kiến một bước tiến quan trọng đối với CNHT khi Quốc
hội đã bổ sung CNHT vào diện được hưởng ưu đãi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của các luật thuế. Tiếp theo sau đó là hàng loạt các văn bản chuyên ngành cũng
32
như các văn bản hướng dẫn được ban hành để hỗ trợ DN hoạt động trong lĩnh vực
CNHT. Theo đó, nhiều chính sách ưu đãi đối với CNHT được bổ sung và theo
Chính phủ Việt Nam, mục tiêu của các chính sách này là khuyến khích phát triển
CNHT tại Việt Nam, thúc đẩy CNH-HĐH.
1.2.2. Nội dung của pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đầu tư
trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
Quyền và nghĩa vụ thuế không tồn tại khách quan mà do ý chí của Nhà nước
quyết định. Khả năng hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ thuế TNDN xuất hiện khi
các tổ chức thỏa mãn những điều kiện luật định. Trong thuế TNDN, điều kiện cần
và đủ đó là việc các chủ thể này thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp
nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Đồng thời khi muốn hưởng các chính sách ưu đãi thuế
TNDN, các chủ thể cần đáp ứng các điều kiện về lĩnh vực, địa bàn, quy mô…được
quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật. Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ
đề cập đến ưu đãi thuế TNDN khi đáp ứng điều kiện liên quan đến CNHT, không
bàn đến những ưu đãi theo địa bàn, quy mô…
Ưu đãi thuế TNDN đối với đầu tư trong lĩnh vực CNHT vừa là đối tượng
điều chỉnh của pháp luật thuế TNDN, vừa là đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu
tư. Bên cạnh đó, lĩnh vực CNHT còn được quy định riêng trong các văn bản pháp
luật chuyên ngành khác. Các quy định này có mối quan hệ tương quan, hỗ trợ lẫn
nhau, quan hệ pháp luật này dẫn chiếu đến quy định của quan hệ pháp luật khác và
ngược lại. Chính vì vậy, khi nghiên cứu nội dung pháp luật ưu đãi thuế TNDN đối
với đầu tư trong lĩnh vực CNHT cần phải xem xét toàn diện tất cả các luật chung và
các luật chuyên ngành có liên quan nhằm có cái nhìn bao quát, đồng thời đánh giá
được tính thống nhất của các quy định này.
Đối tượng nộp thuế TNDN là các tổ chức gồm DN, hợp tác xã và các chủ
thể không phải là cá nhân có tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu
nhập. Khoản 1 Điều 2 Văn bản hợp nhất 14/VBHN-VPQH về Luật thuế TNDN
ngày 15/7/2020 quy định: người nộp thuế TNDN là tổ chức hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này
(sau đây gọi là DN). Theo đó, đối tượng nộp thuế TNDN có thể chia ra làm 5 nhóm:
33
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp
thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế
phát sinh ngoài Việt Nam;
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài có cơ
sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại
Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam liên quan đến cơ
sở thường trú đó; trường hợp không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp
thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.
- Tổ chức được thành lập theo Luật Hợp tác xã;
- Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
- Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.
Đối tượng, nội dung ưu đãi thuế TNDN
* Quy định của pháp luật đầu tư
Theo điểm a, d khoản 1 Điều 16 Luật Đầu tư 2020 có nêu ra các sản phẩm
CNHT công nghệ cao và sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm CNHT ưu
tiên phát triển thuộc ngành, nghề ưu đãi đầu tư. Và xác định rằng ưu đãi đầu tư
được áp dụng đối với dự án đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng; mức ưu đãi cụ thể
đối với từng loại ưu đãi đầu tư được áp dụng theo quy định của pháp luật thuế, kế
toán và đất đai.
* Quy định của pháp luật thuế TNDN
- Đối với dự án đầu tư mới:
Dự án đầu tư mới (bao gồm cả văn phòng công chứng thành lập tại các địa
bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc
biệt khó khăn) được hưởng ưu đãi thuế TNDN là dự án thực hiện lần đầu hoặc dự
án đầu tư độc lập với dự án đang thực hiện, trừ các trường hợp sau: Dự án đầu tư
hình thành từ việc: chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức DN theo
quy định của pháp luật; Dự án đầu tư hình thành từ việc chuyển đổi chủ sở hữu (bao
gồm cả trường hợp thực hiện dự án đầu tư mới nhưng vẫn kế thừa tài sản, địa điểm
kinh doanh, ngành nghề kinh doanh của DN cũ để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh
doanh; mua lại dự án đầu tư đang hoạt động). DN thành lập hoặc DN có dự án đầu
34
tư từ việc chuyển đổi loại hình DN, chuyển đổi sở hữu, chia, tách, sáp nhập, hợp
nhất được kế thừa các ưu đãi về thuế TNDN của DN hoặc dự án đầu tư trước khi
chuyển đổi, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất trong thời gian còn lại nếu tiếp tục đáp
ứng các điều kiện ưu đãi thuế TNDN.
Theo quy định của Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 có quy định thu
nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản
phẩm CNHT ưu tiên phát triển đáp ứng một trong các tiêu chí sau: (1) Sản phẩm
CNHT cho công nghệ cao theo quy định của Luật Công nghệ cao; (2) Sản phẩm
CNHT cho sản xuất sản phẩm các ngành: dệt - may; da - giầy; điện tử - tin học; sản
xuất lắp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm này tính đến ngày 01 tháng 01
năm 2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng phải đáp ứng
được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh Châu Âu (EU) hoặc tương đương. (Xem
thêm Danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển tại Phụ lục 1) thì được áp dụng
thuế suất 10% trong thời gian mười lăm năm; miễn thuế tối đa không quá bốn năm
và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín năm tiếp theo. Thời gian áp
dụng thuế suất ưu đãi được tính liên tục từ năm đầu tiên DN có doanh thu từ dự án
đầu tư mới. Thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với thu nhập của DN từ thực hiện
dự án đầu tư mới được tính từ năm đầu tiên có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư,
trường hợp không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên có
doanh thu từ dự án thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ
tư. Ngoài ra, DN có thể được hưởng các hình thức ưu đãi khác như chuyển lỗ, trích
lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của DN (xem thêm mục 1.1.2.3).
- Đối với dự án đầu tư mở rộng:
DN có dự án đầu tư phát triển dự án đầu tư đang hoạt động thuộc lĩnh vực ưu
đãi thuế TNDN (dự án đầu tư sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm CNHT
ưu tiên phát triển đáp ứng một trong hai tiêu chí đã nêu ở trên) mở rộng quy mô
sản xuất, nâng cao công suất, đổi mới công nghệ sản xuất (đầu tư mở rộng) nếu đáp
ứng một trong ba tiêu chí theo luật định thì được lựa chọn hưởng ưu đãi thuế theo
dự án đang hoạt động cho thời gian còn lại (nếu có) hoặc được miễn thuế, giảm thuế
đối với phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng. Thời gian miễn thuế tối đa
35
không quá bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín năm tiếp
theo. Thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm dự án đầu tư mở rộng hoàn
thành đưa vào sản xuất, kinh doanh có thu nhập; trường hợp không có thu nhập chịu
thuế trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án đầu tư mở rộng thì
thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư. Ngoài ra, DN có thể được
hưởng các hình thức ưu đãi khác như chuyển lỗ, trích lập Quỹ phát triển khoa học
và công nghệ của DN (xem thêm mục 1.1.2.3).
Dự án đầu tư mở rộng được hưởng ưu đãi quy định tại khoản này phải đáp
ứng một trong ba tiêu chí sau:
• Nguyên giá tài sản cố định tăng thêm khi dự án đầu tư hoàn thành đi vào
hoạt động đạt tối thiểu từ hai mươi tỷ đồng đối với dự án đầu tư mở rộng
thuộc lĩnh vực hưởng ưu đãi thuế TNDN;
• Tỷ trọng nguyên giá tài sản cố định tăng thêm đạt tối thiểu từ 20% so với
tổng nguyên giá tài sản cố định trước khi đầu tư;
• Công suất thiết kế tăng thêm tối thiểu từ 20% so với công suất thiết kế
trước khi đầu tư.
* Quy định của pháp luật CNHT
Đối tượng ưu đãi là các dự án sản xuất sản phẩm CNHT thuộc Danh mục sản
phẩm CNHT ưu tiên phát triển: Bao gồm dự án đầu tư mới, dự án mở rộng và đổi
mới công nghệ có ứng dụng thiết bị mới, quy trình sản xuất mới, sản xuất sản phẩm
với năng lực sản xuất tăng ít nhất 20%.
Quy định liên quan đến ưu đãi thuế TNDN đối với DN thực hiện các dự án
sản xuất sản phẩm CNHT được hướng dẫn tại Thông tư 21/2016/TT-BTC. Theo đó,
ưu đãi thuế TNDN được áp dụng đối với thu nhập của DN từ thực hiện dự án sản
xuất sản phẩm CNHT từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 đáp ứng các Điều kiện quy
định tại Luật số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 và các văn bản hướng
dẫn thi hành, được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản
phẩm CNHT (gọi tắt là Giấy xác nhận ưu đãi). Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản
phẩm CNHT ưu tiên phát triển là cơ sở để áp dụng ưu đãi thuế TNDN.
36
Ví dụ 1:
Trong kỳ tính thuế năm 2015, DN A được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư để thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm CNHT. Trong kỳ tính thuế năm
2016, dự án phát sinh doanh thu từ hoạt động sản xuất sản phẩm CNHT. Trong kỳ
tính thuế năm 2017, dự án được cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm
CNHT. Trong kỳ tính thuế năm 2018, dự án phát sinh thu nhập từ hoạt động sản
xuất sản phẩm CNHT. Thời gian bắt đầu tính ưu đãi thuế TNDN đối với dự án đầu
tư nêu trên như sau: năm 2017 là năm đầu tiên áp dụng thuế suất ưu đãi, năm 2018
là năm đầu tiên được miễn thuế nếu thực tế đáp ứng các Điều kiện ưu đãi theo quy
định.
Ví dụ 2:
Trong kỳ tính thuế năm 2016, DN B được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư để thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm CNHT. Trong kỳ tính thuế năm
2017, dự án phát sinh doanh thu từ hoạt động sản xuất sản phẩm CNHT. Trong kỳ
tính thuế năm 2018, dự án phát sinh thu nhập từ hoạt động sản xuất sản phẩm
CNHT. Trong kỳ tính thuế năm 2019, dự án được cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản
xuất sản phẩm CNHT. Thời gian bắt đầu tính ưu đãi thuế TNDN đối với dự án đầu
tư nêu trên như sau: năm 2019 là năm đầu tiên áp dụng thuế suất ưu đãi, năm 2019
là năm đầu tiên được miễn thuế nếu thực tế đáp ứng các Điều kiện ưu đãi theo quy
định.
Điều kiện áp dụng ưu đãi thuế TNDN
Các ưu đãi về thuế TNDN chỉ áp dụng đối với DN thực hiện chế độ kế toán,
hóa đơn, chứng từ và nộp thuế TNDN theo kê khai.
Trong thời gian đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN nếu DN thực hiện
nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh thì DN phải tính riêng thu nhập từ hoạt động
sản xuất, kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế TNDN (bao gồm mức thuế suất ưu
đãi, mức miễn thuế, giảm thuế) và thu nhập từ hoạt động kinh doanh không được
hưởng ưu đãi thuế để kê khai nộp thuế riêng. Trường hợp trong kỳ tính thuế, DN
không tính riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế
và thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh không được hưởng ưu đãi thuế thì
37
phần thu nhập của hoạt động sản xuất kinh doanh ưu đãi thuế xác định bằng (=)
tổng thu nhập tính thuế nhân (x) với tỷ lệ phần trăm (%) doanh thu hoặc chi phí
được trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh ưu đãi thuế so với tổng doanh thu hoặc
tổng chi phí được trừ của DN trong kỳ tính thuế. Trường hợp có khoản doanh thu
hoặc chi phí được trừ không thể hạch toán riêng được thì khoản doanh thu hoặc chi
phí được trừ đó xác định theo tỷ lệ giữa doanh thu hoặc chi phí được trừ của hoạt
động sản xuất, kinh doanh hưởng ưu đãi thuế trên tổng doanh thu hoặc chi phí được
trừ của DN.
Trong cùng một thời gian, nếu DN được hưởng nhiều mức ưu đãi thuế khác
nhau đối với cùng một khoản thu nhập thì DN được lựa chọn áp dụng mức ưu đãi
thuế có lợi nhất.
Chuyển tiếp ưu đãi
Chuyển tiếp ưu đãi là một quy định vô cùng quan trọng nhằm đảm môi
trường đầu tư được ổn định, giúp nhà đầu tư yên tâm khi quyết định đầu tư. Do vậy,
việc ban hành các điều khoản chuyển tiếp ưu đãi là một công việc phức tạp bởi vì
nhà làm luật cần phải dự liệu rất nhiều tình huống sẽ phát sinh cũng như nghiên cứu
những định hướng tạo nên sự công bằng trong môi trường kinh doanh.
Luật Đầu tư năm 2020 đã có quy định về vấn đề bảo đảm đầu tư kinh doanh
trong trường hợp thay đổi pháp luật. Cụ thể khi có văn bản pháp luật mới có hiệu
lực, nếu các quy định ưu đãi đầu tư trong văn bản này thuận lợi hơn cho nhà đầu tư
thì nhà đầu tư được hưởng ưu đãi đầu tư theo của văn bản mới, nếu các quy định ưu
đãi đầu tư thấp hơn so với ưu đãi mà nhà đầu tư đang được hưởng thì nhà đầu tư
tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định cũ cho thời gian ưu đãi còn lại của dự
án.
Điều khoản chuyển tiếp cũng được quy định trong pháp luật thuế TNDN
“DN có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định của pháp luật
thuế TNDN tại thời điểm cấp phép hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư theo quy định
của pháp luật đầu tư. Trường hợp pháp luật thuế TNDN có thay đổi mà DN đáp
ứng điều kiện ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung
thì DN được quyền lựa chọn hưởng ưu đãi về thuế suất và về thời gian miễn thuế,
38
giảm thuế theo quy định của pháp luật tại thời điểm được phép đầu tư hoặc theo
quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung cho thời gian còn lại kể từ khi
pháp luật thuế TNDN sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành”.
