VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THỦY CHUNG

ĐỐI CHIẾU TỪ NGỮ CHỈ HOA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2020

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THỦY CHUNG

ĐỐI CHIẾU TỪ NGỮ CHỈ HOA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 9 22 90 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. HÀ QUANG NĂNG

2. TS. PHẠM HIỂN

HÀ NỘI - 2020

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số

liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác. Nội dung luận án có tham khảo và sử

dụng ngữ liệu được trích dẫn từ các tác phẩm và nguồn tư liệu đăng tải trên

các trang thông tin điện tử theo Danh mục tài liệu tham khảo của luận án.

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thủy Chung

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ

LUẬN.......................................................................................................................... 9

1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ......................................................................... 9

1.1. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa trên thế giới ...................................................... 9

1.2. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa ở Việt Nam ..................................................... 10

2. Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài luận án .................................................... 13

2.1. Lý thuyết về từ và nghĩa của từ ...................................................................... 13

2.1.1. Từ ......................................................................................................... 13

2.1.2. Nghĩa của từ ......................................................................................... 21

2.1.3. Thành ngữ, tục ngữ và ca dao .............................................................. 31

2.2. Một số vấn đề về quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa ................................... 32

2.2.1. Khái niệm về văn hóa ........................................................................... 32

2.2.2. Đặc điểm văn hóa Anh và Việt ............................................................ 32

2.2.3. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa .............................................. 33

2.3. Lý thuyết về định danh từ vựng ...................................................................... 35

2.3.1. Khái niệm định danh ............................................................................ 35

2.3.2. Đơn vị định danh .................................................................................. 37

2.3.3. Cơ chế định danh của đơn vị định danh phái sinh (định danh bậc 2) ........ 38

2.3.4. Biến thể định danh................................................................................ 38

2.4. Lý thuyết về đối chiếu ngôn ngữ ..................................................................... 39

2.4.1. Khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu ...................................................... 39

2.4.2. Các bình diện đối chiếu ngôn ngữ ........................................................ 39

2.4.3. Các phương pháp đối chiếu .................................................................. 40

2.4.4. Các nguyên tắc nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ ............................ 41

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ......................................................................................... 42

Chương 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO, ĐỊNH DANH VÀ NGỮ

NGHĨA TỪ NGỮ CHỈ HOA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT .......... 43

2.1. Đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt .................. 43

2.1.1. Đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh ............................... 43

2.1.2. Đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Việt ............................... 46

2.1.3. Đối chiếu đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và

tiếng Việt ........................................................................................................ 49

2.2. Đặc điểm định danh từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt ............. 51

2.2.1. Tính có lý do và không có (hoặc chưa rõ) lý do đặt tên của tên gọi .......... 51

2.2.2. Đặc điểm định danh tên gọi các loại hoa trong tiếng Anh ................... 52

2.2.3. Đặc điểm định danh tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt ................... 58

2.2.4. Các biến thể tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt.......... 64

2.2.5. Đối chiếu đặc trưng dùng để định danh tên các loài hoa trong

tiếng Anh và tiếng Việt .................................................................................. 70

2.3. Đặc điểm ngữ nghĩa từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt ............. 80

2.3.1. Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh .................... 81

2.3.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Việt .................... 87

2.3.3. Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và

tiếng Việt ........................................................................................................ 95

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ....................................................................................... 102

Chương 3: ĐỐI CHIẾU NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA THÀNH NGỮ,

TỤC NGỮ, CA DAO CÓ CHỨA THÀNH TỐ HOA VÀ TÊN GỌI CÁC

LOÀI HOA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT ..................................... 104

3.1. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố

flower và tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh ................................................... 104

3.1.1. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Anh chứa

thành tố “flower” (hoa) ................................................................................ 104

3.1.2. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Anh chứa

tên gọi các loài hoa ....................................................................................... 108

3.2. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt có chứa

thành tố hoa và tên gọi các loài hoa ..................................................................... 121

3.2.1. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa .. 121

3.2.2. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt có

chứa tên gọi các loài hoa .............................................................................. 133

3.3. Đối chiếu nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa từ

hoa và tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt ....................................... 141

3.3.1. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa thành tố

“flower” trong tiếng Anh và “hoa” trong tiếng Việt .................................... 143

3.3.2. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa tên các loài

hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt ................................................................ 144

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ....................................................................................... 146

KẾT LUẬN ............................................................................................................ 147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ NỘI DUNG LIÊN

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ........................................................................................ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 152

PHỤ LỤC ................................................................. Error! Bookmark not defined.

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Ý nghĩa

1 CBĐ Cái biểu đạt

2 CĐBĐ Cái được biểu đạt

3 T Dấu hiệu được chọn để định danh

4 C – P Chính – Phụ

5 Đ – L Đẳng – Lập

Bảng 2.1: Tên gọi hoa trong tiếng Anh xét về mặt cấu tạo....................................... 45

Bảng 2.2: Tên gọi hoa trong tiếng Việt xét về mặt cấu tạo....................................... 47

Bảng 2.3: Bảng các kiểu định danh tên gọi các loại hoa trong tiếng Anh ................ 53

Bảng 2.4: Bảng các kiểu định danh tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt ................ 59

Bảng 2.5: Bảng so sánh các kiểu định danh tên các loài hoa trong tiếng Anh và

tiếng Việt ........................................................................................................ 70

Bảng 2.6: Bảng tổng kết thống kê các biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa

trong tiếng Anh ............................................................................................... 86

Bảng 2.7: Bảng tổng kết thống kê các biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa

trong tiếng Việt ............................................................................................... 93

Bảng 2.8: Bảng so sánh đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ tên gọi các loài hoa

trong tiếng Anh và tiếng Việt ......................................................................... 95

Bảng 3.1: Bảng đối chiếu nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có

chứa thành tố hoa” và tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt ......... 142

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Tam giác ngữ nghĩa của S.Ullmann

Sơ đồ 1.2: Tháp nghĩa hình học không gian của Đỗ Hữu Châu

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Xu hướng nghiên cứu các lớp từ hay các nhóm từ ngữ trong ngôn ngữ học dưới nhiều góc độ như ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng v.v đã được phát triển từ rất lâu và có những đóng góp lớn cho thực tiễn sử dụng ngôn ngữ, đặc biệt là các nghiên cứu liên quan đến đối chiếu các lớp từ giữa các ngôn ngữ.

Từ ngữ chỉ hoa có số lượng khá lớn và mang ý nghĩa phong phú, đa dạng nên chúng trở thành đối tượng được ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ và bình diện. Trên thế giới, có các nghiên cứu theo đường hướng khác nhau về hoa. Dưới góc độ văn hóa, tác giả Huss et all (2017) đã nghiên cứu về các loài hoa (với các cách tri nhận khác nhau) được khái quát hóa như thế nào trong một nền văn hóa. Về góc độ tâm lý, tác giả Haviland- Johns et all (2005) đã thực hiện các nghiên cứu khác nhau và chỉ ra hoa là một yếu tố mang lại cảm xúc tích cực mạnh mẽ. Trong nghiên cứu của Frownfelter (2010), các loài hoa được sử dụng như một cách nói ẩn dụ để giải quyết những vấn đề cảm xúc có liên quan đến chủ đề giới tính nữ. Ở Việt Nam, cũng có nhiều nghiên cứu về hoa chủ yếu theo góc độ ngữ nghĩa học, đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của Cao Thị Thu (1995) đã xác định được những đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của tên gọi thực vật trong trường từ vựng tên gọi thực vật, trong đó có đề cập tới từ chỉ hoa. Lê Thị Kim Dung (2019) nghiên cứu làm rõ đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa và phương thức chuyển nghĩa của các từ chỉ hoa trong tiếng Hán, so sánh với tiếng Việt. Ngoài ra có các nghiên cứu khác về trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ hoa sử dụng ngữ liệu nghiên cứu là các loại hình văn học dân gian như Hà Thị Quế Anh (2007); Trần Hạnh Nguyên (2014) v.v. Như vậy, chưa có nghiên cứu nào về nhóm từ chỉ hoa có đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt.

1

Về mặt thực tiễn, người học, người sử dụng ngôn ngữ gặp nhiều khó khăn trong việc học và dịch các từ và cụm từ vì phương thức cấu tạo từ, cụm từ, đặc điểm ngữ nghĩa của chúng phức tạp, gồm nhiều tầng bậc. Nghiên cứu đối chiếu về khả năng tạo từ, đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt để từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm văn hóa giữa hai cộng đồng ngôn ngữ sẽ giúp cho việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày và dịch thuật được thuận lợi hơn.

Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đối chiếu từ ngữ chỉ

hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt” cho luận án của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích nghiên cứu Thông qua so sánh đối chiếu đặc điểm cấu tạo, định danh và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ hoa cũng như các hướng nghĩa biểu trưng của các thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa từ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt để làm sáng tỏ những tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, đồng thời chỉ ra được các yếu tố văn hóa, đặc điểm tư duy của cộng đồng người sử dụng tiếng Anh và tiếng Việt có thể tác động đến sự tương đồng và khác biệt này.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án cần giải quyết các

nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoa dưới các góc độ khác nhau nói chung và nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa nói riêng ở trong nước và trên thế giới nhằm tổng hợp, đánh giá những kết quả nghiên cứu đã đạt được, từ đó xác định những vấn đề, nội dung còn bỏ ngỏ (khoảng trống nghiên cứu) để tiếp tục nghiên cứu;

Xác lập một khung lý thuyết để làm cơ sở nghiên cứu các vấn đề được

đặt ra trong luận án;

Miêu tả cấu tạo, phân tích đặc điểm định danh và đặc điểm ngữ nghĩa

và nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt;

Đối chiếu đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh, đặc điểm ngữ nghĩa

và ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những đơn vị từ ngữ chỉ hoa trong

3.1 Đối tượng nghiên cứu tiếng Anh và tiếng Việt.