Quy định của pháp luật CNHT có quy định việc xử lý chuyển tiếp như sau:
“Các dự án đang sản xuất sản phẩm CNHT thuộc Danh mục sản phẩm CNHT ưu
tiên phát triển tiếp tục được hưởng các ưu đãi hiện có và được hưởng các ưu đãi
mới theo quy định tại Nghị định này”.
1.3. Kinh nghiệm của Thái Lan và Malaysia về ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp đối với đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
1.3.1. Kinh nghiệm Thái Lan và Malaysia
Công nghiệp hỗ trợ là lĩnh vực được nhiều nước trên thế giới quan tâm từ lâu
và trong quá trình phát triển CNHT, các quốc gia này đã để lại rất nhiều bài học quý
giá. Phần này giới thiệu kinh nghiệm của 2 nước ASEAN có nhiều điểm tương đồng
với Việt Nam là Malaysia và Thái Lan.
Malaysia và Thái Lan đã xây dựng và phát triển CNHT từ 30 - 40 năm trước,
họ đã tạo được sức mạnh to lớn cả về cơ sở vật chất, khả năng liên kết và nắm giữ
thị phần của DN. Trong xu thế phát triển cạnh tranh mang tính toàn cầu, các nước
trong khu vực đều cam kết thúc đẩy CNHT trong các DNNVV, song mối quan tâm
này có sự khác biệt. Chương trình kết nối CN của Malaysia khuyến khích hợp tác
sản xuất giữa DN FDI và DN trong nước, song mối quan tâm hàng đầu lại là đẩy
mạnh công nghệ cao có tính đổi mới và độc lập trong các DNNVV. Ngược lại tại
Thái Lan, Chính phủ vẫn áp dụng chiến lược truyền thống nhằm thu hút nhiều nhất
FDI chế tạo và thúc đẩy DN trong nước kết hợp với FDI. Theo đó, họ không ngừng
nâng cấp cụm CN ô tô, vốn đã lớn nhất trong khu vực ASEAN và coi đó là trụ cột
chính trong chính sách CN [39]. Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến
các chính sách về ưu đãi thuế đối với CNHT tại Thái Lan và Malaysia, không đi sâu
phân tích các chính sách khác (tổ chức đào tạo huấn luyện, liên kết các cụm CN,
phát triển DNNVV…).
❖ Thái Lan
Là nước đứng đầu ASEAN về phát triển các ngành CNHT phục vụ cho nhu
cầu sản xuất của các DN có vốn FDI. Điều này đã biến Thái Lan thành cứ điểm sản
39
xuất nhiều mặt hàng xuất khẩu như ô tô, xe máy, hàng điện tử, điện lạnh, điện gia
dụng… của các công ty đa quốc gia.
Nắm bắt được xu hướng phát triển của CNHT, những năm 1960 Thái Lan đã
thực thi chiến lược CN hoá thay thế nhập khẩu, từ năm 1970, nước này thực thi
chiến lược CN hoá định hướng xuất khẩu. Thái Lan đã lựa chọn 3 lĩnh vực ưu tiên
là CN kỹ thuật, CN chế biến và DNNVV nông thôn. Khuyến khích phát triển gia
công kim loại, chế tạo linh kiện, phụ tùng hỗ trợ cho sản phẩm viễn thông và điện tử
xuất khẩu [40]. Theo nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Tường Anh [1], Thái Lan đã
đặc biệt chú trọng vào các chính sách khuyến khích và bảo vệ thị trường nội địa như
chính sách nội địa hóa, giảm thuế nhằm phát triển nhanh các ngành sản xuất, từ đó
làm tăng nhu cầu đối với các ngành CNHT. Đồng thời, nước này đã tận dụng lợi thế
việc các công ty của Nhật Bản ồ ạt đầu tư sang các nước trong khu vực ASEAN để
phát triển CNHT trong nước. Bên cạnh đó, Thái Lan còn khuyến khích các DN đổi
mới công nghệ thông qua việc miễn thuế TNDN, miễn thuế nhập khẩu máy móc
thiết bị trong một thời gian nhất định đối với những DN hoạt động trong lĩnh vực
CNHT. Ngoài ra, nước này đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi về thuế, thành lập các
khu tự do thương mại cho các dự án đầu tư vào phát triển các ngành CN trọng điểm.
Nổi bật nhất là hoạt động tăng cường liên kết với các DN FDI, đặc biệt là các DN
Nhật Bản. Những năm qua, có thể thấy, vai trò của các DN FDI trong việc phát
triển CNHT ở Thái Lan là rất lớn, nó được thể hiện thông qua chuyển giao công
nghệ cho các công ty CNHT trong nước.
Về chính sách phát triển CNHT, ở Thái Lan, có hai tổ chức đã hoạt động
trong việc thúc đẩy các ngành CNHT. Đó là BSID và BOI hay BUILD. BSID chủ
yếu tập trung vào việc hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo, đặc biệt là khuôn mẫu, đúc và thử
nghiệm công nghệ, trong khi BUILD chủ yếu tập trung vào xúc tiến tiếp thị [10].
Với nguồn ngân sách trong nước và hỗ trợ nước ngoài, BSID đã xây dựng các dự án
hữu ích, tập trung vào ba khía cạnh chính là con người, công nghệ và liên kết cũng
như thúc đẩy, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ, đào tạo và tư vấn kỹ
thuật. Bên cạnh đó, BOI trong nỗ lực phát triển các mối liên kết giữa các nhà cung
cấp các linh kiện, phụ tùng địa phương và các DN lắp ráp lớn, các tập đoàn xuyên
quốc gia đặc biệt, bao gồm cả ở cả Thái Lan và các nước khác.
40
Về ưu đãi đầu tư, BOI chịu trách nhiệm về phê duyệt và cấp ưu đãi đầu tư.
Theo thông báo số 10/2552 của BOI, có 7 lĩnh vực được BOI xếp loại ưu tiên miễn
thuế nhập khẩu máy móc và miễn thuế TNDN trong 8 năm. Trong đó có 2 lĩnh vực
quan trọng là sản phẩm kim loại, máy móc, thiết bị và CN điện tử, đồ điện gia dụng,
các sản phẩm CNHT cũng được tập trung ưu đãi trong 2 lĩnh vực này.
Bảng 1.1. Các sản phẩm ưu tiên trong công nghiệp máy và điện – điện tử
Chế tạo thiết bị điện CN
Chế tạo các sản phẩm điện
Sản phẩm kim loại, máy móc, thiết bị Công nghiệp điện tử và đồ điện gia dụng Chế tạo các công cụ bằng tay và công cụ đo lường Chế tạo máy móc, thiết bị và linh phụ kiện Chế tạo các sản phẩm kim loại, bao gồm các linh phụ kiện kim loại Xử lý bề mặt và xử lý bề mặt anốt hóa Xử lý nhiệt
Chế tạo các linh phụ kiên, thiết bị sử dụng cho các sản phẩm điện Chế tạo các sản phẩm điện tử Chế tạo các linh phụ kiện, thiết bị điện tử sử dụng cho dụng cụ điện tử Chế tạo nguyên vật liệu cho vi điện tử Thiết kế điện tử Phần mềm
Thương mại điện tử
Đóng và sửa chữa tàu Sản xuất các loại xe điện Đóng tàu hoặc tàu điện hoặc thiết bị, linh phụ kiện Chế tạo, sửa chữa hoặc chuyển đổi máy bay, bao gồm cả thiết bị và linh phụ kiện máy bay Chế tạo linh phụ kiện xe cộ Sản xuất xe máy Sản xuất ô tô Chế tạo động cơ và thiết bị đa mục đích Chế tạo xe sử dụng khí tự nhiên và các máy móc, thiết bị sử dụng khí tự nhiên Chế tạo Pin nhiên liệu Sửa chữa các linh phụ kiện xe, các thiết bị điện, điện tử Sửa chữa máy móc, thiết bị CN Chế tạo, sửa chữa, bảo dưỡng côngtenơ Chế tạo các sản phẩm có cấu trúc kim loại, bệ máy Sản xuất nhà lắp ghép dạng hoàn chỉnh (CBU) hoặc dạng rời (CKD)
Nguồn: BOI_Thông báo số 10/2552
41
❖ Malaysia
Dù xếp sau Thái Lan ở khu vực Đông Nam Á về phát triển CNHT nhưng
Malaysia cũng có định hướng phát triển CNHT từ rất sớm. Theo đó, Chính phủ
Malaysia đã thực hiện nhiều chương trình, chính sách khuyến khích phát triển
ngành CNHT, như: Ưu đãi thu hút DN FDI vào các ngành CNHT thông qua chính
sách ưu đãi thuế cho các DN FDI đầu tư vào sản xuất máy móc và linh kiện; sản
xuất các thiết bị giao thông và linh kiện phụ tùng; sản xuất các thiết bị và linh kiện
điện, điện tử; sản xuất các sản phẩm nhựa. Xây dựng các chương trình phát triển các
ngành CN quy mô nhỏ và vừa để phát triển các nhà cung cấp linh phụ kiện. Mục
tiêu chính của chính sách này là nhằm tạo ra một thị trường CN mà các công ty CN
quy mô nhỏ và vừa của Malaysia có thể trở thành những nhà sản xuất và cung cấp
đáng tin cậy về các sản phẩm đầu vào CN như: máy móc, thiết bị cho ngành CN lớn
[39].
Từ năm 1958 Malaysia đã vận dụng chính sách ưu đãi CN tiên phong cho
những nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng thay thế nhập khẩu. Vào những năm
1970, chính sách CN đã định hướng xuất khẩu dựa vào các nhà sản xuất hàng lắp
ráp và chế biến. Năm 1980, Nhà nước can thiệp sâu vào phát triển CN nặng, liên
doanh, thành lập DN Nhà nước, hình thành nền móng CN rộng lớn. Malaysia cũng
đã đưa ra một loạt chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài; hỗ trợ về thuế cho
sản xuất máy móc và linh kiện, các thiết bị giao thông, linh kiện điện tử, các sản
phẩm nhựa [13].
Tương tự Thái Lan, Malaysia cũng có một cơ quan chuyên trách về cấp giấy
phép đầu tư và ưu đãi đầu tư là Cục Phát triển CN Malaysia (MIDA). Một điều
đáng chú ý là đặc điểm chung của các dự án xúc tiến CNHT là chủ yếu dành cho
các nhà cung cấp của CN ô tô và CN điện-điện tử (tương tự ở Thái Lan). Ở cả hai
nước này, thuật ngữ CNHT không bao gồm các ngành CN phi cơ khí như dệt may,
da giầy và chế biến thực phẩm [11].
Hiện nay, các chương trình ưu đãi chính của MIDA gồm có:
- Tư cách tiên phong (PS): miễn thuế TNDN trong khoảng từ 70% đến 100%
thu nhập hợp pháp trong vòng từ 5 đến 10 năm. Chương trình này được khởi
42
xướng năm 1958, đây là chương trình ưu đãi lâu đời nhất của Malaysia. Một
DN được công nhận tư cách này sẽ hưởng 5 năm miễn 70% thuế TNDN (chỉ
trả 30%) thường ở mức 25% thu nhập hợp pháp (được định nghĩa là tổng thu
nhập trừ chi phí kinh doanh và trợ cấp vốn). Thời gian hưởng ưu đãi này bắt
đầu từ “ngày sản xuất” của DN được định nghĩa là ngày mức sản xuất đạt
30% năng lực sản xuất. Trợ cấp vốn chưa khấu trừ và thua lỗ tích lũy trong
thời gian thụ hưởng tư cách tiên phong có thể được chuyển sang và khấu trừ
vào thu nhập sau thời gian hưởng tư cách tiên phong.
- Trợ cấp thuế đầu tư (ITA): 60% đến 100% chi phí vốn hợp lệ trong vòng 5
đến 10 năm có thể được bù bằng 70% đến 100% thu nhập hợp pháp. Là hình
thức ưu đãi thay thế của tư cách tiên phong, một DN có thể chọn ITA để
được nhận trợ cấp 60% chi phí vốn hợp lệ (cơ cấu, máy móc, thiết bị) cho dự
án đã được thông qua trong vòng 5 năm kể từ ngày chi phí vốn hợp lệ đầu
tiên được thực hiện. DN có thể khấu trừ trợ cấp này vào 70% thu nhập hợp
pháp từng năm. Phần trợ cấp chưa sử dụng có thể được chuyển sang những
năm tiếp theo cho đến khi sử dụng hết. 30% còn lại của thu nhập hợp pháp sẽ
chịu thuế tại mức thuế hiện hành.
Nhà đầu tư có thể chọn hoặc PS hoặc ITA. Việc cấp ưu đãi thuế và phi thuế
cho các DN tư nhân dựa trên hai bước: danh mục hợp lệ đã công bố và kết quả đánh
giá có tổ chức. Để có được ưu đãi, các hoạt động và sản phẩm phải nằm trong danh
mục hợp lệ và sẽ được Ủy ban hành động của MIDA quyết định có ưu đãi hay
không tại các buổi họp hàng tuần.
Về cách thức đánh giá, trước hết Vụ CN của MIDA sẽ đánh giá các đơn xin
hưởng ưu đãi thuế liên quan đến CN chế tạo, kết quả đánh giá của họ sẽ được gửi
lên Ủy ban hành động của MIDA xem xét, cân nhắc từng trường hợp tại các buổi
họp hàng tuần do Tổng giám đốc MIDA chủ trì. Ủy ban sẽ không thông qua một
cách tự động mà đánh giá tầm quan trọng của từng đơn xin hưởng ưu đãi, xem xét
dự án đó có thực sự là dự án sản xuất chế tạo hay chỉ là thương mại, có phải là hoạt
động mang lại giá trị hay không, và có thúc đẩy phát triển công nghệ hay kết nối
CN hay không [30].
43
Các danh mục hợp lệ rất đa dạng. Hiện nay, danh mục các hoạt động và sản
phẩm xúc tiến trong CN chế tạo có hiệu lực từ tháng 3 năm 2012 gồm: (i) danh mục
tổng hợp; (ii) Các DN công nghệ cao; (iii) Các DN quy mô nhỏ; (iv) Các ngành CN
đặc biệt; (v) Hoạt động ưu đãi và sản phẩm tái đầu tư.
Bảng 1.2. Danh mục các hoạt động, sản phẩm trong ngành chế tạo (i)
Danh mục tổng hợp
I. Sản xuất nông nghiệp VIII. Sản xuất bột giấy,
II. Chế biến sản phẩm nông nghiệp giấy và bìa IX. Sản xuất các sản phẩm từ cây kenaf
III. Sản xuất các sản phẩm cao su X. Sản xuất hàng dệt và các sản phẩm dệt may
IV. Chế biến các XV. Sản phẩm hỗ trợ hoặc dịch vụ XVI. Chế tạo các sản phẩm điện, điện tử và linh phụ kiện XVII. Chế tạo thiết bị và phụ tùng chuyên dụng cho y tế, khoa học và đo kiểm XVIII. Chế tạo các sản phẩm nhựa sản phẩm và chiết xuất từ dầu cọ
V. Sản xuất hóa chất và XI. Sản xuất các sản phẩm từ đất sét, cát và phi kim XII. Sản xuất sắt và thép XIX. Các trang thiết bị hóa dầu
bảo hộ XX. Dịch vụ sản xuất
VI. Sản xuất dược và các sản phẩm liên quan
VII. Chế biến các sản
XXI. CN kinh doanh khách sạn và du lịch XXII. Các sản phẩm khác phẩm từ gỗ XIII. Sản xuất kim loại màu và các sản phẩm từ kim loại màu XIV. Chế tạo máy và phụ kiện
Nguồn: MIDA
Có thể thấy rõ trong danh mục trên có rất nhiều các hoạt động và sản phẩm
liên quan đến CNHT, ví dụ trong nhóm XV. Sản phẩm hỗ trợ hoặc dịch vụ gồm
(đúc kim loại, rèn kim loại, xử lý bề mặt, gia công cơ khí, công cụ và khuôn mẫu,
xử lý nhiệt).
1.3.2. Một số bài học rút ra cho Việt Nam
Từ kinh nghiệm của Thái Lan và Malaysia, có thể rút ra một số kinh nghiệm
cho Việt Nam để áp dụng ưu đãi thuế TNDN một cách có hiệu quả trong lĩnh vực
CNHT như sau:
44
Một là, coi trọng vai trò của chính phủ. Nâng cao nhận thức và tầm nhìn của
các cơ quan quản lý nhà nước, các ngành, các cấp, DN, người dân về vấn đề này.
Từ việc đã có những nhận thức đúng đắn chúng ta mới có sự tăng cường đầu tư
đúng hướng. Do đó, chính sách phát triển CNHT phải rõ ràng và có tính khả thi cao,
triển khai cụ thể theo từng lĩnh vực, như nghiên cứu thị trường, thu hút đầu tư, đào
tạo nguồn nhân lực, đầu tư hạ tầng, khuyến khích khởi nghiệp và hỗ trợ DNNVV về
sản xuất CNHT [18].
Hai là, chuyên môn hóa sản phẩm CNHT. Thái Lan, Malaysia đã rất thành
công khi tập trung ưu tiên phát triển một số ngành CNHT và tìm cho mình những
linh kiện cơ bản để tập trung chuyên môn hóa. Việt Nam cần xác định rõ các ngành,
các sản phẩm CNHT ưu tiên để có thể tập trung nguồn lực cũng như định hướng để
hấp dẫn DN đầu tư.
Ba là, cần có một cơ quan chuyên trách về sản xuất CNHT. Cơ quan này có
nhiệm vụ tổng hợp các chính sách; quản lý các DN sản xuất CNHT; hỗ trợ kịp thời
nhà đầu tư về chính sách, thủ tục, ưu đãi; tổ chức các buổi tọa đàm, huấn luyện đào
tạo, xây dựng các chương trình liên kết giữa các DN để tạo ra sức lan tỏa cho ngành
CNHT.
45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu khác, luận văn đã hệ thống hóa
cơ sở lý luận cơ bản về CNHT với các nội dung khái niệm, đặc điểm và vai trò của
CNHT. Phần lý luận cũng đã khái quát chung về ưu đãi thuế TNDN với các nội
dung về khái niệm, đặc trưng, các hình thức và vai trò của ưu đãi thuế TNDN. Theo
đó, ưu đãi thuế TNDN trong lĩnh vực CNHT là việc Nhà nước dành cho các tổ chức
hoạt động sản xuất sản phẩm CNHT được ưu tiên phát triển có thu nhập chịu thuế
những điều kiện thuận lợi hơn về thuế suất, về thời gian miễn, giảm thuế và những
vấn đề khác nhằm thu hút đầu tư, hỗ trợ, giúp đỡ các DN đó trong quá trình hoạt
động, góp phần tạo động lực phát triển CNHT và thực hiện mục tiêu phát triển kinh
tế – xã hội.
Chương này cũng trình bày lý luận pháp luật ưu đãi thuế TNDN đối với đầu
tư trong lĩnh vực CNHT tại Việt Nam hiện nay. Theo đó, rút ra kết luận dự án sản
xuất sản phẩm CNHT có thể đạt được mức ưu đãi thuế TNDN cao nhất (thuế suất
10% trong thời gian mười lăm năm; miễn thuế tối đa không quá bốn năm và giảm
50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín năm tiếp theo).
Tiếp theo, luận văn đã tiếp cận và nghiên cứu một số kinh nghiệm từ hai
quốc gia đã rất thành công với CNHT là Thái Lan và Malaysia. Từ đó rút ra một số
bài học quý giá cho Việt Nam, cụ thể là cần coi trọng vai trò của Chính phủ, chuyên
môn hóa CNHT và cần có một cơ quan chuyên trách quản lý lĩnh vực này.
46
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
ĐẦU TƯ VỀ ƯU ĐÃI THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRONG
LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật đầu tư về ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam
hiện nay
Nhận thức được tầm quan trọng của CNHT, Nhà nước ta đã ban hành nhiều
chính sách ưu đãi dành riêng cho lĩnh vực này, đặc biệt là ưu đãi thuế TNDN. Hiện
nay có nhiều hình thức ưu đãi thuế TNDN như ưu đãi thuế suất; miễn, giảm thuế
suất; chuyển lỗ; trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của DN. Dưới đây,
luận văn chỉ tập trung đánh giá thực trạng pháp luật liên quan đến hai hình thức phổ
biến nhất của ưu đãi thuế TNDN, đó là thuế suất ưu đãi và miễn thuế, giảm thuế từ
đó phát hiện những ưu khuyết điểm trong quá trình thực hiện pháp luật và đưa pháp
luật vào thực tiễn.
2.1.1. Thực trạng pháp luật đầu tư về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong
lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam hiện nay
2.1.1.1. Về thuế suất và thời hạn miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
Để thu hút vốn đầu tư nước ngoài; khuyến khích xuất khẩu; định hướng đầu
tư vào các ngành nghề, lĩnh vực hoặc địa bàn theo chiến lược của nhà nước; phát
triển công nghệ; các quốc gia đã chuyển sang áp dụng nhiều công cụ chính sách
khác nhau, trong đó có chính sách ưu đãi thuế. Theo đó, việc áp dụng chính sách ưu
đãi thuế đã trở nên khá phổ biến và được nhiều nước vận dụng. Đối với nhiều quốc
gia, ưu đãi thuế đã được xem là công cụ linh hoạt và cần thiết để thực hiện khuyến
khích đầu tư [23].
Tại Việt Nam hiện nay, hai chính sách ưu đãi thuế TNDN tiêu biểu nhất
nhằm phát triển CNHT là ưu đãi về thuế suất và miễn thuế, giảm thuế trong thời hạn
nhất định. Theo quy định của Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 có quy định
thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục
47
sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển đáp ứng một trong các tiêu chí sau: (1) Sản
phẩm CNHT cho công nghệ cao theo quy định của Luật Công nghệ cao; (2) Sản
phẩm CNHT cho sản xuất sản phẩm các ngành: dệt - may; da - giầy; điện tử - tin
học; sản xuất lắp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm này tính đến ngày 01
tháng 01 năm 2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng phải
đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh Châu Âu (EU) hoặc tương đương.
thì được áp dụng thuế suất 10% trong thời gian mười lăm năm; miễn thuế tối đa
không quá bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín năm tiếp
theo. DN có dự án đầu tư mở rộng sản xuất sản phẩm CNHT đáp ứng các điều kiện
luật định thì được miễn thuế tối đa không quá bốn năm và giảm 50% số thuế phải
nộp tối đa không quá chín năm tiếp theo. Quy định được các văn bản pháp luật khác
(Luật đầu tư, Nghị định hướng dẫn CNHT) dẫn chiếu đến Luật thuế TNDN và được
thể hiện tập trung tại văn bản này. Điều này góp phần tạo nên sự thống nhất giữa
các quy định và thuận lợi trong việc tra cứu áp dụng. Tuy nhiên, Luật thuế TNDN
của Việt Nam lại được sửa đổi, bổ sung nhiều lần gây ra sự khó khăn cho những
người mới tiếp cận, tìm hiểu lĩnh vực này.
Trên thực tế, có khá nhiều quan điểm trái ngược nhau về hiệu quả của chính
sách ưu đãi thuế nêu trên, ví dụ trong một khía cạnh nào đó nó cũng đặt ra các vấn
đề như giảm nguồn thu ngân sách nhà nước, gây méo mó trong phân bổ nguồn lực
trong nền kinh tế, làm gia tăng tính phức tạp của hệ thống chính sách thuế, cụ thể:
Một trong những vấn đề mà chính phủ cần quan tâm khi áp dụng chính sách
ưu đãi thuế TNDN là việc giảm thu ngân sách, thể hiện qua hai hình thức. Hình
thức thứ nhất thể hiện qua phần ngân sách bị giảm đối với những dự án mà nhà đầu
tư không quan tâm nhiều đến ưu đãi, nếu không có các ưu đãi này thì dự án vẫn
được thực hiện. Hình thức thứ hai là giảm thu ngân sách từ những kẽ hở của pháp
luật do sự lạm dụng chính sách ưu đãi thuế của người nộp thuế, ví dụ như thông qua
chuyển lợi nhuận từ DN liên quan đến DN được hưởng ưu đãi. Hiện nay, chính sách
ưu đãi thuế ở Việt Nam là khá cao, điều này đồng nghĩa với việc tác động lên ngân
sách nhà nước nhiều hơn. Ví dụ, năm 2013 khi trình Dự án luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật thuế TNDN, trong đó có bổ sung chính sách ưu đãi thuế đối
48
với đầu tư mở rộng, Chính phủ Việt Nam đã ước tính việc bổ sung sẽ làm giảm thu
ngân sách khoảng 2.080 tỷ đồng1.
Áp dụng ưu đãi thuế để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể sẽ không
có ý nghĩa đối với nhà đầu tư nếu quốc gia của nhà đầu tư thực hiện thu thuế dựa
theo thu nhập toàn cầu. Hiện tại, các quốc gia phát triển như Mỹ, Anh, Nhật Bản là
những nước có số lượng nhà đầu tư lớn tại các nước đang phát triển. Tuy nhiên, các
quốc gia này lại áp dụng việc thu thuế TNDN trên nguyên tắc cơ sở thường trú và
thu trên thu nhập toàn cầu. Đồng thời, các quốc gia này cũng thường áp dụng cơ chế
tránh đánh thuế trùng bằng cách cho phép nhà đầu tư được giảm trừ nghĩa vụ thuế
đối với phần thuế đã nộp ở nước ngoài. Vì vậy, ưu đãi thuế góp phần làm giảm
nghĩa vụ thuế đối với các nhà đầu tư đến từ các quốc gia phát triển đồng thời giảm
mức giảm trừ thuế mà họ được hưởng ở tại nước mình nếu không có điều khoản
giới hạn nghĩa vụ thuế2 trong các hiệp định tránh đánh thuế trùng giữa quốc gia đầu
tư và quốc gia tiếp nhận đầu tư [15, tr 15].
Ưu đãi thuế có thể làm phát sinh các chi phí gián tiếp như chi phí hành chính
và quản lý ưu đãi thuế. Bởi tính chất đặc thù, ưu đãi thuế luôn cần phải có những
quy định riêng biệt để điều chỉnh. Điều đó vô hình nhưng làm gia tăng lên số lượng
các văn bản hưởng dẫn cũng như gây ra một số khó khăn trong việc quản lý, áp
dụng các quy định liên quan đến ưu đãi thuế. Thực tế, để tìm hiểu các chính sách về
ưu đãi thuế TNDN đối với lĩnh vực CNHT, DN cần phải tra cứu rất nhiều văn bản
từ đầu tư đến luật thuế và các văn bản chuyên ngành CNHT. Điều này gây ra tâm lý
e ngại cho nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào Việt Nam bởi sự phức tạp trong
1 Tờ trình số 160/TTr-CP ngày 23/4/2013 của Chính phủ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một điều của Luật thuế TNDN năm 2013. 2Giới hạn thuế là “thỏa thuận mà nhiều quốc gia cho phép DN được hưởng những lợi ích do ưu đãi thuế mà DN được hưởng ở các quốc gia khác”. Nghĩa là giới hạn thuế là quy định mà một quốc gia cho phép nhà đầu tư được giảm trừ nghĩa vụ thuế đối với phần thu nhập từ nước ngoài tương đương với số tiền thuế được miễn ở nước ngoài.
chính sách và phải trải qua nhiều cơ quan xét duyệt.