2

3.2. Phạm vi nghiên cứu Vì từ ngữ về hoa có số lượng rất lớn biểu thị các phương diện khác nhau của hoa, chẳng hạn bao gồm các từ ngữ biểu thị: màu sắc của hoa, bộ phận của hoa, đặc tính, trạng thái của hoa, tên gọi các loài hoa... bởi vậy trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi chỉ giới hạn tập trung vào các từ ngữ là tên

gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Mặc dù vậy, khi nghiên cứu về tên gọi các loài hoa, luận án không đề cập đến phương diện từ nguyên, nguồn gốc…mà chỉ tập trung nghiên cứu các bình diện sau:

+ Cấu tạo các đơn vị từ vựng trong tiếng Anh và tiếng Việt dùng để gọi

tên các loài hoa;

+ Phương thức định danh: Tìm hiểu cơ chế hay các đặc trưng được

chọn để gọi tên hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt;

+ Đặc điểm ngữ nghĩa: phân tích thành tố nghĩa để phân giải lời định nghĩa từ điển thành các nét nghĩa khu biệt hay còn gọi là nghĩa vị, phản ánh những đặc trưng cơ bản của đối tượng được biểu thị;

+ Ý nghĩa biểu trưng: từ khối liệu thành ngữ, tục ngữ và ca dao có chứa thành tố hoa và tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án chỉ ra các hướng nghĩa biểu trưng trong hai ngôn ngữ, đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó làm rõ mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa và tư duy trong mỗi cộng đồng người sử dụng tiếng Anh và tiếng Việt. 4. Phương pháp nghiên cứu và ngữ liệu nghiên cứu 4.1. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu và thực hiện được các nhiệm vụ đặt ra

của luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp miêu tả: Đây là phương pháp nghiên cứu để miêu tả đặc điểm cấu tạo, định danh, ngữ nghĩa và nghĩa biểu trưng của từ ngữ thuộc trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ hoa xuất hiện trong ngữ cảnh là các câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao trong tiếng Anh và tiếng Việt.

Phương pháp đối chiếu: Đây là phương pháp nghiên cứu chính để giải quyết các vấn đề của luận án. Luận án sử dụng phương pháp đối chiếu hai chiều. Phương pháp này được sử dụng để tìm ra sự giống nhau và khác nhau mang tính đặc trưng ngôn ngữ, văn hóa và tư duy ở người Anh và người Việt thông qua các từ ngữ chỉ hoa.

3

Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Đây là phương pháp được sử dụng để phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ các loài hoa để phát hiện các nét nghĩa/ nghĩa vị khu biệt, từ đó tìm ra nét nghĩa làm cơ sở cho sự chuyển nghĩa và sự biểu trưng hóa được thể hiện trong ca dao, thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt.

Thủ pháp thống kê phân loại: Các hiện tượng ngôn ngữ không chỉ có những đặc trưng về chất mà còn có cả đặc trưng về lượng nên thủ pháp thống kê phân loại được sử dụng nhằm thống kê và phân loại các từ ngữ chỉ các loài hoa và các ý nghĩa của chúng trong từ điển giải thích tiếng Anh, từ điển giải thích tiếng Việt, từ điển, sách báo và các trang mạng để làm ngữ liệu cho việc nghiên cứu đối chiếu của luận án.

4

4.2. Ngữ liệu nghiên cứu Để có ngữ liệu đối chiếu trong luận án, chúng tôi thu thập và phân chia ngữ liệu của luận án thành hai nhóm chính: nhóm ngữ liệu 1 gồm các từ ngữ chỉ tên gọi loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt; nhóm ngữ liệu 2 là các thành ngữ, tục ngữ và ca dao có chứa từ hoa và tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Các nhóm ngữ liệu này được dùng vào các mục đích sau: Nhóm ngữ liệu 1: được sử dụng vào việc khảo sát, miêu tả và phân tích đặc điểm cấu tạo từ, đặc điểm định danh, biến thể định danh và đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ tên loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Nhóm ngữ liệu này bao gồm 347 từ ngữ chỉ tên hoa trong tiếng Anh và 355 từ ngữ chỉ tên hoa trong tiếng Việt được thu thập từ các nguồn từ điển giải thích, từ điển sinh học, từ điển trực tuyến, từ điển, sách, báo và các trang mạng về hoa và nghệ thuật cây cảnh. (Xem phụ lục I và II) Đặc biệt, đối với từ điển ngữ văn (từ điển giải thích), ngoài việc thu thập từ ngữ chỉ các loài hoa, luận án còn sử dụng định nghĩa tên các loài hoa trong từ điển giải thích để phân tích các nét nghĩa hay nghĩa vị. Do các nguồn từ điển hiện nay khá đa dạng nên luận án sử dụng các định nghĩa trong từ điển của Oxford Advanced Learner’s Dictionary, Nxb ĐH Oxford, tb 2015 và Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, Nxb Từ điển Bách Khoa, 2012). Nhóm ngữ liệu 2: được sử dụng để phân tích và làm rõ các hướng biểu trưng của từ hoa và tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Do ngữ nghĩa liên tưởng được đặt trong bối cảnh nên ngữ liệu chúng tôi thu được là các thành ngữ, tục ngữ và ca dao gồm 75 thành ngữ, tục ngữ và ca dao trong tiếng Anh và 156 thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong tiếng Việt. Nhóm ngữ liệu này được thu thập từ các nguồn từ điển thành ngữ, tục ngữ trực tuyến, từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt và kho tàng ca dao. (Xem phụ lục III và IV)

Tiêu chí thu thập ngữ liệu: Để có nguồn ngữ liệu chính xác và đầy đủ, luận án căn cứ vào định nghĩa của từ hoa trong từ điển sinh học, từ điển giải thích tiếng Anh và tiếng Việt để thu thập: Trong thực vật học, hoa (phương ngữ miền bắc) hay bông (phương ngữ miền nam) là bộ phận chứa cơ quan sinh sản, đặc trưng của thực vật có hoa, cụ thể là một chồi rút ngắn mang những lá biến đổi làm chức năng sinh sản của cây. Về mặt cấu trúc thực vật học, hoa là một dạng cành đặc biệt. Các loài hoa chiếm một phần quan trọng trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của con người, và một số (chẳng hạn như sen, đào và hồng) mang ý nghĩa văn hóa và biểu tượng rộng rãi.

Trên cơ sở định nghĩa về hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án sẽ

5

Theo Advanced Learner’s Dictionary (2015), flower (hoa) có các nghĩa sau: 1. The coloured part of a plant from which the seed or fruit develops. Flowers usually grow at the end of a stem and last only a short time (Bộ phận có màu sắc của cây mà từ đó hạt hoặc quả phát triển). 2. A plant grown for the beauty of its flowers (Một cây được trồng để lấy hoa đẹp). 3. A flower with its stem that has been picked as a decoration (Một bông hoa có cuống được hái để trang trí). Theo Hoàng Phê (2012), hoa được định nghĩa như sau: 1. Cơ quan sinh sản hữu tính của cây hạt kín, thường có màu sắc và hương thơm. 2. Cây trồng để lấy hoa làm cảnh. 3. Vật có hình đẹp tựa như bông hoa. 4. (id). Hoa tai (nói tắt). 5. (kng). Đơn vị đo khối lượng, bằng một phần mười lạng, ngày trước được đánh dấu hoa thị trên cán cân. 6. (dùng phụ sau d). Hình hoa trang trí. 7. (kết hợp hạn chế). Dạng chữ đặc biệt, to hơn chữ thường, thường dùng ở đầu câu và đầu danh từ riêng. khảo sát và thống kê số lượng từ ngữ chỉ tên hoa theo hai tiêu chí: 1. Cơ quan sinh sản hữu tính của cây hạt kín, thường có màu sắc và hương thơm như: lotus (hoa sen), cherry blossom (hoa anh đào), peach blossom (hoa đào) và hoa bưởi, hoa khế, hoa sen v.v. 2. Cây trồng để lấy hoa làm cảnh như: orchid (hoa lan), rose (hoa hồng), lily (hoa loa kèn) và hoa hồng, hoa lan, hoa thược dược v.v. Qua quá trình khảo sát, chúng tôi thu được 75 thành ngữ, tục ngữ và ca dao chứa thành tố “flower” và tên các loài hoa trong các từ điển thành ngữ,

tục ngữ và sách về ca dao, dân ca trong tiếng Anh. Trong tiếng Việt, hoa và tên gọi các loài hoa xuất hiện rất nhiều trong loại hình văn học dân gian như thành ngữ, tục ngữ và đặc biệt là ca dao, vì vậy luận án thu thập cả thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa và tên các loài hoa và chúng tôi thu được 156 thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa thành tố “hoa” và “tên các loài hoa” từ các từ điển thành ngữ, tục ngữ và kho tàng ca dao người Việt. Đối với các ngữ liệu này (thành ngữ, tục ngữ và ca dao) trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án chỉ khảo sát thống kê những thành ngữ, tục ngữ và những câu ca dao có chứa tên các loài hoa và bộ phận của hoa như: màu sắc của hoa, cánh hoa, búp hoa, bông hoa v.v.

4.3. Phương pháp thu thập ngữ liệu nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu phục vụ cho luận án được tiến hành thu thập trong khoảng thời gian 6 tháng (từ tháng 4/2018 đến tháng 10/2018). Cách thức thu thập ngữ liệu được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Tìm tất cả tên các loài hoa và định nghĩa của chúng trong các từ điển giải thích, từ điển về hoa, sách báo, tạp chí bằng tiếng Anh và tiếng Việt… Đánh từ khóa chỉ tên các loài hoa như rose hay hoa hồng trên các trang mạng về hoa và cây cảnh. Khi thu thập ngữ liệu luôn dựa trên tiêu chí đã đặt ra.

Bước 2: Tìm tất các thành ngữ, tục ngữ và ca dao có chứa thành tố flower và thành tố hoa hay tên các loài hoa trong các từ điển thành ngữ, tục ngữ bằng tiếng Anh và tiếng Việt và trong kho tàng ca dao, dân ca Anh và Việt. Đánh các từ khóa flower và hoa hay cụm từ khóa các thành ngữ tục ngữ có chứa từ flower, hoa và tên các loài hoa trên các trang mạng để thực hiện việc tìm kiếm.

6

Bước 3: Thống kê và phân tích đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ tên các loài hoa dựa trên tiêu chí của từ đơn, từ ghép, từ phái sinh, từ láy và các cụm từ (ngữ). Phân tích đặc điểm định danh trong tiếng Anh dựa trên từ điển từ nguyên trực tuyến (https://www.etymonline.com) và dựa vào những tiêu chí hay đặc trưng đã được xác định trong nghiên cứu cách định danh thực vật giữa các ngôn ngữ Nga, Anh và Kazakstan của G.I.Ujukbaeva. Các tiêu chí đó bao gồm: 1. Hình thức (a. Các sự vật khác, b. Động vật, c. Bộ phận cơ thể động vật, d. Bộ phận cơ thể người); 2. Màu sắc; 3. Kích cỡ; 4. Số lượng bộ

phận; 5. Ứng dụng trong đời sống; 6. Ứng dụng trong y học; 7. Nơi sinh trưởng; 8. Mùi; 9. Vị và 10. Thuộc tính khác. Trong tiếng Việt, hiện nay chưa có từ điển từ nguyên nên việc xác định đặc trưng định danh tên các loài hoa chủ yếu dựa vào các tiêu chí trong kết quả nghiên cứu của G.I.Ujukbaeva và đặc tính vốn có của sự vật hiện tượng. Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa dựa trên các định nghĩa tên các loài hoa trong từ điển giải thích tiếng Anh và tiếng Việt để xác định nét nghĩa hay nghĩa vị khu biệt như nét nghĩa phân loại, màu sắc, hình thức/cấu tạo, kích cỡ v.v.

Bước 4: Nhập các ngữ liệu vào phần mềm máy tính để phân tích số

liệu, tính tỷ lệ phần trăm (%).

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án Luận án là công trình nghiên cứu đối chiếu có hệ thống và chuyên sâu về

nhóm từ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt ở bình diện cấu tạo, định danh và

ngữ nghĩa. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ đóng góp một phần nhất định vào

việc nghiên cứu lý thuyết của ngôn ngữ học đối chiếu cũng như đối chiếu một

nhóm từ ngữ cụ thể giữa các ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ khác nhau. Trên

cơ sở phân tích và đối chiếu đặc điểm cấu tạo từ, đặc điểm định danh và ngữ

nghĩa của các từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án sẽ chỉ ra sự

tương đồng và khác biệt trong cách tạo từ, định danh và ngữ nghĩa của các từ

ngữ chỉ các loài hoa trong hai ngôn ngữ, từ đó rút ra một số đặc trưng văn hóa

của ngôn ngữ và tư duy của hai cộng đồng người Anh và Việt.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần vào việc nghiên cứu

một số vấn đề lý thuyết về nghĩa và nghĩa biểu trưng của một nhóm từ trong

các ngôn ngữ thuộc loại hình khác nhau. Chính sự đối chiếu ngữ nghĩa nói

chung, nghĩa biểu trưng nói riêng của các từ ngữ chỉ các loài hoa trong tiếng

Anh và tiếng Việt có thể giúp thấy được một số đặc trưng văn hóa - dân tộc

trong ngôn ngữ và tư duy của hai cộng đồng người Anh và Việt. Do vậy, các

kết quả nghiên cứu đã góp thêm tiếng nói khẳng định vai trò của lí thuyết về

ngữ nghĩa chưa phải đã lỗi thời mà vẫn có giá trị đối với việc nghiên cứu từ

7

vựng ngữ nghĩa của một ngôn ngữ.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đối chiếu nhóm từ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt có đóng góp thiết thực cho thực tiễn giảng dạy tiếng Anh cho người Việt và dạy tiếng Việt cho người Anh với tư cách là những ngoại ngữ. Đồng thời, nó cũng giúp cho việc phân tích, bình giá các từ ngữ chỉ hoa xuất hiện với tư cách là những tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương bằng tiếng Anh hay tiếng Việt.

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án cũng phục vụ cho công tác biên, phiên dịch cũng như công tác biên soạn từ điển Anh – Việt, Việt – Anh.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bố cục

7. Kết cấu của luận án luận án bao gồm 3 chương: Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. Trong chương này, các nghiên cứu liên quan đến các nhóm từ và nhóm từ chỉ hoa được tổng hợp và phân tích. Một số vấn đề lý luận chung về từ, cụm từ, nghĩa của từ, định danh, ngôn ngữ học đối chiếu, văn hóa cũng được trình bày trong chương này.

Chương 2. Đối chiếu đặc điểm cấu tạo, định danh và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Chương này xác định đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt, sau đó được so sánh dựa trên các đặc điểm văn hóa dân tộc.

8

Chương 3. Đối chiếu nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa và tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Chương 3 tập trung phân tích sự kết hợp của flower (hoa) và tên các loài hoa với các yếu tố khác trên trục ngữ đoạn nhằm làm rõ các hướng nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ và ca dao chứa thành tố hoa và tên các loại hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Mỗi tiểu loại được so sánh đối chiếu để tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt; lý giải sự tương đồng và khác biệt này dựa trên các đặc trưng văn hóa dân tộc.

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa trên thế giới Trên thế giới, đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về các nhóm từ ngữ chỉ màu sắc; chỉ khái niệm sắc đẹp; nhóm các từ ngữ về ánh sáng và bóng tối v.v. và có một số nghiên cứu cụ thể về nhóm từ ngữ chỉ hoa dưới các góc độ khác nhau.

9

+ Nghiên cứu dưới góc độ văn hóa: Một nghiên cứu tiêu biểu ở góc độ này là của Huss et all (2017) với đề tài “The meaning of Flowers: A Cultural and Perceptual Exploration of Ornamental Flowers” (Ý nghĩa của các loài hoa: Một nghiên cứu theo hướng văn hóa và tri nhận về các loài hoa trang trí). Trong công trình này, các tác giả đã tìm hiểu các loài hoa khác nhau (với các cách tri nhận khác nhau) được khái quát hóa như thế nào trong một nền văn hóa. Họ đã sử dụng phương pháp kết hợp để điều tra sở thích của 150 khách thể đối với 4 loại hoa khác nhau, khai thác lý do tại sao họ chọn những loài hoa đó. Các tác giả còn điều tra cách tri nhận của khách thể về khái niệm hoa nói chung và so sánh nó với hình tròn tượng trưng cho tôn giáo của vũ trụ. Từ đó, các tác giả chuyển sang các lý thuyết về tâm lý, tri nhận và văn hóa thông qua việc sử dụng bản đồ khái niệm (concept – map) để tiếp cận những hiểu biết văn hóa về các loài hoa cụ thể. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tất cả 4 loài hoa đều được lựa chọn ngang nhau như là sự lựa chọn đầu tiên vì vậy tác giả đã giới thiệu khái niệm phổ quát về hoa đó là làm tăng thêm sự bình tâm và hạnh phúc của con người. Khái niệm hoa được xếp hạng cao hơn so với hình tròn tượng trưng cho tôn giáo của vũ trụ vì hoa đem lại niềm hạnh phúc còn hình tròn tượng trưng chỉ mang lại sự quan tâm. Các loài hoa cũng được xếp hạng và phân biệt theo ý nghĩa văn hóa mà các yếu tố hình ảnh khác nhau của chúng gợi lên trong bối cảnh văn hóa của đất nước Do Thái. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng có mối tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố nhận thức phổ quát và yếu tố văn hóa cụ thể liên quan đến các loài hoa. Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy một khái niệm trung tâm về hoa (flower) bao quát hơn các ý nghĩa văn hóa cụ thể của các loài hoa.

+ Nghiên cứu dưới góc độ tâm lý: Công trình đầu tiên nghiên cứu về hoa từ góc độ tâm lý là của nhóm tác giả Haviland-Jones et all (2005) thuộc Khoa tâm lý và di truyền học trường đại học New Jersey “An Environmental Approach to Positive Emotion: Flowers” (Một nghiên cứu theo cách tiếp cận môi trường đối với cảm xúc tích cực: Các loài hoa), trong đó các tác giả đã thực hiện ba nghiên cứu khác nhau và chỉ ra hoa là một yếu tố mang lại cảm xúc tích cực mạnh mẽ. Trong nghiên cứu thứ nhất, kết quả cho thấy hoa, khi được tặng cho những người phụ nữ, luôn tạo ra cho họ nụ cười thực sự (true smile). Những người phụ nữ nhận hoa được cho rằng có tâm trạng tích cực hơn cho đến ba ngày sau đó. Trong nghiên cứu thứ hai, một bông hoa được tặng cho những nam giới hay phụ nữ trong thang máy thì đều tạo ra những ứng xử xã hội tích cực hơn là các yếu tố kích thích khác. Trong nghiên cứu thứ ba, hoa được tặng cho những người già (trên 55 tuổi), kết quả cho thấy những người già cũng có tâm trạng tích cực và cải thiện được trí nhớ. Có thể nói hoa có những tác động tức thì hay tác động lâu dài đến đến phản ứng cảm xúc, tâm trạng, hành vi xã hội và thậm chí cả trí nhớ đối với cả nam giới và nữ giới. Hiện nay, có rất ít lý thuyết trong các ngành học có thể giải thích được những phát hiện này. Tác giả cũng cho rằng hoa rất hữu ích bởi vì chúng đã tiến hóa để nhanh chóng tạo ra những cảm xúc tích cực ở loài người.

Ngoài ra, Frownfelter (2010) có công trình nghiên cứu “Flower Symbolism as Female Sexual Metaphor’ (Biểu tượng hoa trong ẩn dụ giới tính nữ). Trong nghiên cứu này, qua những bức tranh màu nước tác giả vẽ từ năm 2009 đến 2010, Frownfelter đã sử dụng các loài hoa như một cách nói ẩn dụ để giải quyết những vấn đề và cảm xúc có liên quan đến chủ đề giới tính nữ.

1.2. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ hoa ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trường từ vựng ngữ nghĩa nói chung và từ ngữ chỉ hoa nói riêng. Các công trình nghiên cứu chủ yếu dưới góc độ ngữ nghĩa học và cú pháp học.

10

+ Dưới góc độ ngữ nghĩa học Nghiên cứu trường từ vựng tên gọi thực vật trong tiếng Việt, tác giả Cao Thị Thu (1995) đã chỉ ra được những đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của tên gọi thực vật trong trường này, trong đó cũng đề cập đến từ chỉ hoa.

11

Cao Thị Thu còn tìm hiểu đặc điểm dân tộc của cách định danh thực vật trong tiếng Việt và có đối chiếu với một số ngôn ngữ Anh, Nga, Kazakstan. Trái lại, nghiên cứu về “Khả năng liên tưởng nghĩa của từ hoa trong truyện Kiều”, Phan Thị Huyền Trang (2007) không đi sâu nghiên cứu về đặc điểm định danh và đặc điểm ngữ nghĩa của hoa và đối chiếu giữa các ngôn ngữ, mà đi sâu phân tích, lý giải sự lan toả ý nghĩa của từ “hoa” từ tâm ra ngoại vi, cũng như sợi dây gắn kết về ngữ nghĩa từ ngoại vi hướng về tâm. Đồng thời tác giả cũng phác thảo phần nào cơ chế sản sinh khái niệm, cơ chế sản sinh ý nghĩa mới của một từ qua tương tác ngữ cảnh, cũng như cơ cấu tổ chức từ vựng trong ngôn ngữ. Theo đó, từ “hoa” trong “Truyện Kiều” xuất hiện 133 lần với 3 tư cách khác nhau: Hoa với tư cách là yếu tố cấu tạo từ: tài hoa, hào hoa, phồn hoa (7 trường hợp), Hoa với tư cách là từ nhân danh: con Hoa, Hoa Nô (4 trường hợp) và Hoa với tư cách là một thực từ với sự hội tụ đầy đủ hai mặt biểu đạt - được biểu đạt và khả năng hoạt động độc lập: 122 trường hợp. Trên cơ sở đó tác giả tìm hiểu khả năng liên tưởng nghĩa của từ “hoa” dưới góc độ ngôn ngữ - văn hoá. Nguyễn Thị Thanh Hường (2014), trong luận văn thạc sỹ của mình “Trường từ vựng ngữ nghĩa về hoa và mẹ trong thơ Dương Kiều Minh” đã khảo sát sáu tiểu trường từ vựng về hoa được nói đến trong thơ Dương Kiều Minh đó là: trường từ vựng về các loài hoa, trường từ vựng về đặc điểm, tính chất hoa, trường từ vựng về thời gian và không gian hoa xuất hiện, trường về danh từ đơn vị dùng để chỉ hoa, trường về các bộ phận của hoa và tiểu trường các từ chỉ trạng thái của hoa. Trường từ vựng về các loài hoa là một trường từ vựng lớn, phong phú nhất trong trường từ vựng về hoa trong tác phẩm của Dương Kiều Minh. Tác giả cũng cho rằng ngoài trường từ vựng về các loài hoa thì trường từ vựng về đặc điểm, tính chất cũng là một trường khá tiêu biểu, với rất nhiều từ nói về hình dáng hoa, kích thước hoa, hương hoa, màu sắc hoa được nhà thơ miêu tả rất chi tiết cụ thể. Tiếp đến là trường từ vựng về thời gian và không gian hoa xuất hiện, tác giả đã thống kê với 161 từ chỉ không gian, thời gian xuất hiện 302 lần. Dương Kiều Minh đã đưa vào trong thơ mình cả một kho từ vựng về thời gian hoa nở, không gian hoa xuất hiện trong thiên nhiên. Bên cạnh đó, trường từ vựng về hoa còn có các tiểu trường khác như các danh từ đơn vị dùng để chỉ hoa, trường các bộ phận của hoa và trường về trạng thái của hoa. Đây cũng là những trường từ