49
Nguồn: [21]
Ưu đãi thuế có thể dẫn đến cạnh tranh thuế. Một quốc gia áp dụng chính sách
ưu đãi thuế có thể kéo theo quốc gia khác áp dụng chính sách tương tự để cạnh
tranh thu hút vốn đầu tư [26, tr.29-30]. Trong một nghiên cứu [21], các nhà nghiên
cứu cho rằng mặc dù các quốc gia thành viên ASEAN đạt được tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao và ổn định trong nhiều thập kỷ, tuy nhiên hầu hết lại ghi nhận mức thu
ngân sách tương đối thấp. Điều này là do trong khi phụ thuộc lớn vào nguồn thu từ
thuế TNDN, nhưng với mục tiêu thu hút đầu tư đồng thời gia nhập vào các hiệp
định thương mại tự do với những cam kết sâu về thuế quan, các nước này đang dần
mất đi các khoản thu ngân sách rất lớn thông qua việc giảm thuế suất phổ thông và
cung cấp ưu đãi thuế lớn cho cả nhà đầu tư trong và ngoài nước. Thậm chí, các ưu
đãi thuế này khiến các DN chỉ tập trung vào việc giảm gánh nặng thuế hơn là mở
rộng sản xuất. Điều đáng lưu ý là trong những năm gần đây, nhiều nước đã từng
bước bãi bỏ ưu đãi thuế nhằm đảm bảo tính công bằng và tính trung lập của thuế
như trường hợp Jamaica và Ai Cập [29, tr.25]. Các tổ chức quốc tế đã nhiều lần
cảnh báo các nước thành viên ASEAN cần ngưng áp dụng các ưu đãi thuế không
cần thiết. Điều này là do giảm thu ngân sách do ưu đãi thuế TNDN, ước tính khoảng
6% GDP ở Campuchia và 1% GDP ở Việt Nam và Philippines [21]. Hiện nay, so
với các nước trong khu vực, chính sách ưu đãi thuế suất của Việt Nam là khá cao
đồng thời thời gian miễn thuế, giảm thuế cũng dài hơn và có phạm vi rộng hơn.
50
Ngoài ra, để thu hút đầu tư, Việt Nam còn dành một số chính sách ưu đãi riêng cho
một số dự án, ví dụ dự án đầu tư của tập đoàn Samsung tại Thái Nguyên. Theo Nghị
quyết số 03/2013/NQ-HĐND ngày 26/4/2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thái
Nguyên, ngoài chính sách ưu đãi thuế được quy định trong luật thuế TNDN, dự án
này còn được giảm 50% thuế TNDN thêm 3 năm.
Nguồn: Trading Economics (2020) [41]
Bảng 2.1. Thuế TNDN tiêu chuẩn và sau khi áp dụng ưu đãi giảm thuế mức
cao nhất tại các quốc gia ASEAN, 2020
Quốc gia
Brunei Campuchia Indonesia Lào Malaysia Myanmar Philippines Singapore Thái Lan Việt Nam Thuế TNDN tiêu chuẩn Thuế TNDN sau khi áp dụng ưu đãi giảm thuế ở mức cao nhất n.a 0% 0% 5% 0% 12,5% 5% 5% 0% 10% 18,5% 20% 22% 24% 24% 25% 30% 17% 20% 20%
Nguồn:[21]
51
Từ những phân tích trên, có thể thấy rõ tính hai mặt của các chính sách ưu
đãi thuế TNDN. Chính phủ cần có những nghiên cứu chuyên sâu để có thể đánh giá
mức độ tương đương giữa lợi ích và chi phí khi áp dụng các ưu đãi thuế TNDN. Từ
đó, xác định được mức ưu đãi cũng như thời hạn hưởng ưu đãi phù hợp nhất với
tình hình quốc gia.
2.1.1.2. Về đối tượng hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Nghị định số 111/2015/NĐ-CP đã ban hành Danh mục sản phẩm CNHT ưu
tiên phát triển thuộc 06 ngành, nghề bao gồm: Dệt – May, Da – Giày; Điện tử; Sản
xuất lắp ráp ô tô; Cơ khí chế tạo; Các sản phẩm CNHT cho công nghệ cao.
Thực tế như đã đề cập trong phần khái quát ở trên, sản xuất CNHT bao trùm
nhiều lĩnh vực mới, danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển tại Nghị định
111/2015/NĐ-CP đã được xây dựng khá rộng để tránh bỏ sót, nhưng lại thiếu cụ
thể, vì không thể liệt kê hàng ngàn chi tiết sản phẩm. Nhiều DN khi đầu tư sản xuất
CNHT thường có những băn khoăn liệu sản phẩm của mình có thuộc danh mục để
được hưởng ưu đãi hay không. Điều này dẫn đến thực tế là DN phải mất thêm các
chi phí về thời gian và chi phí khác (dịch vụ tư vấn, xin ý kiến các cơ quan có thẩm
quyền…) trong việc đề nghị xác nhận ưu đãi.
Bên cạnh đó, các sản phẩm CNHT có độ phức tạp khác nhau về công nghệ
sản xuất, hiện đang được hưởng mức ưu đãi như nhau. Để tăng cường thu hút đầu tư
cũng như tạo ra sự công bằng trong các lĩnh vực đầu tư, cần phải có những mức ưu
đãi khác nhau đối với các sản phẩm khác nhau dựa trên mức độ phức tạp. Ngoài ra,
thuật ngữ “sản phẩm CNHT” được định nghĩa trong Nghị định hiện tại cũng chưa
bao quát hết các ngành và lĩnh vực CNHT. Theo tác giả, thuật ngữ này cần phải
được hiểu theo nghĩa rộng, ví dụ nhiều DN chuyên xử lý các công nghệ như đúc,
rèn, mạ, tráng, sơn, nhuộm… là công đoạn quan trọng quyết định chất lượng của
sản xuất CNHT, nhưng do không chế tạo ra một sản phẩm nhất định nên không nằm
trong danh mục được hưởng ưu đãi.
Một vấn đề khác cần quan tâm là một số DN lúng túng khi xác định liệu sản
phẩm của mình có đáp ứng tiêu chí “tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh Châu Âu
(EU) hoặc tương đương” cũng như chưa có một kênh thông tin chính thức tổng hợp,
52
cập nhật các sản phẩm CNHT đã được sản xuất trong nước để các DN có thể dễ
dàng trong việc tiếp cận.
Khoản 5 Điều 1 Luật số 71/2014/QH13
“5. Bổ sung điểm đ và điểm e vào khoản 1 Điều 13 như sau:
“đ) Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm
thuộc Danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển đáp ứng một trong các
tiêu chí sau:
- Sản phẩm CNHT cho công nghệ cao theo quy định của Luật công nghệ
cao;
- Sản phẩm CNHT cho sản xuất sản phẩm các ngành: dệt - may; da - giầy;
điện tử - tin học; sản xuất lắp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm này
tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc
sản xuất được nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên minh
Châu Âu (EU) hoặc tương đương.”
Hơn nữa, một số DN cũng gặp khó khăn khi áp dụng tiêu chí xác định đối
tượng hưởng ưu đãi quy định tại Nghị định 111/2015/NĐ-CP và Thông tư
55/2015/TT-BCT của Bộ Công Thương.
Theo quy định tại Nghị định 111/2015/NĐ-CP thì đối tượng hưởng ưu đãi là
các dự án sản xuất sản phẩm CNHT bao gồm dự án đầu tư mới, dự án mở rộng và
đổi mới công nghệ có ứng dụng thiết bị công nghệ mới, quy trình sản xuất mới sản
xuất sản phẩm với năng lực sản xuất tăng ít nhất 20%.
Tuy nhiên, tại Nghị định 111/2015/NĐ-CP cũng như tại Thông tư
55/2015/TT-BCT chưa quy định cụ thể về tiêu chí xác định Dự án tăng năng lực sản
xuất ít nhất 20%. Điều này gây rất khó khăn cho DN trong việc chuẩn bị hồ sơ xin
xác nhận ưu đãi. Nhiều DN băn khoăn không biết sẽ sử dụng tiêu chí nào (tăng tài
sản cố định, tăng công suất, tăng vốn đầu tư hay tăng doanh thu) và cần chuẩn bị
những hồ sơ tương ứng như thế nào để xác định Dự án sản xuất sản phẩm CNHT
của DN thuộc đối tượng được áp dụng ưu đãi theo diện tăng năng lực sản xuất 20%
như quy định của Nghị định 111/2015/NĐ-CP.
53
2.1.1.3. Về chuyển tiếp ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong lĩnh vực công
nghiệp hỗ trợ
Bên cạnh việc ban hành các ưu đãi về thuế TNDN đối với ngành CNHT,
Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 đưa ra quy định về chuyển tiếp ưu đãi để
đảm bảo tính công bằng cho các DN trong việc áp dụng ưu đãi. Theo đó, DN được
quyền lựa chọn hưởng ưu đãi về thuế TNDN theo quy định của pháp luật tại thời
điểm cấp phép hoặc theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi, bổ sung cho thời
gian còn lại.
Khoản 9, Điều 1 Luật số 71/2014/QH13 quy định:
“9. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 2 Luật số 32/2013/QH13 như sau:
3. DN có dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định của
pháp luật thuế TNDN tại thời điểm cấp phép hoặc cấp giấy chứng nhận đầu
tư theo quy định của pháp luật đầu tư. Trường hợp pháp luật thuế TNDN có
thay đổi mà DN đáp ứng điều kiện ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật
mới được sửa đổi, bổ sung thì DN được quyền lựa chọn hưởng ưu đãi về
thuế suất và về thời gian miễn thuế, giảm thuế theo quy định của pháp luật
tại thời điểm cấp phép hoặc theo quy định của pháp luật mới được sửa đổi,
bổ sung cho thời gian còn lại.”
Như vậy, theo nguyên tắc này thì đối với các Dự án sản xuất sản phẩm
CNHT được cấp phép trước thời điểm Luật số 71 có hiệu lực (01/01/2015) hiện
đang hoạt động trước đây không thuộc diện được hưởng ưu đãi thuế TNDN thì nay
có cơ hội được hưởng ưu đãi cho thời gian còn lại từ ngày 01/01/2015. Tuy nhiên,
các văn bản hướng dẫn dưới Luật chưa quy định đầy đủ và nhất quán về điều khoản
chuyển tiếp đối với các Dự án trước ngày 01/01/2015. Cụ thể:
Thứ nhất, Nghị định 12/2015/NĐ-CP không quy định chuyển tiếp ưu đãi đối
với dự án sản xuất sản phẩm CNHT được cấp phép và hoạt động trước ngày
01/01/2015. Thực vậy, Nghị định 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết áp dụng nguyên
tắc chuyển tiếp ưu đãi cho dự án đầu tư thuộc địa bàn trước ngày 01/01/2015 chưa
được hưởng ưu đãi nay trở thành địa bàn ưu đãi nhưng không quy định chuyển tiếp
ưu đãi cho dự án đầu tư thuộc ngành nghề, lĩnh vực không thuộc diện hưởng ưu đãi
54
trước ngày 01/01/2015 (như Dự án sản xuất sản phẩm CNHT) nay đáp ứng điều
kiện ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi theo Luật số 71.
Thứ hai, Nghị định số 111/2015/NĐ-CP quy định các dự án đang sản xuất
sản phẩm CNHT (không phân biệt Dự án sản xuất sản phẩm CNHT trước hay sau
ngày 01/01/2015) tiếp tục được hưởng các ưu đãi hiện có và ưu đãi mới theo quy
định tại Nghị định này.
“Điều 16. Xử lý chuyển tiếp
Các dự án đang sản xuất sản phẩm CNHT thuộc Danh mục sản phẩm CNHT
ưu tiên phát triển tiếp tục được hưởng các ưu đãi hiện có và được hưởng các
ưu đãi mới theo quy định tại Nghị định này.”
Cụ thể, đối với ưu đãi thuế TNDN (ưu đãi mới), Nghị định số 111/2015/NĐ-
CP quy định các dự án đang sản xuất sản phẩm CNHT được hưởng ưu đãi thuế theo
quy định tại Luật số 71, ngoài ra không có quy định chi tiết nào khác.
“Điều 12. Chính sách ưu đãi đối với Dự án sản xuất sản phẩm CNHT thuộc
Danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển
1. Ưu đãi chung:
a) Thuế TNDN:
Được áp dụng ưu đãi thuế theo quy định của Luật số 71/2014/QH13 ngày 26
tháng 11 năm 2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế.”
Như vậy, có thể hiểu là Dự án sản xuất sản phẩm CNHT trước ngày
01/01/2015 sẽ được áp dụng chuyển tiếp ưu đãi, tức là hưởng ưu đãi thuế TNDN
cho thời gian còn lại từ ngày 01/01/2015.
Thứ ba, theo Thông tư 21/2016/TT-BTC hướng dẫn việc thực hiện ưu đãi
thuế TNDN tại Nghị định 111/2015/NĐ-CP và Nghị định 12/2015/NĐ-CP, quy
định: “Ưu đãi thuế TNDN được áp dụng đối với thu nhập của DN từ thực hiện dự
án sản xuất sản phẩm CNHT từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 đáp ứng các Điều kiện
quy định tại Luật số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 và các văn bản
hướng dẫn thi hành, được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản
xuất sản phẩm CNHT (gọi tắt là Giấy xác nhận ưu đãi).”
55
Quy định này khiến DN hiểu ưu đãi thuế TNDN chỉ áp dụng đối với các Dự
án sản xuất sản phẩm CNHT thực hiện từ ngày 01/01/2015. Như vậy, vô hình chung
hiểu theo cách Thông tư 21/2015/TT-BTC đã “thu hẹp” đối tượng được hưởng ưu
đãi, không quy định ưu đãi cho các Dự án sản xuất sản phẩm CNHT trước ngày
01/01/2015. Và trên thực tế đã có rất nhiều công văn hướng dẫn của Tổng Cục thuế
về vấn đề này và Tổng Cục thuế cho rằng không có quy định trường hợp chuyển
tiếp ưu đãi đối với các dự án đã thực hiện trước 01/01/2015 thuộc lĩnh vực ưu đãi
mới được bổ sung tại Luật số 71/2014/QH13, do đó, các DN sản xuất sản phẩm
CNHT thuộc Danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển trước ngày 01/01/2015
sẽ không được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định mới. Theo tác giả, cách hiểu này
chưa thống nhất với quy định của Luật và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền
lợi của các DN. Trong thời gian tới, thiết nghĩ Nhà nước nên có những hướng dẫn
để tránh việc không thống nhất giữa các quy định pháp luật.