phong phú gồm nhiều hệ thống từ khác nhau, số lượng từ lớn, tạo thành một tập hợp từ miêu tả về hoa đầy đủ, chi tiết, giàu hình ảnh sắc thái về thiên nhiên hoa cỏ trong thơ Dương Kiều Minh. Tiếp đó tác giả đi phân tích, bình luận về vai trò của trường từ vựng về hoa thể hiện trong thơ Dương Kiều Minh. Nó đã góp phần thể hiện bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, và góp phần thể hiện tình cảm, tâm trạng của tác giả trước thiên nhiên, trước cuộc đời. Nghiên cứu “Trường nghĩa hoa trong ca dao” (2014), Trần Hạnh Nguyên đã phân tích đặc điểm cấu tạo, hình thức của các từ chỉ hoa, nghĩa của các đơn vị từ vựng thuộc trường nghĩa hoa trong ca dao, bao gồm cả sự chuyển nghĩa của chúng. Từ đó, tác giả làm rõ nghĩa biểu trưng các từ thuộc trường tên gọi các loài hoa trong ca dao bằng việc tập trung khảo sát bốn loài hoa xuất hiện nhiều nhất trong trong ca dao người Việt như: Đào, mai, sen và hồng.

Gần đây nhất, trong luận án “Ngữ nghĩa của các từ chỉ hoa trong tiếng Hán (liên hệ với tiếng Việt)”, Lê Thị Kim Dung (2019) đã nghiên cứu làm rõ đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa và phương thức chuyển nghĩa của các từ chỉ hoa trong tiếng Hán so sánh với tiếng Việt, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa của các từ chỉ hoa trong hai ngôn ngữ, từ đó làm nổi rõ hàm ý văn hóa và đặc điểm nhận thức của người Trung Quốc và Việt Nam thể hiện qua ý nghĩa của nhóm từ này.

+ Dưới góc độ cú pháp học và ngữ nghĩa học Trong công trình “Đặc trưng ngữ pháp – ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa trong ca dao Việt Nam”, Hà Thị Quế Anh (2007) đã phân tích đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ hoa trong kho tàng ca dao Việt Nam, từ đó đi sâu tìm hiểu nghĩa biểu trưng của từ hoa trong ca dao. Từ các nghiên cứu trên có thể nhận thấy cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Do đó, cũng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và hệ thống về nhóm từ ngữ chỉ hoa trong hai ngôn ngữ này, cũng như đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh của các từ ngữ chỉ hoa, sự chuyển nghĩa của chúng và thông qua đó giải thích một phần nào về đặc trưng văn hóa dân tộc của hai cộng đồng ngôn ngữ Anh và Việt.

Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu đối chiếu nhóm từ ngữ chỉ

12

hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt cho luận án của mình.

2. Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài luận án 2.1. Lý thuyết về từ và nghĩa của từ 2.1.1. Từ 2.1.1.1. Khái niệm về từ

Mặc dù trong ngôn ngữ học hiện đại có sử dụng khái niệm “từ” và coi đó là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, nhưng việc nhận thức về bản chất của “từ” và đưa ra các tiêu chuẩn để nhận diện nó lại cũng rất khác biệt, thậm chí có nhiều điểm mâu thuẫn nhau.

Buhler là người đầu tiên nêu định nghĩa về từ trong tiếng Anh. Ông cho rằng “Các từ là những kí hiệu âm thanh của một ngôn ngữ được cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trường” [89]. Còn Schmidt thì cho rằng “Từ không phải là tổng số có tính số học của vật chất âm thanh và ý nghĩa mà là một chỉnh thể có tổ chức, một đơn vị kết cấu tính vật chất âm thanh và ý nghĩa” [132]. Đứng dưới góc độ ngữ nghĩa học Sapir (1921) đã khái quát “Từ là một đoạn nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn toàn độc lập và bản thân có thể làm thành một câu tối giản” [131]. Như vậy có thể thấy, mỗi tác giả quan niệm về từ theo một cách khác nhau. Định nghĩa của Buhler thiên về ngữ âm, định nghĩa của Schmidt mang tính chung chung không cụ thể, không bao quát, còn định nghĩa của Sapir thiên về ngữ nghĩa.

Nguyễn Hòa (2004) đưa ra định nghĩa về từ tiếng Anh “Words are regarded as the smallest indivisible meaningful units of a language which can operate independently” (Từ được xem là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa nhỏ nhất không thể phân chia được và có thể hoạt động một cách độc lập).

Vấn đề xác định "từ" trong tiếng Việt cũng rất phức tạp và khác nhau giữa các nhà Việt ngữ học. Do đó mỗi nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa về từ tiếng Việt theo quan điểm và tiêu chí xác định riêng của mình. Có thể nêu định nghĩa về từ tiếng Việt của một số tác giả tiêu biểu như sau:

- Định nghĩa từ của M.B. Emeneau: "Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu"1.

13

- Định nghĩa từ của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê: "Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn tả một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không 1 Emeneau M.B (1951), Studies in Vietnamese grammar, Berkeley and Los Angeles, tr. 3.

thể phân tích ra được". Theo Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, những tiếng không độc lập cũng được coi là từ, miễn là chúng có nghĩa: "Những âm nhách, vô, gia, đình đã là âm có nghĩa, lại có thể đứng một mình. Vậy thì những âm ấy là "tiếng" của Việt ngữ hay là từ”. Bên cạnh khái niệm “từ”, Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê còn dùng khái niệm “ngữ” được các ông hiểu tương tự như “từ ghép” (mot composé). Cả “từ đơn”, “từ kép” và “ngữ” đều nằm trong khái niệm “tiếng”. Như vậy, thuật ngữ tiếng của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê tương tự như thuật ngữ từ của các tác giả khác, các thuật ngữ từ đơn, từ kép, ngữ tương ứng với các kiểu từ cụ thể của các học giả khác2.

- Định nghĩa từ của Nguyễn Kim Thản: "Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp"3.

- Định nghĩa từ của Hồ Lê: "Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về nghĩa"4.

- Định nghĩa từ của Đỗ Hữu Châu: "Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu"5.

Và còn rất nhiều định nghĩa của các học giả khác về khái niệm "từ" trong

14

tiếng Việt. Trong luận án này chúng tôi sẽ sử dụng định nghĩa ‘từ’ theo Nguyễn Hòa và Đỗ Hữu Châu để làm cơ sở cho việc khảo sát từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. 2.1.1.2. Đơn vị cấu tạo từ a. Khái niệm đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Anh Theo Bloomfield (1887-1949) “Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mang nghĩa và có giá trị hoặc chức năng về mặt ngữ pháp” [87]. Hình vị được phân loại như sau: 2 Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, Huế, tr. 61. 3 Nguyễn Kim Thản (1963), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb Khoa học, Hà Nội, tr. 64. 4 Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 104. 5 Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 139.

+ Dựa vào nghĩa, hình vị được chia thành hình vị chính tố và hình vị

+ Dựa vào hoạt động, hình vị được chia thành hình vị tự do và hình vị

- Hình vị tự do: là những hình vị mà tự nó có thể xuất hiện với tư cách

phụ tố - Hình vị chính tố (hay căn tố): là loại hình vị mang ý nghĩa cơ bản của từ và các hình vị khác phải phụ thuộc vào nó. Ví dụ: teach (dạy học); employ (thuê)… - Hình vị phụ tố: biểu thị ý nghĩa từ vựng bổ sung hoặc ý nghĩa ngữ pháp. Ví dụ: phụ tố -er hay able ở từ comfortable (thoải mái) mang ý nghĩa từ vựng bổ sung, phụ tố -s trong từ books biểu thị ý nghĩa ngữ pháp số nhiều. Căn cứ vào vị trí đối với chính tố, phụ tố được chia thành tiền tố, hậu tố và liên tố. Tiền tố là phụ tố đặt trước chính tố như tiền tố -un trong các từ unsuccessful (không thành công), unsuitable (không phù hợp). Hậu tố là phụ tố đặt sau chính tố như hậu tố -tion trong các từ distribution (phân bố), information (thông tin)… Và liên tố là phụ tố đặc biệt, có chức năng liên kết các chính tố trong từ phức như liên tố -o trong từ speedometer (công tơ mét). hạn chế những từ độc lập. Ví dụ: table, teacher, sleep, white, woman, play etc.

- Hình vị hạn chế: là những hình vị chỉ có thể xuất hiện với vai trò đi

kèm, phụ thuộc vào hình vị khác. Ví dụ: - ing, - ed, - s, - ity etc. b. Khái niệm đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt

Hiện nay, nói chung các nhà Việt ngữ học đều coi đơn vị cấu tạo từ trong tiếng Việt là hình vị, nhưng giữa các tác giả vẫn có những quan điểm khác nhau. Có hai loại quan điểm đối lập nhau trong việc xác định hình vị.

15

Thứ nhất, quan điểm coi hình vị trùng với âm tiết Các tác giả tiêu biểu của quan điểm này là Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, v.v… Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất của tiếng Việt, vừa là hình vị, vừa là âm tiết, có ý nghĩa và có giá trị về mặt hình thái; còn gọi là tiếng một, chữ, hình vị, từ tố. Ăn, học, đẹp, cao, và, sẽ, thức là những tiếng trong tiếng Việt (…). Trong quan niệm của chúng tôi, mỗi tiếng như thế chính là một một đơn vị gốc - một hình vị - của ngữ pháp tiếng Việt;

tiếng là đơn vị có đủ cả hai đặc trưng: “đơn giản về tổ chức” và “có giá trị về ngữ pháp”6.

Nguyễn Tài Cẩn phân loại tiếng như sau: + Dựa vào ý nghĩa, có thể chia tiếng thành tiếng tự thân có nghĩa, ví dụ như thôn trong nông thôn; đẹp trong đẹp đẽ; trưởng trong viện trưởng v.v.. và tiếng tự thân vô nghĩa như cộ trong xe cộ; lụng trong làm lụng; đủng, đỉnh trong đủng đỉnh v.v.

+ Dựa vào cách dùng, tiếng có thể được chia thành: loại tiếng độc lập

và loại tiếng không độc lập

- Tiếng độc lập là loại tiếng không bị ràng buộc vào một hay một số tổ hợp nào nhất định, nó có thể tách ra khỏi tổ hợp chứa đựng nó để tham gia vào sự thành lập tất cả mọi tổ hợp mà điều kiện ý nghĩa và từ loại cho phép. Nói cách khác, mỗi tiếng độc lập có thể tách ra làm thành một từ đơn. Ví dụ: báo trong báo chí, đảng trong đảng viên, học trong học hành v.v.

- Ngược lại, tiếng không độc lập là loại tiếng chỉ đứng làm thành tố của một hay một số tổ hợp nhất định. Nó không thể thoát ra khỏi tổ hợp chứa đựng nó để tự do tham gia vào sự thành lập những tổ hợp khác. Tiếng không độc lập là tiếng không thể đem dùng như một từ. Ví dụ: thảo trong thảo luận, xôi trong xa xôi, mẽ trong mạnh mẽ v.v. “Tiếng của tiếng Việt không phải là một hình vị bình thường như hình vị ở nhiều ngôn ngữ khác. Tiếng là một loại hình vị đặc biệt: một hình tiết”. [4, tr. 38].

Cao Xuân Hạo cũng theo quan điểm tiếng trùng với hình vị và trùng với âm tiết. Ông còn cho rằng, tiếng có thể trùng với cả âm vị. Cao Xuân Hạo viết: “Trong tiếng Việt, tiếng vừa là âm vị, vừa là hình vị, vừa là từ (…)”7. Thứ hai, quan điểm coi hình vị không hoàn toàn trùng với âm tiết Các nhà Việt ngữ học theo quan điểm này cũng có ý kiến khác nhau về

khái niệm “hình vị”.

6 Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ, Nxb ĐH&THCN, Hà Nội, tr. 12-13. 7 Cao Xuân Hạo (1985), Về cương vị ngôn ngữ học của tiếng, Tạp chí Ngôn ngữ, Số 2, tr. 21.

16

Theo Ðỗ Hữu Châu: “Hình vị là những đơn vị được tạo ra từ các âm vị, tự thân có nghĩa nhưng không được dùng trực tiếp để giao tiếp, tức không trực tiếp được dùng để kết hợp với nhau tạo thành câu… Hình vị (hay yếu tố cấu tạo từ) tiếng Việt là những hình thức ngữ âm cố định, bất biến, nhỏ nhất với

dạng chuẩn tối thiểu là 1 âm tiết, tự thân có nghĩa (từ vựng hay ngữ pháp), có thể chịu tác động của phương thức cấu tạo để cấu tạo từ cho tiếng Việt”8.

Tác giả Hồ Lê lại gọi đơn vị cấu tạo từ là nguyên vị và cho rằng: “Nguyên vị là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa ngữ ngôn. Từ nguyên vị, không thể tách ra một đơn vị ngữ ngôn nào nhỏ hơn. (…). Trong tiếng Việt, nguyên vị thường có hình thức một âm tiết. Ví dụ: nhà, đi, đẹp, đẽ (trong đẹp đẽ), núc (trong bếp núc), ngoại, giao… Nhưng bên cạnh đó, cũng có nguyên vị có hình thức cấu tạo nhiều âm tiết. Ví dụ: ô tô, cà phê, ròng rọc, amiđan, axêtilen…”9.

8 Ðỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb ÐH&THCN, Hà Nội, tr. 5. 9 Hồ Lê (1985), Phương thức suy phỏng - một phương thức cấu tạo từ tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, Số 4, tr. 75. 10 Đái Xuân Ninh (1978), Hoạt động của từ tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội, tr. 7 và 21.

17

Ðái Xuân Ninh cho rằng: “Hình vị tiếng Việt là yếu tố nhỏ nhất về mặt tổ chức mà có ý nghĩa: ý nghĩa từ vựng hay ý nghĩa ngữ pháp”; và “đứng về mặt âm tiết, có thể chia hình vị tiếng Việt ra hai loại: loại đơn âm tiết (ăn, uống, con, cái), loại đa âm tiết (cà phê, rađiô,… thằn lằn, cà cuống, v.v…)”10. 2.1.1.3. Phương thức cấu tạo từ Về cơ bản, việc cấu tạo từ trong các ngôn ngữ khác nhau được thực hiện bằng các phương thức khác nhau. Nói cách khác, chúng ta có những cách khác nhau khi sử dụng các hình vị để tạo từ. Cụ thể, tiếng Anh là một ngôn ngữ tổng hợp tính (có pha phân tích tính), có biến hình từ, còn tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, từ không có sự biến đổi hình thái, vì vậy các ngôn ngữ Anh và Việt có cách cấu tạo từ không giống nhau. Sau đây là một số phương thức cấu tạo từ tiêu biểu trong tiếng Anh và tiếng Việt: a. Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh Trong tiếng Anh, các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất, tức hình vị. Greenbaum (1973) phân chia phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh thành 3 loại chính: từ đơn (simple word), từ ghép (compoundings) và từ phái sinh (derivatives) [101, tr. 430]. * Từ đơn (simple word = root word): là những từ được cấu tạo bằng một hoặc nhiều hơn một âm tiết. Từ đơn được dùng để tạo ra từ ghép và từ phái sinh. Ví dụ: stock (hoa hoàng anh), lotus (hoa sen), daffodil (hoa thủy tiên) v.v. * Từ ghép (compoundings): Trong hệ thống từ vựng tiếng Anh, từ ghép là những từ đa tiết, vì vậy các từ khi đi cùng nhau để hình thành từ ghép có

thể được tạo thành một từ viết liền nhau (gồm có 2 hình vị) như: sunflower (hoa hướng dương); hai từ nối với nhau bằng dấu gạch ngang (gồm có 2 từ): birth – control (kiểm soát sinh đẻ); hay hai từ viết riêng lẻ: evening primrose (hoa anh thảo muộn). v.v. Từ ghép trong tiếng Anh được chia thành hai loại từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ. * Từ phái sinh (derived word): Từ phái sinh được cấu tạo bằng cách sử dụng phụ tố (affixation) bao gồm tiền tố (prefix) và hậu tố (suffix) để bổ sung ý nghĩa từ vựng cho chính tố để tạo nên một từ mới. Nó cũng có thể được sử dụng để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp của từ như danh từ, động từ, tính từ hay trạng từ. Tiếng Anh có thể thêm tiền tố hoặc hậu tố vào gốc từ (root) hoặc một từ có sẵn để tạo ra các từ phái sinh (derived words), ví dụ: kind (tốt bụng) có thể thêm tiền tố un thành unkind (tính từ trái nghĩa – xấu tính) hay hậu tố ness thành kindness (danh từ - lòng tốt). Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng thì phần lớn các từ ghép tiếng Anh có quan hệ chính phụ yếu tố chính đứng sau: corn flower (hoa ngô). Trật tự của từ ghép đóng vai trò quyết định nội dung ý nghĩa của từ đó nên khi thay đổi trật tự thì ý nghĩa của từ cũng thay đổi. Ví dụ: schoolgirl (nữ sinh), khi đổi trật tự từ thành girlschool (trường học dành cho nữ) mang một ý nghĩa khác. Bên cạnh đó, từ ghép cũng có thể quan hệ đẳng lập với nhau. Nội dung của những từ ghép này thường có ý nghĩa của cả hai từ: bitter – sour (chua – cay) v.v. Ngoài 3 phương thức cấu tạo từ chính nêu trên, Greenbeau (1973) cũng đề cập đến một số phương thức khác như phương thức chuyển loại (conversion), phương thức rút gọn (clippings / shortening), phương thức viết tắt (abbreviations/acronyms), phương thức láy (reduplicatives). b. Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt Trong tiếng Việt, hình vị được coi là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa. Hình vị được sử dụng để tạo ra các từ. Theo Đỗ Hữu Châu (2005), từ tiếng Việt được tạo nên bởi ba phương thức tác động vào hình vị đó là: từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình vị. [10: 480].

18

* Từ đơn: Là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập. Từ đơn được dùng làm đơn vị để tạo ra từ láy và từ ghép. Ví dụ: hoa, quả, cây, lá, v.v Xét về mặt lịch sử, phần lớn từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như

tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga,… Xét về mặt số lượng, tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy (Theo thống kê của A.Drode, từ đơn chiếm khoảng 25% trong tổng số từ tiếng Việt) nhưng là những từ cơ bản nhất, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quan đến đời sống và cấu tạo từ mới cho tiếng Việt.

* Từ ghép: Là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa. Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm hai loại chính:

Từ ghép chính phụ: Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó. Về ý nghĩa, từ ghép chính phụ có tính chất phân nghĩa.

Từ ghép đẳng lập: Là từ ghép có những đặc trưng chung là quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng. Từ ghép đẳng lập có tính chất hợp nghĩa.

* Từ láy: Là từ tạo nên từ hơn hai tiếng, tiếng đứng ở vị trí đầu tiên là tiếng gốc (thường thì tiếng gốc có nghĩa) và tiếng đứng sau láy lại âm hoặc vần của tiếng gốc. Từ láy cũng có hai loại: láy hoàn toàn (lặp lại cả âm lẫn vần của tiếng gốc: bìm bìm, dành dành, chôm chôm,…) và láy bộ phận (chỉ lặp lại hoặc âm hoặc vần của tiếng gốc: thài lài, bằng lăng, chà là,…).

Như vậy, nếu phân loại từ tiếng Anh và từ tiếng Việt theo phương thức cấu tạo, tiếng Anh có 3 loại từ chính từ đơn, từ ghép, từ phái sinh và một số từ khác, còn trong tiếng Việt ta có từ đơn, từ ghép và từ láy. 2.1.1.4. Khái niệm về cụm từ (ngữ) a. Khái niệm cụm từ (ngữ) trong tiếng Anh Cụm từ (phrase) được định nghĩa trong Oxford Advanced Learner’s Dictionary (2015) là Cụm từ (hay ngữ) là một nhóm từ nhỏ không có một động từ xác định, nó vừa có ý nghĩa riêng vừa đóng vai trò là thành phần của một câu”. (Phrase is a small group of words without a finite verb that together have a particular meaning and that typically form part of a sentence) [127, tr. 1154].