2.1.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật đầu tư về ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam hiện nay
2.1.2.1. Thực tiễn phát triển một số ngành trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ở Việt
Nam hiện nay
Theo thống kê tại Cổng thông tin điện tử CNHT thì hiện nay Việt Nam ghi
nhận 3880 DN hoạt động trong lĩnh vực CNHT trong đó: ngành dệt may là 1292
DN, ngành da giày là 951 DN, ngành điện tử là 852 DN, ngành cơ khí chế tạo là
716 DN và 371 DN hoạt động trong ngành sản xuất lắp ráp ô tô. Số liệu trên được
biểu thị rõ nét qua biểu đồ sau:
56
❖ Ngành sản xuất lắp ráp ô tô
Nhiều đánh giá cho rằng lâu nay sự phát triển của CNHT ngành sản xuất lắp
ráp ô tô ở nước ta vẫn chưa mạnh mẽ, chưa tương xứng với tiềm năng, kết quả chưa
được như kỳ vọng theo mục tiêu đề ra [18]. Thế nhưng thời gian gần đây đã có
những tín hiệu đáng mừng, nhiều đơn vị sản xuất CNHT đã đạt được thành công
bước đầu khi đã dần hòa nhập vào chuỗi sản xuất của các dự án lớn. Sau đây là một
số ví dụ điển hình để chứng minh việc nâng cao năng lực của các DN trong thời
gian gần đây [42]:
Công ty Cổ phần nhựa Hà Nội là đối tác tin cậy của Honda, Toyota, Piaggio,
VMEP, Panasonic, LG, VinFast, Visteon, Hyundai… Năm 2010, Nhựa Hà Nội mới
chỉ sản xuất 2 chi tiết cho Toyota thì tới năm 2019, Công ty đã làm được 44 chi tiết
để cung cấp cho Tập đoàn này.
Tương tự, cách đây 3 năm, Công ty Cổ phần CN cao su Miền Nam
(Casumina) đã sản xuất được lốp xe du lịch và xe tải nhẹ đáp ứng được tiêu chuẩn
của thị trường Mỹ, là một trong những thị trường về lốp xe rất khắt khe. Năm 2020,
Công ty ra mắt một thương hiệu lốp riêng cho phân khúc xe du lịch cỡ A, B.
Trong ngành cơ khí, Công ty Cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu (EMTC) là
một thương hiệu lớn đang đặt những bước đi đầu tiên ở lĩnh vực này. EMTC đã ký
được đơn hàng đầu tiên với Honda Việt Nam để sản xuất cụm chi tiết cơ khí, đây là
bước đi quan trọng cho chiến lược mới của EMTC là vươn lên trở thành DN vệ tinh
cho ngành CNHT ô tô. Trước đó, EMTC là DN Việt Nam duy nhất cung cấp bộ
dụng cụ cho Toyota. Sau 20 năm làm linh kiện ô tô và nhiều lĩnh vực khác, EMTC
hoàn toàn tự tin là đủ năng lực sản xuất cho ngành CNHT ô tô.
Công ty Cổ phần Ô tô Trường Hải (Thaco) cũng đã đầu tư xây dựng khu CN
sản xuất linh kiện ô tô lớn nhất Việt Nam từ năm 2009 tại Khu kinh tế mở Chu Lai,
tỉnh Quảng Nam với quy mô gần 100ha. Tại đây có 12 nhà máy sản xuất linh kiện-
phụ tùng, không chỉ cung cấp cho các nhà máy lắp ráp ô tô của THACO và các DN
trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước trên thế giới. Sản phẩm từ các nhà máy
này của Thaco bao gồm: Linh kiện nội-ngoại thất xe bus, xe tải, xe du lịch; linh kiện
composite; nhíp; kính; máy lạnh; la phông trần; tap-pi sàn; cản xe du lịch; thân vỏ ô
57
tô; ghế và áo ghế; bộ dây điện; chassis và nhiều linh kiện phụ tùng khác. Để làm
chủ công nghệ và thiết kế, Thaco đã đầu tư xây dựng trung tâm R&D; tiếp nhận
chuyển giao công nghệ từ Hàn Quốc và Nhật Bản. Tháng 6/2020, lô khung ghế ô tô
bằng composite sản xuất tại Nhà máy linh kiện Composite ở Khu CN Thaco Chu
Lai đã được xuất khẩu (XK) sang Nhật. Điểm đặc biệt là nhà máy linh kiện này
được đầu tư các dây chuyền công nghệ và thiết bị hiện đại nhập khẩu từ Mỹ, Đức,
Ý, trong đó công nghệ chân không (RTM) và định hình nhiệt khuôn kín (SMC) là
công nghệ tiên tiến trong sản xuất linh kiện composite hiện nay trên thế giới.
Cuối năm 2019, VinFast đã được Hải Phòng đồng ý chủ trương thực hiện Dự
án đầu tư Tổ hợp sản xuất CNHT VinFast tại huyện Cát Hải. Mục tiêu dự án là sản
xuất CNHT cho xe ô tô và các loại xe khác, quy mô sản xuất khoảng 5 triệu sản
phẩm các loại/năm. Tiến độ thực hiện: Quý II-III/2022 triển khai xây dựng đồng bộ
hạ tầng kỹ thuật nhà máy và các công trình khác, quý IV/2022 hoàn thiện và đưa
vào kinh doanh khai thác.
Trong tháng 6 vừa qua, tại Quảng Ninh, Vingroup đề xuất đầu tư Tổ hợp sản
xuất CN phía nam sông Lục Lầm, là một tổ hợp CN sản xuất phụ tùng, bộ phận phụ
trợ cho xe ô tô, xe có động cơ khác cung cấp cho các nhà máy lắp ráp ô tô của
Vinfast và các DN trong nước, đồng thời xuất khẩu. Công nghệ được chuyển giao
từ Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu với máy móc thiết bị hiện đại, hệ thống quản trị
thông minh xuyên suốt chuỗi giá trị từ đặt hàng, sản xuất, đến phân phối.
Mới đây nhất, vào cuối tháng 9/2020, Tổ hợp CNHT ô tô Thành Công Việt
Hưng ở Thành phố Hạ Long (Quảng Ninh) đã chính thức động thổ xây dựng nhằm
thu hút và quy tụ nhiều DN trong ngành CNHT ô tô, sản xuất linh kiện và phụ tùng,
đặc biệt là những bộ phận có hàm lượng công nghệ cao. Những sản phẩm của Tổ
hợp sẽ không chỉ là nguồn cung cho sản xuất ô tô ở trong nước, mà còn hướng tới
xuất khẩu, giúp ngành CNHT ô tô Việt Nam tiếp cận tới các thị trường quốc tế.
❖ Ngành điện tử
Việt Nam đang là điểm đến đầu tư hấp dẫn đối với các nhà sản xuất điện tử,
đặc biệt trong bối cảnh chuyển dịch sản xuất, phân bổ rủi ro, tránh chỉ tập trung vào
Trung Quốc. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải Quan, kim ngạch xuất khẩu
58
máy tính và linh kiện điện tử trong tháng 10/2020 đạt trên 4,24 tỷ USD, giảm 4,88%
so với tháng trước nhưng lại tăng 20,66% so tháng 10/2019. Tính chung 10 tháng
đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu máy tính và linh kiện điện tử đạt 36,44 tỷ
USD, tăng 25,19% so với cùng kỳ năm trước và chiếm trên 15,86% tổng kim ngạch
xuất khẩu hàng hóa của nước ta [43].
Với sự gia nhập các hiệp định thương mại tự do thế giới, sự chuyển dịch các
dòng vốn đầu tư sang Việt Nam của nhiều nhà sản xuất điện tử lớn, chiến tranh
thương mại Mỹ - Trung, Chính phủ Việt Nam và các DN trong nước đang ngày
càng quan tâm đến việc hình thành và phát triển chuỗi cung ứng trong nước nhằm
thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, tạo ra nhiều cơ hội đầu tư, sản xuất kinh
doanh và nâng cao sức cạnh tranh cho các DN điện tử Việt Nam.
Trong tháng 11 vừa qua, có thêm nhiều DN FDI lĩnh vực điện tử đầu tư mở
rộng sản xuất vào nước ta. Cụ thể [44]:
Ngày 14/11/2020, Universal Scientific Industrial (USI) đã khởi công nhà
máy lắp ráp và sản xuất bảng mạch điện tử tại Khu CN DEEP C Hải Phòng với số
vốn đầu tư ban đầu là 200 triệu USD (dự kiến tăng vốn đầu tư lên mức 400 triệu
USD trong giai đoạn tiếp theo).
Nhà máy với quy mô 65.000m2 dự kiến đưa vào vận hành vào quý 3/2021
với công suất sản xuất lên tới 14 triệu sản phẩm tương đương với 57,6 tấn hàng
năm, tạo ra gần 2000 cơ hội việc làm, là nơi ươm mầm cho những nhân tài trong
lĩnh vực sản xuất sản phẩm điện tử cao cấp, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế Hải
Phòng và các ngành CN công nghệ cao. USI được kỳ vọng sẽ trở thành nhà sản xuất
chủ lực trong ngành sản xuất thiết bị điện tử đang lên của Hải Phòng thông qua việc
hình thành một trung tâm sản xuất mới đóng góp vào sự phát triển của chuỗi cung
ứng điện tử.
Tiếp đó, ngày 25/11/2020, Foxconn, tên chính thức là Tập đoàn Khoa học
Kỹ thuật Hồng Hải, đã công bố khoản đầu tư 270 triệu USD để thành lập một công
ty con mới có tên FuKang Technology nhằm giúp mở rộng hoạt động sản xuất sang
Việt Nam. Theo đó, Foxconn sẽ sản xuất các linh kiện máy tính tại Việt Nam, tương
tự như việc sản xuất linh kiện TV của công ty Sony Nhật Bản. Động thái của công
59
ty Đài Loan được cho là nhằm đa dạng hóa hoạt động sản xuất để giảm thiểu thiệt
hại do cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc gây ra; đồng thời tận dụng
Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) vừa được ký kết.
RCEP được ASEAN và 5 đối tác là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Australia, New Zealand ký kết ngày 15/11/2020 nhằm giảm thuế quan và thúc đẩy
giao thương thông suốt tại khu vực châu Á. Foxconn dự định triển khai sản xuất
trên quy mô toàn diện tại Việt Nam để được hưởng lợi từ thỏa thuận thương mại tự
do lớn nhất thế giới này. Hiện tại, phần lớn hoạt động sản xuất của Foxconn được
đặt tại Trung Quốc đại lục. Dù Trung Quốc tham gia RCEP, những bất ổn xung
quanh quan hệ Mỹ - Trung đã khiến nhiều công ty, trong đó có Foxconn, tìm cách
đa dạng hóa địa bàn sản xuất. Trong khi đó, cũng tham gia RCEP, Việt Nam có vị
trí địa lý gần với Trung Quốc nên thuận tiện cho hoạt động vận chuyển và có chi phí
nhân công rẻ. Điều này khiến các DN lớn ngày càng quan tâm đầu tư vào Việt Nam.
Công ty Foxconn hiện đang xây dựng dây chuyền lắp ráp để sản xuất máy
tính bảng iPad và máy tính xách tay MacBook của Apple tại một nhà máy ở tỉnh
Bắc Giang, Việt Nam. Foxconn đang gấp rút triển khai kế hoạch nhằm giảm phụ
thuộc vào hoạt động sản xuất tại Trung Quốc. Công ty này đặt mục tiêu nâng tỷ
trọng sản xuất bên ngoài Trung Quốc lên hơn 30%.
Trước đó, ngày 17/11/2020, nhà máy của Foxconn tại Khu CN Đông Mai,
Quảng Ninh đã xuất xưởng lô màn hình tinh thể lỏng đầu tiên tại Việt Nam. Quảng
Ninh là địa phương thứ hai tại Việt Nam (sau Bắc Ninh) được Foxconn lựa chọn để
đầu tư, với diện tích 100.000 m2. Theo kế hoạch, tới cuối năm 2020, nhà máy của
Foxconn tại Khu CN Đông Mai sẽ sản xuất khoảng 20.000 màn hình tinh thể lỏng
công nghệ cao và xuất khẩu chủ yếu sang Slovakia, Mexico, Ấn Độ... với giá trị
xuất khẩu khoảng 250.000 USD. Năm 2021, nhà máy sẽ sản xuất khoảng 1 triệu
màn hình với giá trị xuất khẩu khoảng 250 triệu USD và nâng dần lên 500 triệu
USD, 1 tỷ USD vào những năm tiếp theo.
Các công ty đối thủ của Foxconn như hãng sản xuất điện tử Pegatron và nhà
sản xuất theo hợp đồng Wistron cũng đã có kế hoạch mở rộng hoạt động sang Việt
Nam.
60
❖ Ngành dệt may
Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) cho biết, từ đầu năm đến nay, chưa xuất
hiện khoản đầu tư lớn nào từ nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam. Xu hướng
này khá trái ngược so với giai đoạn 5 năm liền kề trước đó (2015-2019), khi vốn
ngoại tấp nập đổ bộ vào các dự án trong ngành dệt may. Cụ thể, kỷ lục vốn FDI vào
dệt may đã được ghi nhận trong năm 2015 với 189 dự án, tổng vốn đạt 4,13 tỷ USD.
Năm 2016 số lượng dự án đạt kỷ lục là 234 dự án, nhưng số vốn giảm còn 2,57 tỷ
USD. Sang tới năm 2017-2019, vốn FDI vào dệt may giảm xuống song vẫn đạt mỗi
năm từ 1,5 tỷ đến hơn 2 tỷ USD. Trong năm 2020, ghi nhận được một số dự án
đáng chú ý sau [45]:
Về các dự án trong lĩnh vực CNHT dệt may từ đầu năm 2020 đến nay, phải
kể đến Công ty TNHH Texhong Dệt Kim (Hồng Kông) được Ban Quản lý Khu
kinh tế Quảng Ninh cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thực hiện Dự án Nhà máy
Dệt kim tại Khu CN Texhong Hải Hà vào cuối tháng 5/2020. Dự án trên có tổng
vốn đăng ký 214 triệu USD, sản xuất vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt
khác, quy mô hơn 2.700 lao động. Theo kế hoạch, cuối năm 2021, giai đoạn I của
Dự án sẽ đi vào hoạt động, giai đoạn II sẽ được hoàn thiện và đi vào vận hành sau
đó 20 tháng. Trước đó, Texhong đã đầu tư 2 dự án dệt là Texhong Hải Yên và
Texhong Ngân Hà tại Quảng Ninh, với tổng quy mô 800.000 cọc sợi/năm, tổng
năng lực sản xuất khoảng 400 tấn/năm với 1.200 cỗ máy dệt.
Một dự án khác của Công ty TNHH Brotex (Việt Nam) 100% vốn Trung
Quốc được khởi công hồi tháng 2/2020 là Dự án Nhà máy sản xuất sợi Brotex Khu
C - giai đoạn IV tại Khu CN Phước Đông (huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh). Trước
khi khởi công dự án mới, cũng tại Khu CN Phước Đông, Brotex đã đầu tư dự án
400 triệu USD, gồm 3 giai đoạn. Giai đoạn I có vốn đầu tư 100 triệu USD, đã xây
dựng xong 2 nhà xưởng sản xuất, lắp đặt 100.000 cọc sợi, có 14 kho nguyên liệu và
2 nhà xưởng nhuộm, sản lượng ước tính 15.000 tấn sợi/năm. Giai đoạn II có vốn
đầu tư 150 triệu USD, đang xây dựng 4 nhà xưởng sản xuất và lắp đặt 200.000 cọc
sợi, với sản lượng ước tính đạt 30.000 tấn sợi/năm. Giai đoạn III có vốn đầu tư 150
triệu USD, gồm 4 nhà xưởng sản xuất và lắp đặt 200.000 cọc sợi.
61
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho rằng ngành dệt may của Việt Nam chưa
phát triển tương xứng với mục tiêu mà Chính phủ kỳ vọng. Nguyên nhân chủ yếu
của vấn đề trên là các ngành sản xuất bông, sợi, nhuộm trong nước đến nay vẫn
chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành vải trong nước, do đó các DN dệt may nội
địa vẫn phải nhập khẩu vải để sản xuất hàng may mặc. Đặc biệt, điểm nghẽn chủ
yếu đối với CNHT ngành dệt may là công nghệ nhuộm vải cũng như công tác xử lý
môi trường để phát triển ngành dệt nhuộm vẫn chưa được quan tâm đúng mức, đã
hạn chế việc các DN đầu tư sản xuất dệt vải và khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực
thiết kế thời trang [46].
Hiện nay Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc được xem là những
cường quốc dệt may hàng đầu thế giới. Song các nước và vùng lãnh thổ này đang
giảm dần sản xuất trong lĩnh vực dệt may. Do đó, việc chuyển dịch chuỗi sản xuất
dệt may từ các quốc gia này là điều tất yếu. Việt Nam là thị trường có nhiều hiệp
định thương mại tự do với các nước, sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự dịch chuyển đầu
tư này. Nắm bắt được xu hướng này cùng với việc hiểu rõ những hạn chế trong
ngành dệt may, hy vọng trong tương lai, Nhà nước sẽ ban hành nhiều chính sách
nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành CNHT tiềm năng này.
❖ Ngành cơ khí chế tạo
Hiệp hội Cơ khí Việt Nam cho biết, cơ khí vốn được coi là ngành CN mũi
nhọn quan trọng, là nền tảng và động lực hỗ trợ các ngành CN khác phát triển. Lĩnh
vực cơ khí - tự động hóa có vai trò hết sức to lớn trong việc phát triển đất nước theo
định hướng CNH-HĐH. Trong 10 năm qua, ngành CN nói chung và cơ khí - tự
động hóa nói riêng được coi là xương sống của nền kinh tế. Hiện Việt Nam có hơn
25.000 DN trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, trong đó có khoảng 1/3 DN nội địa, xuất
khẩu đạt gần 20 tỷ USD mỗi năm [47].
Theo Bộ Công Thương, tính đến nay, có khoảng hơn 25.000 DN cơ khí đang
hoạt động và có kết quả kinh doanh, chiếm gần 30% tổng số DN CN chế biến chế
tạo, tạo việc làm cho gần 16% tổng số lao động trong ngành chế biến chế tạo [48].
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, sản phẩm cơ khí Việt Nam có rất ít thương hiệu
trong nước. Các DN cơ khí nội địa phổ biến là quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh
62
thấp, chưa làm chủ được công nghệ lõi hoàn chỉnh trong lĩnh vực cơ khí. Bên cạnh
đó, chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành cao và gần như chưa có sản phẩm CN
chủ lực trong ngành cơ khí đủ khả năng cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu.
Nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển này, thứ nhất, các DN cơ khí Việt Nam tính
liên kết còn hạn chế. Thứ hai, yếu tố khách quan là vấn đề lãi suất ngân hàng. DN
phải đi vay lãi suất thương mại 8-9%/năm thì đó là vấn đề lớn. Ngoài ra còn có yếu
tố tạo lập thị trường, liên kết vùng, nhân sự, lao động... Nguyên nhân chủ quan là do
việc ban hành cơ chế, chính sách rất hạn chế, chưa sát với thực tế của DN. Những
năm qua, DN cơ khí có bước đột phá, trong đó phải kể đến một số DN trong lĩnh
vực ôtô như Vinfast, Thành Công, Thaco. Chỉ trong vòng 21 tháng, Vinfast đã đưa
ra thị trường ôtô mang thương hiệu Việt Nam. Cơ khí gia công chế tạo có một số
DN như Toyota, Nikon… Tuy nhiên, các DN này vẫn coi cơ khí là phụ trợ. Trong
tương lai, ngành cơ khí đòi hỏi sự phát triển về nguyên vật liệu, khuôn mẫu, gia
công chế tạo chứ không chỉ gia công cắt gọt đơn thuần [49].
❖ Ngành da giày
Là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch
xuất khẩu tăng bình quân hơn 10%/năm, ngành da giày đã và đang ngày càng khẳng
định vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, thị phần xuất khẩu
của ngành da giày chủ yếu đến từ các DN FDI (chiếm đến 70 - 80%), mặc dù số
lượng các DN này chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (hơn 10%) trong tổng số DN da giày cả
nước.
Theo số liệu của Bộ Công Thương, nguyên phụ liệu chiếm tới 68 - 75%
trong cơ cấu giá thành sản phẩm giày dép, nhưng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm này của
DN Việt Nam hiện chỉ đạt 40 - 45%. Các DN trong nước chiếm gần 70% về số
lượng DN, nhưng chỉ chiếm 35% tổng sản lượng da thuộc sản xuất tại Việt Nam
[50].
Việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu
Âu (EVFTA) đã tạo ra một chuyển biến tích cực cho ngành giày dép. Theo Bộ
Công Thương, sản lượng giày dép da tháng 10/2020 ước đạt 31 triệu đôi, tăng 5,3%
so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng năm 2020,
63
sản lượng giày dép da ước đạt 249,1 triệu đôi, tăng 0,8% so với cùng kỳ. Kim ngạch
xuất khẩu giầy, dép các loại 10 tháng ước đạt 13,38 tỷ USD, giảm 9,9% so với cùng
kỳ [51]. Hy vọng, trong thời gian với những chính sách ưu đãi và hỗ trợ về CNHT,
các DN trong nước sẽ có những bước ngoặt phát triển mới trong lĩnh vực đầy tiềm
năng này.
2.1.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một
số doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ
Hiện tại, Việt Nam chưa có một nguồn tổng hợp các thông tin và dữ liệu liên
quan đến các chính sách ưu đãi thuế như số dự án được hưởng ưu đãi, mức hưởng
ưu đãi…Do vậy, trong luận văn này, tác giả dựa vào một số công văn riêng biệt của
cơ quan nhà nước trả lời cho các DN để minh họa cho thực tiễn thực hiện pháp luật
ưu đãi thuế TNDN đối với một số DN sản xuất sản phẩm CNHT.
- Ưu đãi thuế TNDN đối với dự án mới đầu tư vào lĩnh vực CNHT:
Dựa vào Công văn số 3924/TCT-CS của Tổng Cục thuế ngày 18/9/2020 trả
lời cho Công ty TNHH Hspolytech như sau: “Căn cứ các quy định pháp luật, Công
ty TNHH Hspolytech được Ban quản lý các KCN tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng
nhận đăng ký đầu tư lần đầu số 9845767425 ngày 24/10/2016 để thực hiện dự án
sản xuất, gia công các loại giày thể thao, các bộ phận của giày. Ngày 31/12/2019,
Công ty được Bộ Công thương cấp Giấy xác nhận ưu đãi số 10133/GXN-BCT cho
dự án sản xuất sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển đối với sản phẩm Đế giữa cho
giày thể thao thì dự án sản xuất sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển nêu trên đáp ứng
điều kiện được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định tại Khoản 5 và Khoản 9
Điều 1 Luật số 71/2014/QH13, Điều 4 Thông tư số 21/2016/TT-BTC.
Theo báo cáo của Công ty thì: Dự án đầu tư của Công ty TNHH Hspolytech
thành lập năm 2016. Năm 2017 là năm đầu tiên dự án phát sinh doanh thu. Năm
2018, dự án đầu tư phát sinh thu nhập và hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện
địa bàn khu CN (miễn 2 năm, giảm 50% trong 4 năm tiếp theo). Năm 2019 dự án
được cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển thì dự
án được lựa chọn chuyển tiếp hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện dự án đầu tư
sản xuất sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển cho thời gian còn lại kể từ năm 2019.
64
Trong thời gian hoạt động, Công ty có bổ sung ngành nghề kinh doanh bất
động sản (cho thuê nhà xưởng) hoặc sản xuất các sản phẩm khác chưa được Bộ
Công Thương xác nhận là sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển thì Công ty phải tính
riêng thu nhập từ hoạt động kinh doanh được hưởng ưu đãi theo điều kiện CNHT và
thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác để xác định thuế TNDN phải nộp theo đúng
quy định.”
Từ đó có thể rút ra kết luận rằng kể từ năm 2019, công ty TNHH Hspolytech
sẽ được miễn thuế 3 năm, giảm 50% thuế suất (tức là 5%) trong 9 năm tiếp theo và
sau đó sẽ được hưởng ưu đãi thuế suất là 10% cho 3 năm tiếp theo.
Công văn số 5179/CTHN-TTHT của Cục thuế Thành phố Hà Nội gửi Công
ty TNHH công nghệ Shunshin ngày 09/02/2021: “trường hợp Công ty TNHH công
nghệ Shunsin Hà Nội (sau đây gọi tắt là Công ty) có dự án đầu tư mới sản xuất mô-
đun thu phát quang học (mã HS 8517.69.00) tại khu CN Thạch Thất - Quốc Oai, xã
Phùng Xá, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội và đáp ứng điều kiện quy định là dự án
đầu tư mới sản xuất sản phẩm CNHT theo quy định tại Khoản 3 Điều 10 Thông
tư 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính và Khoản Điều 3 Thông tư
số 55/2015/TT-BCT ngày 30/12/2015 của Bộ Công thương, trường hợp thu nhập
của Công ty từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản
phẩm CNHT ưu tiên phát triển đáp ứng các tiêu chí tại Điều 11 Thông
tư 96/2015/TT-BTC và Điều 4 Thông tư số 55/2015/TT-BCT ngày 30/12/2015 của
Bộ Công thương thì được hưởng thuế suất thuế TNDN 10% trong 15 năm kể từ
ngày phát sinh doanh thu; miễn thuế 4 năm kể từ năm phát sinh thu nhập chịu thuế
và giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 9 năm tiếp theo.
Về thời điểm bắt đầu áp dụng ưu đãi thuế TNDN đối với dự án sản xuất
CNHT, Công ty thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 21/2016/TT-
BTC của Bộ Tài chính.”
- Ưu đãi thuế đối với dự án đầu tư mở rộng đầu tư vào lĩnh vực CNHT
Công văn số 7724/CT-TTHT của Cục thuế Thành phố Hà Nội gửi Công ty
TNHH Enkei Việt Nam ngày 28/02/2019: “Công ty TNHH Enkei Việt Nam được
thành lập theo Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu số 012043000057 ngày 26/8/2007.
65
Địa điểm thực hiện dự án là Lô N-2 và N-3 KCN Thăng Long, xã Võng La, huyện
Đông Anh, TP Hà Nội. Hoạt động của dự án là sản xuất vành nhôm cho xe máy,
cho các động cơ tự động, chế tạo máy móc liên quan đến sản xuất vành...
Trường hợp ngày 07/12/2018, Công ty được cấp Giấy chứng nhận đầu tư
điều chỉnh lần 5, trong đó Công ty đăng ký và được cấp phép đầu tư mở rộng quy
mô sản xuất, nâng cao công suất của dự án đầu tư đang hoạt động (sau đây gọi
tắt là DA ĐTMR) đáp ứng một trong các tiêu chí theo quy định tại Khoản 4 Điều 10
Thông tư số 96/2015/TT-BTC thì Công ty được lựa chọn:
Phương án 1: hưởng ưu đãi thuế TNDN theo dự án đang hoạt động cho thời
gian còn lại (bao gồm thuế suất và thời gian miễn, giảm); hoặc
Phương án 2: Công ty được áp dụng thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với
phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng mang lại (không được hưởng mức thuế
suất ưu đãi) bằng với thời gian miễn thuế, giảm thuế áp dụng đối với dự án đầu tư
mới trên cùng địa bàn hoặc lĩnh vực ưu đãi thuế TNDN.
Trường hợp Công ty chọn hưởng ưu đãi theo diện đầu tư mở rộng thì phần
thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng được hạch toán riêng. Trường hợp Công ty
không hạch toán riêng được phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng mang lại
thì thu nhập từ hoạt động đầu tư mở rộng xác định theo tỷ lệ giữa nguyên giá tài sản
cố định đầu tư mới đưa vào sử dụng cho sản xuất, kinh doanh trên tổng nguyên giá
tài sản cố định của Công ty.