19

Greenbeau (1993), trong công trình “A University Grammar of English”, không định nghĩa cụ thể về cụm từ (phrase) nhưng ông cho rằng

trong tiếng Anh có năm loại cụm từ: Cụm danh từ (noun phrase), cụm động từ (verb phrase), cụm tính từ (adjective phrase), cụm trạng từ (adverb phrase), cụm giới từ (prepositional phrase). Luận án chỉ tập trung vào cấu tạo của từ ngữ chỉ hoa và định danh các loài hoa (là các danh từ) nên chỉ đi sâu tìm hiểu cụm danh từ. Cụm danh từ (noun phrase) được cấu tạo bởi một danh từ hoặc một đại từ còn được gọi danh từ chính và các thành phần bổ nghĩa khác. Cụm danh từ trong tiếng Anh gồm có cụm danh từ đơn (basic noun phrase) và cụm danh từ phức (complex noun phrase).

Cụm danh từ đơn (basic noun phrase) được cấu tạo: Determiners + Head (Các từ hạn định + danh từ chính). Ví dụ: some red roses (mấy bông hoa hồng đỏ)…

Cụm danh từ phức (complex noun phrase) được cấu tạo: Pre-modifiers + Head + Posmodifiers (Từ bổ nghĩa phía trước + Danh từ chính + Từ bổ nghĩa phía sau). Ví dụ: white lily of the valley (hoa huệ thung trắng)…

Trong ngữ pháp thang độ và phạm trù (Scale and category grammar) và ngữ pháp chức năng hệ thống (functional grammar) của M.A.K. Halliday, cụm từ là “sự mở rộng của một từ (an expansion of a word) theo quan hệ chính phụ với tư cách là các đơn vị ở thứ hạng nằm giữa từ và mệnh đề, với sự phân biệt ba kiểu cụm từ (trong tiếng Anh) là cụm danh từ, cụm động từ và cụm trạng từ” [1, tr. 156]. b. Khái niệm cụm từ (ngữ) trong tiếng Việt

20

Mặc dù có nhiều điểm chung về nguyên tắc cấu tạo nhưng việc tạo ra cụm từ trong các ngôn ngữ khác nhau không hoàn toàn giống nhau. Cụm từ là những đơn vị do sự kết hợp của từ với từ một cách có tổ chức và có nghĩa, được hình thành trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội – ngôn ngữ. Khi đề cập đến cụm từ, các nhà Việt ngữ đưa ra những thuật ngữ khác nhau để gọi tên chúng. Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu gọi cụm từ là từ tổ, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê gọi là từ kết, Nguyễn Tài Cẩn và nhóm tác giả công trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt gọi là đoản ngữ, Cao Xuân Hạo lại gọi đó là ngữ đoạn, v.v. Theo Diệp Quan Ban: “Cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp tự do với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức năng ngữ pháp của kiến trúc này”) [2, tr.6]. Ông cho rằng các thành tố trong một cụm từ nhỏ nhất

của tiếng Việt có thể có ba kiểu quan hệ cú pháp bao gồm: quan hệ chủ - vị; quan hệ chính – phụ; và quan hệ bình đẳng.

Theo Nguyễn Tài Cẩn, cụm từ với ba loại quan hệ khác nhau sẽ có ba loại tổ hợp tự do khác nhau: “loại tổ hợp gồm nhiều trung tâm nối liền với nhau bằng quan hệ đẳng lập gọi là liên hợp, loại tổ hợp gồm hai trung tâm nối liền với nhau bằng quan hệ tường thuật gọi là mệnh đề và loại tổ hợp gồm một trung tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ gọi là đoản ngữ” [3, tr.148]

Thông qua các định nghĩa, chúng ta có thể hiểu cụm từ như sau: Thứ nhất, về cấu tạo: Cụm từ là một kiểu kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều hơn hai thực từ trên cơ sở quan hệ ngữ pháp phụ thuộc, chi phối hay liên hợp. Trong cụm từ, từ luôn có vai trò chủ yếu về ngữ nghĩa và ngữ pháp và được gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính là thành tố phụ. Thành tố chính là các danh từ, động từ hay tính từ.

Thứ hai, về quan hệ giữa các thành tố: Các thành tố trong cụm từ nhỏ nhất của tiếng Việt có ba kiểu quan hệ cú pháp phổ biến sau: quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ (ta có cụm chủ - vị); quan hệ giữa thành tố chính và thành tố phụ về ngữ pháp (ta có cụm chính – phụ); quan hệ giữa hai yếu tố bình đẳng về ngữ pháp (ta có cụm đẳng lập)

Thứ 3, về chức năng: Cụm từ, giống như từ, cũng là phương tiện định danh sự vật, hiện tượng, phẩm chất, trạng thái, quá trình v.v. Ngoài ra, cụm từ còn có chức năng biểu thị sự tình các quan hệ trong phát ngôn hay trong câu, chức năng làm thành phần khác trong câu.

21

Tóm lại, cụm từ là một phần quan trọng trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ. Nó đóng góp một phần đáng kể trong việc mang lại tính chất phong phú sinh động của một ngôn ngữ, nó góp phần tạo ra sức sống luôn xanh tươi cho ngôn ngữ. Chúng tôi vận dụng lý thuyết về từ và phương thức cấu tạo từ để triển khai nội dung chương hai của luận án đó là phân tích đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. 2.1.2. Nghĩa của từ 2.1.2.1. Khái niệm nghĩa của từ Cho đến nay, trong giới ngôn ngữ học ở Việt Nam và thế giới có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa của từ. Chẳng hạn, định nghĩa : “Nghĩa của từ là sự vật, hành động, tính chất ngoài thực tế khách quan

mà từ biểu thị” (Nguyễn Văn Tu)11; "nghĩa của từ là khái niệm"(A.R. Budagov)12; "nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của sự vật, hiện tượng hay quan hệ trong ý thức..." (Đỗ Hữu Châu)13, v.v...Hay: "Nghĩa, đó là quan hệ của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị" (Nguyễn Thiện Giáp)14.

Ullman cho rằng “nghĩa của từ là mối liên hệ liên tưởng giữa âm thanh của từ (name) và nội dung khái niệm (ý nghĩa) của nó”. Trong tiếng Anh, người ta dùng từ sense - ý nghĩa - để chỉ sở biểu (cái được biểu đạt) và meaning - nghĩa để chỉ quan hệ giữa năng biểu và sở biểu. [Dẫn theo 29, tr.1-3].

Sense

Meaning Name - - - - - - - - - - - - - - - - Thing Sơ đồ 1.1: Tam giác ngữ nghĩa của S.Ullmann [Lê Quang Thiêm (2008):79] Hiện nay, quan điểm coi nghĩa của từ vị là chính cái sự vật, hiện tượng, v.v… mà từ vị biểu thị đã bị phản bác15. Vốn từ vựng của một ngôn ngữ có nhiều kiểu loại từ khác nhau và nghĩa của chúng cũng khác nhau. Cách định nghĩa về nghĩa của từ như nêu trên chỉ mới phù hợp với các thực từ (chủ yếu gồm danh từ, động từ và tính từ, v.v...) có nghĩa cụ thể. Còn những từ hư như liên từ, giới từ (và, nếu, tuy, với, v.v...) thì nghĩa của chúng không phù hợp với định nghĩa nêu trên.

11 Nguyễn Văn Tu (1976), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐH&THCN, Hà Nội. 12 Áóäàãîâ Ð.À. (1958), Ââåäåíèå â íàóêó î ÿçûêå, Ì., ãîñ. ó÷åáíîïåäàãè÷. èçä. Ìèí. ïðîñâ. ÐÑÔÑÐ. 13 Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 14 Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội; chi tiết hơn về vấn đề này, xem tr. 119-125. 15 Xem Nguyễn Thiện Giáp (1998), Tài liệu đã dẫn, tr. 122-123.

22

Ở Việt Nam, những kiến giải nghĩa tín hiệu đầu tiên xuất hiện trong các sách dẫn luận ngôn ngữ học hay từ vựng ngữ nghĩa học hay trong nghiên cứu chuyên đề bắt đầu vào những năm 1960. Với quan điểm đánh giá cao vai trò của chủ thể con người trong việc tạo ra, sử dụng và lưu giữ nghĩa, Lê Quang Thiêm quan niệm rằng “nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tượng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng công cụ của giao tiếp và tư duy cũng như mọi loại chức năng cụ thể đa dạng

khác, đặc biệt là trong lời nói, trong văn bản, diễn ngôn” [73, tr.58]. Trong quan niệm này của Lê Quang Thiêm, nhân tố chính quy định nghĩa là “người nói”; “văn cảnh”; “ngữ cảnh”; và “chức năng tín hiệu học”. Đồng thời tác giả cũng đưa ra nhận định rằng nội dung của ngữ nghĩa học bao gồm: ngữ nghĩa học từ vựng, ngữ nghĩa học ngữ pháp, và ngữ nghĩa học ngữ dụng [73, tr.86-87]. Tác giả Hoàng Phê (1989) cũng cho rằng: (1) ngữ nghĩa quan hệ trực tiếp với nhận thức và qua nhận thức, quan hệ với hiện thực, nhờ đó ngôn ngữ thực hiện chức năng chủ yếu của nó là công cụ tư duy và công cụ giao tiếp. (2) nghĩa của từ cần được nghiên cứu trong mối quan hệ nhiều mặt, không những trong quan hệ với nhận thức và với hiện thực, mà còn quan hệ với cấu trúc nội tại, cũng như trong quan hệ hệ thống và quan hệ tổ hợp với những nghĩa từ khác trong ngữ, trong câu, trong lời” [61].

Nguyễn Thiện Giáp (1999, 122-125), đã tổng hợp khá kỹ các quan niệm về nghĩa của các học giả nổi tiếng trên thế giới và ông đã rút ra được hai khuynh hướng: Khuynh hướng thứ nhất cho nghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm, sự phản ánh …). Khuynh hướng thứ 2 cho nghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng hoặc quan hệ của từ với khái niệm …)”. Tác giả thấy rằng “những ý kiến cho nghĩa của từ là quan hệ gần gũi với chân lý hơn” “nghĩa của từ là một đối tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản hơn” như: “nghĩa sở chỉ”, “nghĩa sở biểu”, nghĩa sử dụng” và “nghĩa kết cấu”.