Trường hợp dự án đầu tư mở rộng này được Bộ Công thương xác nhận tại
văn bản 10693/GXN-BCT ngày 27/12/2018 về việc đủ điều kiện được hưởng các
chính sách ưu đãi theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày
03/11/2015 của Chính phủ về phát triển CNHT thì kể từ năm tính thuế được cấp
giấy xác nhận ưu đãi, dự án đầu tư mở rộng của Công ty được xác định đủ điều kiện
để xem xét thuộc diện được miễn thuế TNDN bốn năm, giảm 50% số thuế TNDN
phải nộp trong chín năm tiếp theo. Thời gian miễn, giảm thuế tính từ năm dự án đầu
tư mở rộng hoàn thành đưa vào sản xuất, kinh doanh có thu nhập chịu thuế TNDN.
Trường hợp không có thu nhập chịu thuế trong ba năm đầu, kể từ năm đầu tiên có
66
doanh thu từ dự án đầu tư mở rộng thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ
năm thứ tư dự án đầu tư phát sinh doanh thu.
Trong thời gian đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN nếu Công ty thực hiện
nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh thì Công ty phải tính riêng thu nhập từ dự án
sản xuất sản phẩm CNHT được hưởng ưu đãi thuế TNDN và thu nhập từ hoạt động
kinh doanh không được hưởng ưu đãi thuế để kê khai nộp thuế riêng.”
- Quy định chuyển tiếp ưu đãi
Công văn 896/TCT-CS của Tổng Cục thuế gửi Công ty TNHH Denso Việt
Nam ngày 18/3/2019: “Căn cứ khoản 9 Điều 1 Luật số 71/2014/QH13, khoản 20
Điều 1 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP, Điều 4 Thông tư số 21/2016/TT-BTC; pháp
luật thuế TNDN đã quy định cụ thể các trường hợp được chuyển tiếp ưu đãi, không
có quy định trường hợp chuyển tiếp ưu đãi đối với các dự án đã thực hiện trước
01/01/2015 thuộc lĩnh vực ưu đãi mới được bổ sung tại Luật số 71/2014/QH13
(miễn thuế đối với thu nhập từ chế biến nông sản tại địa bàn khuyến khích đầu tư;
ưu đãi cho dự án sản xuất sản phẩm CNHT; dự án có quy mô đầu tư tối thiểu
12.000 tỷ đồng; ưu đãi cho thu nhập của DN trồng trọt, chăn nuôi, chế biến không
thuộc địa bàn khuyến khích đầu tư). Do vậy, đối với các dự án đầu tư mở rộng thực
hiện tại khu CN trong giai đoạn 2009 - 2013 thì không thuộc đối tượng được
chuyển tiếp hưởng ưu đãi theo diện điều kiện sản xuất sản phẩm CNHT cho thời
gian còn lại.
Từ những tổng hợp ở trên, tác giả nhận thấy việc áp dụng ưu đãi thuế TNDN
đối với lĩnh vực CNHT còn nhiều khó khăn. DN phải trả qua nhiều bước, thông qua
nhiều cơ quan mới tiếp cận được các chính sách ưu đãi. Thêm vào đó, quy định
pháp luật về vấn đề này còn tản mạn, trải dài trong nhiều văn bản từ luật đến văn
bản dưới luật và các văn bản chuyên ngành đồng thời các văn bản này lại thường
xuyên sửa đổi, bổ sung. Điều này khiến nhiều DN phải tốn thêm các chi phí tra cứu,
rà soát để bao quát hết các quy định pháp luật. Hơn nữa, quy định về chuyển tiếp ưu
đãi còn nhiều điểm chưa thống nhất, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều DN
hoạt động trong lĩnh vực CNHT.
67
2.2. Yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
2.2.1. Những vấn đề đặt ra và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về ưu đãi thuế thu
nhập doanh nghiệp đối với đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
2.2.1.1. Những vấn đề đặt ra đối với pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp đối với đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
Tại Quyết định số 879/QĐ-TTg ngày 09/6/2014 Thủ tướng Chính phủ đã
đưa ra Chiến lược phát triển CN Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035
như sau:
Huy động hiệu quả mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong nước và từ
bên ngoài để phát triển, tái cơ cấu ngành CN theo hướng hiện đại; Chú trọng đào
tạo nguồn nhân lực CN có kỹ năng, có kỷ luật, có năng lực sáng tạo; Ưu tiên phát
triển và chuyển giao công nghệ đối với các ngành, các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh
và công nghệ hiện đại, tiên tiến ở một số lĩnh vực chế biến nông, lâm, thủy sản, điện
tử, viễn thông, năng lượng mới và tái tạo, cơ khí chế tạo và hóa dược; Điều chỉnh
phân bố không gian CN hợp lý nhằm phát huy sức mạnh liên kết giữa các ngành,
vùng, địa phương để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Các nhóm ngành CNHT lựa chọn ưu tiên phát triển như sau:
- Nhóm ngành Cơ khí và Luyện kim
Giai đoạn đến năm 2025, ưu tiên các nhóm ngành, sản phẩm: máy móc thiết
bị phục vụ nông nghiệp, ôtô và phụ tùng cơ khí, thép chế tạo. Sau năm 2025, ưu tiên
các nhóm ngành, sản phẩm: đóng tàu, kim loại màu và vật liệu mới.
- Nhóm ngành Dệt may, Da giầy
Giai đoạn đến năm 2025, ưu tiên sản xuất nguyên, phụ liệu phục vụ sản xuất
trong nước và xuất khẩu; Giai đoạn sau năm 2025, ưu tiên sản xuất sản phẩm quần
áo thời trang, giầy cao cấp.
- Ngành Điện tử và Viễn thông
Giai đoạn đến năm 2025, ưu tiên phát triển sản phẩm thiết bị máy tính, điện
thoại và linh kiện. Giai đoạn sau năm 2025, ưu tiên phát triển phần mềm, nội dung
số, dịch vụ công nghệ thông tin và điện tử y tế.
68
Trong bối cảnh Việt Nam thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, cơ hội
thị trường của ngành CNHT được mở rộng hơn rất nhiều. Nắm bắt được xu hướng
đó, Nhà nước đã đề ra nhiều chiến lược thiết thực trong giai đoạn này. Tuy nhiên,
các văn bản cụ thể hóa các định hướng trên lại chưa đồng bộ, thống nhất và gây khó
hiểu trong việc áp dụng, theo đó phải kể đến các chính sách ưu đãi thuế TNDN về
mức thuế suất ưu đãi, thời hạn miễn, giảm thuế; đối tượng áp dụng ưu đãi và các
quy định chuyển tiếp ưu đãi. Thiết nghĩ, trong thời gian sắp tới, Nhà nước cần có
những nghiên cứu chuyên sâu để điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế TNDN, góp
phần thúc đẩy phát triển CNHT, tạo điều kiện cho các DN trong quá trình hoạt động
và đầu tư.
2.2.1.2. Yêu cầu hoàn thiện và thực hiện pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp đối với đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
Thời gian gần đây, quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được
đổi mới. Nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý
ngày càng hoàn chỉnh hơn để Nhà nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực
kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại... Công tác phổ biến và giáo dục
pháp luật được tăng cường đáng kể. Những tiến bộ đó đã góp phần thể chế hoá
đường lối của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của Nhà nước,
đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu
thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Cơ chế xây dựng, sửa đổi
pháp luật còn nhiều bất hợp lý và chưa được coi trọng đổi mới, hoàn thiện. Tiến độ
xây dựng luật và pháp lệnh còn chậm, chất lượng các văn bản pháp luật chưa cao.
Việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
viên chưa được quan tâm đầy đủ. Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật còn hạn chế. Thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu.
Một minh họa rõ nét cho thực trạng trên chính là các chính sách ưu đãi thuế
TNDN đối với đầu tư trong lĩnh vực CNHT. Do đó, để khắc phục những hạn chế
trên thì cần phải lưu tâm các vấn đề sau: (i) khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật
cần xác định rõ các lĩnh vực trọng điểm cần ưu tiên đầu tư nhằm tạo ra sự chuyên
69
môn hóa, tăng sức bứt phá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai
đoạn; (ii) đổi mới cơ bản quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật, nâng cao chất lượng
văn bản quy phạm pháp luật; (iii) nâng cao trình độ và năng lực làm luật của Quốc
hội; (iv) tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức nghiên cứu
chuyên ngành trong hoạt động xây dựng pháp luật; (v) hiện đại hoá phương thức và
phương tiện xây dựng pháp luật; (vi) nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án
lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hiệp
hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần quan tâm đến việc thi hành các quy định
pháp luật về ưu đãi thuế TNDN đối với đầu tư trong lĩnh vực CNHT. Cụ thể, phát
triển hệ thống thông tin và phổ biến giáo dục pháp luật, xây dựng và triển khai
Chương trình Quốc gia về phổ biến giáo dục pháp luật dài hạn. Cải cách tổ chức và
hoạt động của cơ quan tư pháp, trọng tâm là hoạt động xét xử của toà án theo nội
dung của Chiến lược cải cách tư pháp. Đề cao kỷ luật, kỷ cương trong các hoạt
động của các cơ quan nhà nước. Bảo đảm số lượng và chất lượng nguồn nhân lực
cán bộ, công chức làm công tác pháp luật. Huy động các nguồn lực tài chính trong
nước và quốc tế.
2.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
2.2.2.1. Giải pháp về ưu đãi về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp; thời gian
miễn thuế, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
Một số chuyên gia cho rằng chính sách ưu đãi thuế có thể có tác dụng
khuyến khích đầu tư nhưng không phải là điều quan tâm hàng đầu khi các nhà đầu
tư quyết định đầu tư. Quyết định đầu tư của nhà đầu phù thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định chính chị và duy trì môi trường thể
chế lành mạnh là những yếu tố quan trọng nhất. Năm 2011, UNIDO đã thực hiện
khảo sát 1426 DN CN tại 4 địa phương lớn của Việt Nam, gồm Thành phố Hồ Chí
Minh (390 DN), Bình Dương (375 DN), Đồng Nai (233 DN) và Hà Nội (290 DN)
và tại 4 tỉnh khác gồm Vĩnh Phúc (23 DN), Bắc Ninh (31 DN), Đà Nẵng (31 DN)
70
và Bà Rịa Vũng Tàu (33 DN) [34, tr.6-9]. Kết quả khảo sát về mức độ quan tâm của
nhà đầu tư được thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 2.2. Bảng xếp hạng mức độ quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài
khi quyết định đầu tư
(Điểm cao nhất là 5, điểm thấp nhất là 1)
Tiêu chí
Ổn định kinh tế Ổn định chính trị Thuế Chi phí lao động Khuôn khổ pháp lý của quốc gia Chất lượng kết cấu hạ tầng An ninh/an toàn cá nhân Dịch vụ hỗ trợ của chính phủ Khả năng đáp ứng về lao động được đào tạo Năng lực quản trị nhà nước Có các khu chế xuất, khu CN Các hiệp định tránh đánh thuế trùng Chất lượng cuộc sống Thị trường nội địa Các hiệp định thương mại song phương Các nhà cung cấp tại Việt Nam Các chính sách ưu đãi Các FTA Nguồn nguyên liệu và tài nguyên thiên nhiên Các đối tác liên doanh Mua sắm tài sản Điểm đánh giá 2.56 2.55 2.49 2.49 2.40 2.39 2.38 2.37 2.37 2.31 2.25 2.24 2.19 2.17 2.16 2.14 2.13 2.06 1.95 1.82 1.49
Nguồn: [34]
Theo ý kiến phản hồi của các DN CNHT trong nước, không nhất thiết phải
ưu đãi về thời hạn miễn giảm thuế TNDN lớn như hiện nay vì theo nguyên tắc khi
DN hoạt động có lãi thì việc chia sẻ lợi nhuận lợi ích với cộng đồng cũng là hợp lý.
Còn khi hoạt động bị lỗ thì ưu đãi này cũng không có ý nghĩa cho việc hỗ trợ phát
triển DN. Bên cạnh đó, ưu đãi này có thể là kẽ hở cho một số DN lợi dụng, khi hết
thời hạn ưu đãi họ có thể chuyển sang địa điểm khác, hoặc mở ra dự án mới để lại
được hưởng giai đoạn ưu đãi mới.
Theo tác giả, chính sách ưu đãi thuế có tính hai mặt, khi ban hành các chính
sách này cần cân nhắc thận trọng để tạo ra sự cân bằng giữa lợi ích và chi phí. Do
71
đó, Nhà nước cần rà soát lại các chính sách ưu đãi thuế để hạn chế những chính
sách không cần thiết, lãng phí và đảm bảo chính sách ưu đãi khi ban hành cần đơn
giản, rõ ràng, thống nhất, không nên dàn trải trong quá nhiều văn bản. Việt Nam cần
nghiên cứu giảm việc áp dụng ưu đãi thuế suất và ưu đãi về thời gian miễn thuế,
giảm thuế. Thực vậy, như đã trình bày trong các phần trước, ưu đãi về thời gian
miễn thuế, giảm thuế có xu hướng thu hút đầu tư ngắn hạn, DN có xu hướng thay
đổi dự án đầu tư để hưởng kỳ ưu đãi mới nhằm tối đa hóa lợi nhuận đồng thời xuất
hiện các hiện tượng chuyển giá gây thâm hụt ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, Nhà
nước có thể tham khảo thêm kinh nghiệm từ các nước đi trước khi áp dụng các hình
thức ưu đãi thuế khác như giảm trừ thu nhập chịu thuế theo đầu tư, giảm trực tiếp
nghĩa vụ thuế phải nộp.
2.2.2.2. Giải pháp về đối tượng hưởng ưu đãi
Thứ nhất, cần mở rộng định nghĩa CNHT để phù hợp với thực tiễn và các
nước khác trên thế giới, theo hướng: “CNHT là các ngành CN sản xuất nguyên liệu,
phụ liệu, vật liệu, linh kiện, phụ tùng bao gồm cả thiết kế và các công đoạn gia công
để cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh”. Đồng thời, cần bổ sung thêm danh
mục sản phẩm của các công đoạn tạo ra sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển để có cơ
chế áp dụng và thuận tiện cho DN trong quá trình tra cứu. Bên cạnh đó, Nhà nước
cần rà soát lại danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển để cụ thể hóa danh mục
và bổ sung thêm nhiều sản phẩm mới phù hợp đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế
thị trường.
Thứ hai, Nhà nước cần xác định rõ ngành nghề chủ đạo trong chiến lược phát
triển CNHT để từ đó đưa ra các mức ưu đãi phù hợp cho từng loại ngành nghề.
Thực tế, mỗi sản phẩm có độ phức tạp cũng như giá trị kinh tế khác nhau, do đó
việc quy định mức ưu đãi ngang bằng nhau là chưa tạo ra tính công bằng cho các
DN. Thực tế, công việc này đòi hỏi thời gian, kinh phí và cần nhiều hỗ trợ từ các
chuyên gia trong ngành, nhưng theo tác giả đây là một vấn đề nên nghĩ đến ngay lúc
này nhằm tạo ra một ngành chủ lực, có tính chuyên môn hóa cao cho Việt Nam.
Thứ ba, trong thời gian tới, nhà nước cần làm rõ tiêu chuẩn kỹ thuật của Liên
minh Châu Âu (EU) hoặc tương đương được hiểu như thế nào, cần những bằng
72
chứng gì để chứng minh cho điều kiện trên. Và nghiên cứu, xem xét hướng dẫn chi
tiết về các tiêu chí xác định đối tượng hưởng ưu đãi theo diện Dự án mở rộng có
năng lực sản xuất tăng ít nhất 20% tại Nghị định 111/2015/NĐ-CP theo hướng
“1. Đối tượng ưu đãi:
Dự án sản xuất sản phẩm CNHT thuộc Danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên
phát triển: Bao gồm dự án đầu tư mới; dự án mở rộng quy mô sản xuất,
nâng cao công suất, đổi mới công nghệ sản xuất, phát triển sản xuất sản
phẩm mới đảm bảo tỷ trọng nguyên giá tài sản cố định tăng thêm đạt tối
thiểu từ 20% so với tổng nguyên giá tài sản cố định hoặc công suất thiết kế
tăng thêm tối thiểu từ 20% so với công suất thiết kế trước khi đầu tư.”
2.2.2.3. Giải pháp về chuyển tiếp ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
Dựa trên thực trạng về chuyển tiếp ưu đãi thuế TNDN trong lĩnh vực CNHT,
Nhà nước cần có những sửa đổi, bổ sung Nghị định 12/2015/NĐ-CP theo hướng
chuyển tiếp ưu đãi thuế TNDN cho dự án đầu tư thuộc lĩnh vực CNHT trước
01/01/2015 không thuộc diện hưởng ưu đãi nay đáp ứng điều kiện ưu đãi theo Luật
số 71/2014/QH13. Đồng thời, nên sửa đổi Thông tư số 21/2015/TT-BTC theo
hướng quy định rõ việc cho phép áp dụng ưu đãi thuế đối với các Dự án sản xuất
sản phẩm CNHT trước 01/01/2015 và đưa ra ví dụ cụ thể về chuyển tiếp ưu đãi cho
các dự án đầu tư này.
Mới đây, Bộ tài chính đã ban hành tờ trình dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ
sung Nghị định số 218/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số
12/2015/NĐ-CP) về ưu đãi thuế TNDN đối với dự án sản xuất sản phẩm CNHT.
Theo đó, đã có quy định chuyển tiếp về ưu đãi thuế TNDN đối với dự án sản phẩm
CNHT như sau:
Theo đó, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 20 Nghị định 218/2013/NĐ-CP (đã
được sửa đổi tại Nghị định 12/2015/NĐ-CP) như sau:
g) DN có dự án đầu tư mới hoặc dự án đầu tư mở rộng sản xuất sản phẩm
CNHT thực hiện trước ngày 01/01/2015, đáp ứng các điều kiện của dự án sản xuất
sản phẩm CNHT theo quy định tại Luật số 71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 (gọi
chung là dự án) và được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất
73
sản phẩm CNHT thì được hưởng ưu đãi về thuế TNDN cho thời gian còn lại kể từ
kỳ tính thuế Nghị định này có hiệu lực thi hành (kỳ tính thuế năm 2020), cụ thể như
sau:
- Đối với dự án được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản
xuất sản phẩm CNHT trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng dự án
chưa được hưởng ưu đãi thuế TNDN thì thời gian ưu đãi còn lại được xác định bằng
thời gian ưu đãi thuế thuế TNDN theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm CNHT trừ
đi số năm tính từ năm được cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm CNHT đến
trước năm Nghị định này có hiệu lực thi hành.
- Đối với dự án được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản
xuất sản phẩm CNHT từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng dự án chưa
được hưởng ưu đãi thuế TNDN thì thời gian ưu đãi còn lại được xác định bằng thời
gian ưu đãi thuế thuế TNDN theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm CNHT trừ đi
số năm tính từ năm Nghị định này có hiệu lực thi hành đến trước năm được cấp
Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm CNHT.
- Đối với dự án được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản
xuất sản phẩm CNHT trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, đã hoặc đang
được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện ưu đãi khác (ngoài điều kiện ưu đãi
đối với dự án sản xuất sản phẩm CNHT) thì được lựa chọn hưởng ưu đãi thuế
TNDN theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm CNHT cho thời gian còn lại kế từ kỳ
tính thuế Nghị định này có hiệu lực thi hành. Thời gian ưu đãi còn lại được xác định
bằng thời gian ưu đãi thuế thuế TNDN theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm
CNHT trừ đi thời gian ưu đãi thuế TNDN của dự án này đã được hưởng theo điều
kiện khác (cả về thuế suất và thời gian miễn, giảm nếu có).
- Đối với dự án được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản
xuất sản phẩm CNHT từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, đã hoặc đang
được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện ưu đãi khác (ngoài điều kiện ưu đãi
đối với dự án sản xuất sản phẩm CNHT) thì được lựa chọn hưởng ưu đãi thuế
TNDN theo điều kiện dự án sản xuất sản phẩm CNHT cho thời gian còn lại kể từ
năm được cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản xuất sản phẩm CNHT.Thời gian ưu đãi còn
lại được xác định bằng thời gian ưu đãi thuế thuế TNDN theo điều kiện dự án sản
74
xuất sản phẩm CNHT trừ đi thời gian ưu đãi thuế TNDN của dự án này đã được
hưởng theo điều kiện khác (cả về thuế suất và thời gian miễn, giảm nếu có).
Quy định bổ sung trên phần nào đã tạo ra cơ chế áp dụng các chính sách ưu
đãi thuế TNDN đối với các DN sản xuất sản phẩm CNHT trước ngày 01/01/2015,
góp phần giải quyết một số vướng mắc trên thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích cho
các DN. Đồng thời tạo ra được sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật.
2.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp đối với đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ
Thứ nhất, Việt Nam cần thiết lập cơ chế báo cáo để cơ quan thuế thu thập
thông tin và dữ liệu liên quan đến chính sách ưu đãi thuế như số dự án được hưởng
ưu đãi thuế, số giảm thu ngân sách do ưu đãi thuế, đóng góp của dự án được hưởng
ưu đãi đối với nền kinh tế về khía cạnh việc làm, kim ngạch xuất khẩu… Đặc biệt,
DN được hưởng ưu đãi phải kê khai thuế, kể cả trong trường hợp không phải nộp
thuế [15]. Từ đó giúp Chính phủ nắm bắt được hiệu quả của các chính sách ưu đãi
thuế và có những điều chỉnh phù hợp, kịp thời. Bên cạnh đó, việc báo cáo, kê khai
thuế cũng góp phần đảm bảo tính minh bạch cho các loại hình ưu đãi thuế TNDN.
Thứ hai, cần thúc đẩy tính liên kết trong ngành CNHT. Sự liên kết này nên
tập trung vào việc chia sẻ các thông tin về sản xuất, nhu cầu, xu hướng công nghệ...,
xác định rõ các yêu cầu, nhu cầu với các sản phẩm CNHT; các hỗ trợ về công nghệ,
nhân lực trong nghiên cứu, phát triển sản phẩm; xây dựng các hợp đồng dài hạn
giữa các bên DN để đảm bảo chất lượng cho sản phẩm, cũng như đảm bảo đầu ra
cho các DN sản xuất CNHT [10]. Cần chú trọng vào vai trò của một số trung tâm,
hiệp hội DN như Hiệp hội DN CNHT Việt Nam (VASI)… để cung cấp thông tin
mọi mặt cho DN sản xuất CNHT, cũng như cho các khách hàng, đối tác là tập đoàn
đa quốc gia, các DN FDI, đây có thể là một kênh giúp giao lưu, trao đổi kỹ thuật và
tìm nguồn cung – cầu cho DN. Bên cạnh đó, cần thiết lập một cơ sở giúp giải đáp
những thắc mắc, các vấn đề liên quan đến chính sách pháp luật, thủ tục. Thường
xuyên tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm để giúp các DN thấy rõ được tiềm năng và
lợi ích khi đầu tư sản xuất CNHT. Ngoài ra, nhà nước nên thúc đẩy sự hình thành
các khu, cụm liên kết CN, cụm CNHT, tạo môi trường thuận lợi cho giao thương,
kết nối và hợp tác giữa các DN.
75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương này, tác giả tập trung làm rõ thực trạng pháp luật về ưu đãi
thuế TNDN đối với đầu tư trong lĩnh vực CNHT. Từ đó rút ra các giải pháp hoàn
thiện pháp luật có liên quan. Theo đó, luận văn rút ra được 3 thực trạng nổi bật
trong các chính sách ưu đãi thuế TNDN đối với lĩnh vực CNHT.
Thứ nhất, hiện nay Việt Nam đang áp dụng các mức ưu đãi khá cao trong
lĩnh vực CNHT. Điều này góp phần thúc đẩy đầu tư, khuyến khích phát triển CNHT
nhưng cũng tiềm ẩn những nguy cơ như giảm thu ngân sách, lợi dụng các chính
sách để thu lợi. Vì vậy, khi ban hành các chính sách này cần cân nhắc thận trọng để
tạo ra sự cân bằng giữa lợi ích và chi phí. Do đó, Nhà nước cần rà soát lại các chính
sách ưu đãi thuế để hạn chế những chính sách không cần thiết, lãng phí và đảm bảo
chính sách ưu đãi khi ban hành cần đơn giản, rõ ràng, thống nhất, không nên dàn
trải trong quá nhiều văn bản.
Thứ hai, định nghĩa CNHT trong pháp luật Việt Nam đang được quy định
theo nghĩa hẹp và theo tác giả, khái niệm này cần được mở rộng để phù hợp với
thực tế. Bên cạnh đó, Nhà nước cần xác định một số ngành đặc biệt ưu tiên phát
triển để tạo ra tính chuyên môn hóa trong sản xuất CNHT, tránh dàn trải như quy
định hiện nay. Ngoài ra, cũng cần phải chú trọng quy định rõ ràng hơn về các đối
tượng được hưởng các chính sách ưu đãi thuế TNDN trong lĩnh vực CNHT để tạo
thuận lợi cho việc nghiên cứu, áp dụng.
Thứ ba, các quy định pháp luật chưa có sự thống nhất về quy định chuyển
tiếp ưu đãi thuế TNDN gây ra nhiều cách hiểu khác nhau và khó khăn trong quá
trình áp dụng. Theo đó, dự án sản xuất sản phẩm CNHT thực hiện trước ngày
01/01/2015 có được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều khoản chuyển tiếp hay
không là câu hỏi còn gây nhiều tranh cãi hiện nay. Mới đây Bộ tài chính đã có văn
bản trình Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến vấn đề trên
và hy vọng sẽ sớm có cơ chế giải quyết để đảm bảo quyền và lợi ích cho các dự án
sản xuất CNHT thực hiện trước ngày 01/01/2015.
76
KẾT LUẬN
Kế thừa các công trình nghiên cứu khác, luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý
luận cơ bản về CNHT với các nội dung khái niệm, đặc điểm và vai trò của CNHT.
Đồng thời cũng làm rõ về khái niệm, đặc trưng, các hình thức ưu đãi thuế TNDN.
Qua đó, cho thấy rõ vai trò quan trọng của ưu đãi thuế TNDN trong việc phát triển
CNHT.
Dựa trên các quy định của pháp luật, luận văn thống kê, phân tích, tổng hợp
các quy định pháp luật ưu đãi thuế TNDN đối với đầu tư trong lĩnh vực CNHT tại
Việt Nam hiện nay đồng thời nghiên cứu một số kinh nghiệm từ hai quốc gia đã rất
thành công với CNHT là Thái Lan và Malaysia, dựa trên các cơ sở đó, tác giả rút ra
một số bài học cho Việt Nam và đề ra một số giải pháp trong các phần tiếp theo.
Điểm nổi bật trong luận văn này là tác giả đã thống kê được 3 thực trạng mà
theo tác giả còn nhiều vướng mắc, chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật và
gây nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng trên thực tiễn, cụ thể: thực trạng về ưu
đãi thuế suất thuế TNDN, thời hạn miễn thuế, giảm thuế TNDN; thực trạng về đối
tượng hưởng ưu đãi thuế TNDN và thực trạng về chuyển tiếp ưu đãi thuế TNDN.
Song song đó, đề cập đến một số trường hợp áp dụng chính sách ưu đãi thuế TNDN
của các DN sản xuất sản phẩm CNHT trên thực tế để tạo ra tính thực tiễn cho đề tài.
Trên cơ sở các yêu cầu và đề xuất giải pháp hoàn thiện ưu đãi thuế TNDN
đối với đầu tư trong lĩnh vực CNHT, xác định vị trí, tầm quan trọng của CNHT đối
với CNH-HĐH đất nước, luận văn đưa 2 nhóm giải pháp chính gồm (i) giải pháp
hoàn thiện pháp luật ưu đãi thuế TNDN đối với đầu tư trong lĩnh vực CNHT; (ii)
giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ưu đãi thuế TNDN đối với đầu tư
trong lĩnh vực CNHT. Thông qua nghiên cứu này, góp phần cung cấp luận cứ khoa
học cho việc đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật ưu đãi thuế TNDN theo pháp luật đầu tư trong lĩnh vực CNHT ở Việt
Nam hiện nay.
77