Tuy nhiên, tác giả có công trình nghiên cứu tập trung nhất về nghĩa của từ là Đỗ Hữu Châu, sau khi đi kiến giải về tam giác nghĩa của các học giả nổi tiếng, ông đã đưa ra sơ đồ “hình tháp nghĩa hình học không gian” thay thế tam giác hình học phẳng của Sterm dưới đây:

23

Sơ đồ 2: Tháp nghĩa hình học không gian [Đỗ Hữu Châu (2015):750]

Khắc phục những thiếu sót của Stern, Đỗ Hữu Châu (2005) cho rằng: Ở đỉnh cao nhất của hình tháp là từ (trừu tượng) với hai thành phần hình thức và ý nghĩa. Ở mỗi đỉnh của đáy là những nhân tố góp phần làm thành ý nghĩa, lần lượt là sự vật, hiện tượng, những hiểu biết của tư duy (khái niệm), nhân tố người sử dụng (nhân tố lịch sử - xã hội), các chức năng tín hiệu học, cấu trúc của ngôn ngữ. Số lượng các đỉnh của đáy sẽ tăng lên tùy thuộc vào số lượng những nhân tố được phát hiện thêm. Ưu điểm của mô hình tháp nhọn là một mặt tách được những thực thể đang xem xét (từ, các nhân tố) ra khỏi nhau đồng thời vạch ra được những quan hệ giữa chúng (bằng các cạnh của hình tháp). Những quan hệ này đồng thời cũng chỉ ra những phương diện cần nghiên cứu khi nghiên cứu nghĩa của từ (mối quan hệ giữa hình thức và ý nghĩa được thể hiện trong từ bằng mô hình mà F.De Sausure đã đưa ra. Cũng từ “hình tháp”, ông đã tập trung phân tích các loại nghĩa như: “ý nghĩa biểu vật”, “ý nghĩa biểu niệm”, “ý nghĩa liên hội” và “ý nghĩa biểu thái”. [10:750]. Từ các quan niệm về nghĩa khác nhau nêu trên có thể khái quát về nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là nội dung mà từ biểu hiện bao gồm những hiểu biết, những tri thức thông thường được thể hiện trong quá trình tư duy - giao tiếp bằng ngôn ngữ của người nói. Nghĩa được hình thành do sự kết hợp và tác động của cả nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ (như sự vật, hiện tượng thực tế khách quan, tư duy của con người) và nhân tố nằm trong ngôn ngữ (chức năng tín hiệu học, hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ), trong đó những nhân tố có tính quyết định là người sử dụng ngôn ngữ, văn cảnh, ngữ cảnh và chức năng tín hiệu học. Đồng thời, những đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ cũng được bộc lộ thông qua nghĩa. 2.1.2.2. Các thành phần ý nghĩa của từ a. Các thành phần ý nghĩa của từ trong tiếng Anh

24

Khi nghiên cứu về nghĩa, Bloomfield cũng phân định nghĩa thành hai loại: nghĩa từ vựng (lexical meaning) và nghĩa ngữ pháp (grammatical meaning). Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong quan niệm của Bloomfield về nghĩa từ vựng là ông đã phân biệt được những ý nghĩa thông thường, trọng tâm (normal/ central meanings) với những nghĩa cận biên (nghĩa ẩn dụ hay nghĩa chuyển) (marginal or metaphoric and tranferred meaning) [87, tr.173-174].

Nguyễn Hòa (2004) xác định các thành phần nghĩa của từ (components of word meaning) trong tiếng Anh bao gồm: denotative meaning (nghĩa biểu vật), connotative meaning (nghĩa biểu thái), structural meaning (nghĩa cấu trúc) và category meaning (nghĩa phân loại).

Denotative meaning: (nghĩa biểu niệm) bao gồm có nghĩa khái niệm (conceptual meaning) và nghĩa biểu vật (referential meaning). Nghĩa khái niệm còn được gọi là nghĩa định nghĩa, nghĩa đen, nghĩa thực hay nghĩa phổ biến của một từ (the definitional, literal, obvious or common meaning of a word). Ví dụ: A table may be defined as a piece of furniture used for writing at… (một chiếc bàn có thể được định nghĩa như là một loại đồ nội thất được sử dụng để viết trên đó…). Nghĩa biểu vật là khả năng quy chiếu đến những đồ vật của từ (the ability to refer to objects or things). Ví dụ: Can you give me a book?

Connotative meaning: (nghĩa biểu thái) là giá trị giao tiếp mà một từ hay cụm từ có được nhờ vào những gì nó quy chiếu đến, ngoài cái nghĩa khái niệm đơn thuần của nó. Nghĩa biểu thái thay đổi đáng kể theo nền văn hóa, giai đoạn lịch sử và trải nghiệm của cá nhân.

Structural meaning: (nghĩa cấu trúc) gồm có 4 loại nghĩa khác là nghĩa được phản chiếu (reflected meaning), nghĩa kết hợp (collocative meaning), nghĩa gắn kết (associative meaning) và nghĩa chủ đề (thematic meaning). b. Các thành phần ý nghĩa của từ trong tiếng Việt

25

Ở Việt Nam, thông qua hình tháp nghĩa hình học không gian, Đỗ Hữu Châu (2005) đã chỉ ra mối quan hệ giữa từ và các yếu tố góp phần tạo nên ý nghĩa của từ. Tác giả khẳng định rằng từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hình thành nên ý nghĩa biểu vật; từ mối quan hệ của từ với khái niệm sẽ hình thành các ý nghĩa biểu niệm; từ mối quan hệ với nhân tố người dùng hình thành các ý nghĩa phong cách và liên hội; từ mối quan hệ với chức năng sẽ hình thành các giá trị chức năng của từ; từ mối quan hệ với cấu trúc của ngôn ngữ (với các từ khác) sẽ hình thành ý nghĩa cấu trúc và từ quan hệ giữa ý nghĩa với các thành phần hình thức để hình thành các ý nghĩa cấu tạo từ, các ý nghĩa ngữ pháp. Như vậy, từ sự phân định trên của Đỗ Hữu Châu, chúng ta nhận thấy có hai thành phần nghĩa lớn của từ đó là nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp.

Theo Đỗ Hữu Châu [2005:101-102], nghĩa của từ bao gồm các thành phần sau: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái và nghĩa ngữ pháp. Trong đó ba thành phần nghĩa nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái hình thành nên ý nghĩa từ vựng của từ:

 Nghĩa biểu vật (denotative meaning): Là thành phần nghĩa của từ liên quan đến sự vật hoặc phạm vi sự vật mà từ đó được sử dụng trong thế giới mà từ gợi ra khi ta tiếp xúc với nó. Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật.

 Ý nghĩa biểu niệm (significative meaning): Là thành phần nghĩa của từ liên quan đến hiểu biết về ý nghĩa biểu vật của từ. Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan có các thuộc tính được phản ánh vào tư duy và hình thành nên khái niệm. Vì vậy, khái niệm là một phạm trù của tư duy được hình thành từ những hiểu biết trong thực tế. Đấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng. Khi các dấu hiệu bản chất đó được phản ánh vào ngôn ngữ sẽ hình thành nên các nét nghĩa. Tập hợp các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ chính là ý nghĩa biểu niệm của từ.

26

 Nghĩa biểu thái (connotative meaning): Là phần nghĩa của từ có liên quan đến thái độ, cảm xúc, cách đánh giá. Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiện tượng đã dược nhận thức, được thể nghiệm bởi con người. 2.1.2.3. Cấu trúc nghĩa của từ Ngữ nghĩa học hiện đại đã chứng minh được rằng nghĩa của từ là sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức và được thể hiện ở ngôn ngữ. Sự phản ánh đó tồn tại trong từ dưới dạng một cơ cấu, do một chùm những thành tố có quan hệ hữu cơ với nhau, được tổ chức theo một tôn ti nhất định. Từ luận đề chung này có thể suy ra rằng: "1. Nghĩa của phần lớn các từ không phải là không phân tích ra được nữa; 2. Nghĩa bao hàm những đơn vị nhỏ hơn gọi là nét nghĩa. Nét nghĩa là đơn vị cơ bản phản ánh thuộc tính hoặc quan hệ có giá trị khu biệt của hiện tượng, sự vật trong thế giới khác quan. Nhưng nét nghĩa không phải bao giờ cũng là yếu tố trực tiếp tạo ra nghĩa từ. Nó thường là yếu tố tạo nên những thành tố trực tiếp của nghĩa từ; 3. Thành tố nghĩa là đơn vị trung gian giữa nét nghĩa và nghĩa từ, nó do một hay nhiều nét nghĩa tạo nên." [36, tr.33].

U.Weinreich (1971), nhà ngôn ngữ học Mỹ, cho rằng: “Mong muốn phân tích một nghĩa tổng quát ra những thành tố và xác lập một cấp hệ (hệ thống tôn ti cấp bậc) giữa các thành tố luôn luôn là một trong những động cơ chủ yếu của nghiên cứu ngữ nghĩa học” [139, tr.317]. Theo đó, muốn xác định thành tố nghĩa cơ sở để tạo nên nghĩa từ vựng của từ cần phân tích từ thành nét nghĩa. Vì vậy, trong từ điển có thể thấy qua các ví dụ khi giả định rằng một số nghĩa từ điển được phân tích, giải nghĩa theo nét nghĩa. Ở Việt Nam, việc sử dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa để phân tích nghĩa từ vựng của từ ra thành nét nghĩa đã được các nhà ngôn ngữ học như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Lê Quang Thiêm…vận dụng vào phân tích ngữ liệu tiếng Việt trong các công trình nghiên cứu của mình. Trong đó, hai nhà ngôn ngữ học Hoàng Phê và Đỗ Hữu Châu là những tác giả tiêu biểu đi tiên phong đã có nhiều đóng góp đáng kể trong lĩnh vực này. Trong bài “Phân tích ngữ nghĩa” của Hoàng Phê, trên cơ sở phân tích ngữ nghĩa của các từ đại diện, tác giả đã kết luận rằng: “Nói tóm lại, nghĩa của từ nói chung: + Là một tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau; + Giá trị của các nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cập bậc) biểu hiện ở khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo; + Các nét nghĩa có tính độc lập tương đối. [83, tr.15]. 2.1.2.4. Các phương thức chuyển nghĩa (meaning transference)

27

Để có thể hình thành và phát triển thêm nghĩa của từ, có nhiều phương thức chuyển nghĩa trong ngôn ngữ như ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ, châm biếm, nói giảm nói tránh hay uyển ngữ…, nhưng hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến và quan trọng nhất trong các ngôn ngữ đó là chuyển nghĩa ẩn dụ (metaphor) và chuyển nghĩa hoán dụ (metonymy). a. Các phương thức chuyển nghĩa trong tiếng Anh Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ (metaphor): Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa của một vật này sang một vật khác dựa trên sự giống nhau giữa hai vật hay nói cách khác chúng ta gọi tên của một vật này bằng tên của một vật khác bởi vì chúng ta so sánh hai vật và tìm ra các đặc điểm chung giữa chúng. Ẩn dụ theo quan niệm truyền thống chính là những sự so sánh ngầm.

Ví dụ: Khi một người nói “John is a snake” (Anh ta là một con rắn độc) không có nghĩa một con rắn có tên là John hay John là một con rắn hiểu theo nghĩa đen mà ở đây ám chỉ đến một người nham hiểm và đầy mưu mô. Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ có thể dựa trên sự giống nhau về hình dạng (shape), vị trí (position), sự di chuyển (movement), chức năng (function), màu sắc (colour) hay kích cỡ (size). Chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ (metonymy) Hoán dụ được hiểu là sự thay thế của một vật này cho một vật khác mà nó có sự gắn kết với. Hoán dụ hoạt động dựa trên sự tương đồng hơn là sự giống nhau, thay cho việc sử dụng tên của một vật hay một khái niệm này chúng ta sử dụng tên của một vật khác bởi những vật này có sự gắn kết và liên quan chặt chẽ với nhau. Ví dụ: chúng ta sử dụng “The kettle boils” (cái ấm sôi) thay cho “The water in the kettle boils” (nước ở trong ấm sôi); “crown” (vương miện) thay cho “monarchy” (chế độ quân chủ); “The big apple” thay cho “New York” Ngoài ra, trong tiếng Anh còn có các loại chuyển nghĩa khác như ngoa dụ (hyperbole), mỉa mai, châm biếm (irony), nói giảm, nói tránh (litotes) và uyển ngữ (euphemism). b. Các phương thức chuyển nghĩa trong tiếng Việt Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ: Ẩn dụ là phương thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự liên tưởng so sánh

những mặt, những thuộc tính giống nhau giữa các đối tượng được gọi tên. Ví dụ:

 Trong tiếng Việt, từ “chân” có một nghĩa là: bộ phận dưới cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi, đứng. Trên cơ sở so sánh nhiều sự vật khác có vị trí tương tự, người ta đã chuyển “chân” sang gọi tên cho phần dưới cùng của một số vật: chân giường, chân bàn, chân núi,…  Từ “foot” trong tiếng Anh có ý nghĩa tương đương với từ “chân” cũng

28

có nghĩa phái sinh như nêu trên: the foot of the mountain… Chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ: Hoán dụ là phương thức chuyển tên gọi dựa trên mối liên hệ lô gích giữa các đối tượng được gọi tên. Phương thức này lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế. Mối liên hệ đi đôi với nhau giữa x và y là có thật, không tùy thuộc vào nhận thức của con người. Cho nên các hoán dụ có tính khách quan hơn các ẩn dụ [11, tr.155].

Ví dụ:

 Từ cốc vốn chỉ "đồ dùng bằng thủy tinh, sành sứ... để đựng chất lỏng" được chuyển nghĩa hoán dụ chỉ "lượng chất lỏng đựng trong cốc", ví dụ: Uống cạn cốc nước. Như vậy, ẩn dụ và hoán dụ là sự chuyển từ ý nghĩa biểu vật này sang ý nghĩa biểu vật khác và giữa các ý nghĩa biểu vật có sự đồng nhất với nhau ở nét nghĩa cơ sở trong cấu trúc biểu niệm trung tâm của chúng (đối với ẩn dụ) hoặc nét nghĩa "gần nhau trong không gian và thời gian (đối với hoán dụ). Trong một từ có thể vừa có nghĩa chuyển ẩn dụ, vừa có nghĩa chuyển hoán dụ. Tức là, phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ có thể ở trong cùng một từ. 2.1.2.5. Khái niệm nghĩa biểu trưng/tượng trưng (symbol)

"Trong kí hiệu học, một kí hiệu mà đặc tính của nó là thuần túy võ đoán hoặc hoàn toàn quy ước, tức không có căn cứ, như màu "đen" hay "trắng" tượng trưng cho sự tang tóc" [1, tr.67]. Theo Hoàng Tiến Tựu thì: “Biểu trưng là cách lấy một sự vật, hiện tượng nào đó để biểu hiện có tính chất tượng trưng, ước lệ một cái gì đó khác mang tính trừu tượng. Đó là hiện tượng khá phổ biến và quen thuộc đối với các dân tộc và phản ánh quan niệm ngây thơ, dân gian của mỗi tộc người đôi khi được cố định hoá trong ngôn ngữ. Khi một sự vật, hiện tượng có giá trị biểu trưng thì nó sẽ gợi lên trong ý thức người bản ngữ sự liên tưởng khá bền vững” [82, tr.145]. 2.1.2.6. Quan hệ giữa nghĩa biểu trưng và nghĩa gốc

Quá trình chuyển nghĩa của từ góp phần quan trọng vào việc sáng tạo nghệ thuật. Quá trình chuyển nghĩa có thể là quá trình biểu trưng hóa của tín hiệu, một quá trình vốn có nguồn gốc tâm lí của nó trong đời sống xã hội và được ghi lại một cách tế nhị và độc đáo trong ngôn ngữ. Pierce cho rằng biểu trưng có quan hệ với đối tượng của nó chỉ qua một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta gán cho nó trong một hoàn cảnh nào đó. Nghĩa đó là do con người trong cộng đồng xã hội đặt ra mà thôi.

29

Tính chất ước lệ này chỉ ra những lí do về mặt lịch sử xã hội trong việc sử dụng của biểu trưng; chỉ ra việc lựa chọn chất liệu - cái biểu hiện nào làm biểu trưng đều có lí do. Biểu trưng ở một mặt nào đó, vừa có tính hình tượng lại vừa cụ thể. Chẳng hạn, cái biểu hiện của biểu trưng phải là một đối tượng

nào đó được quy chiếu từ hiện thực nhưng ý nghĩa xã hội của biểu trưng đó phải được cả cộng đồng sử dụng ngôn ngữ chấp nhận. Điều này lí giải vì sao, người Việt chọn tín hiệu thuyền làm vật quy chiếu cho biểu trưng chỉ người ra đi (chàng trai), còn bến làm vật quy chiếu biểu trưng cho người ở lại (cô gái) trong kho tàng ca dao người Việt [82, tr.145]. 2.1.2.7. Các phương thức thể hiện nghĩa biểu trưng

Biểu trưng thường là có lí do, có thể hình thành dựa trên đặc điểm tồn tại khách quan của đối tượng, đồng thời còn có thể dựa trên sự gán ghép chủ quan của con người. Theo Đỗ Hữu Châu, “Với tư cách là thể chất của thành phần văn học, ngôn ngữ văn học là hệ thống thành phần bao gồm: tín hiệu thông thường thực hiện chức năng giao tiếp lí trí (tái tạo hiện thực) và tín hiệu thẩm mĩ chứa tư tưởng, tình cảm của tác giả, thông qua quá trình biểu trưng hóa, khái quát hóa nghệ thuật” [6, tr.153]. Như vậy, cái gọi là tín hiệu thẩm mĩ, thực chất là một yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật mang giá trị biểu trưng. Loại tín hiệu này có liên quan chặt chẽ với tín hiệu ngôn ngữ (tín hiệu thông thường). Theo quan điểm của chủ nghĩa cấu trúc [64], tín hiệu ngôn ngữ gồm hai mặt thống nhất là cái biểu đạt (CBĐ) và cái được biểu đạt (CĐBĐ). CBĐ là hình thức âm thanh (hoặc chữ viết), CĐBĐ là nội dung ý nghĩa mà tín hiệu đó biểu đạt. Tín hiệu thẩm mĩ cũng là một loại tín hiệu nên nó mang những đặc trưng của tín hiệu nói chung. Khi bước vào thế giới nghệ thuật, những tín hiệu ngôn ngữ thông thường có sự chuyển hóa nhất định để trở thành tín hiệu thẩm mĩ mang ý nghĩa biểu trưng mang đặc thù của nghệ thuật. Do đó, tín hiệu thẩm mĩ là một yếu tố thuộc các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật. Theo Đinh Trọng Lạc, “Tín hiệu ngôn ngữ đóng vai trò là hệ thống tín hiệu thứ nhất, làm cơ sở cho hệ thống tín hiệu thứ hai là tín hiệu thẩm mĩ” [48, tr.137]. Nhà ngôn ngữ học Đan Mạch, L.Hjemslev đã đưa ra sơ đồ sau để chỉ rõ mối tương quan giữa tín hiệu ngôn ngữ với tín hiệu thẩm mĩ:

CBĐ

CBĐ - Tín hiệu ngôn ngữ ------------- CĐBĐ

30

Tín hiệu thẩm mĩ ---------------------------------------------------------------------- CĐBĐ - Ý nghĩa thẩm mĩ (ý nghĩa biểu trưng)

Theo sơ đồ này, thì cả hợp thể CBĐ và CĐBĐ của tín hiệu ngôn ngữ trở thành CBĐ cho một CĐBĐ mới là ý nghĩa thẩm mĩ, ý nghĩa biểu trưng trong tác phẩm văn học.

Tín hiệu thẩm mĩ được hình thành từ tín hiệu ngôn ngữ nhưng đã có sự vượt cấp. Khi đó, một tín hiệu ngôn ngữ (gồm cả hai mặt CBĐ và CĐBĐ) trở thành CBĐ cho tín hiệu thẩm mĩ, còn CĐBĐ của tín hiệu thẩm mĩ là một ý nghĩa mới được tạo ra theo cơ chế chuyển nghĩa (theo ẩn dụ hay hoán dụ) từ nghĩa thông thường sang nghĩa nghệ thuật có giá trị thẩm mĩ, giá trị biểu trưng.

31

2.1.3. Thành ngữ, tục ngữ và ca dao 2.1.3.1. Thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Anh Thành ngữ (idioms): Trong từ điển Longman về giảng dạy ngôn ngữ và ngôn ngữ học ứng dụng, thành ngữ được định nghĩa là “một cụm từ có chức năng như một đơn vị độc lập mà nghĩa của nó không thể tách ra thành các nghĩa riêng lẻ” [122]. Cowie, Mackin & McCaig (1993) cũng có cùng quan điểm trên khi quan niệm rằng: “thành ngữ là các nhóm từ có nghĩa cố định không thể phân tách nghĩa ra thành nghĩa của các bộ phận riêng biệt” [91] Trong công trình “English idioms” (1988), thành ngữ được Seidl và McMordie định nghĩa là: “thành ngữ có thể là một số các từ, khi đi với nhau, có nghĩa khác với mỗi nghĩa của từ riêng lẻ” [133, tr.12-13]. Hai tác giả này cho rằng thành ngữ trong tiếng Anh có nhiều dạng và nhiều cấu trúc khác nhau, thành ngữ có thể có cấu trúc có quy tắc hoặc có thể không có quy tắc, và thậm chí không đúng cấu trúc ngữ pháp. Sự mạch lạc rõ ràng về nghĩa của thành ngữ không không phụ thuộc vào “tính đúng ngữ pháp”. Tục ngữ (proverbs): Theo từ điển Advanced Learner’s Dictionary (2015), tục ngữ là “một cụm từ hoặc một câu ngắn gọn để đưa ra lời khuyên hoặc phổ biến một số thực tế và kinh nghiệm trong cuộc sống” [127]. 2.1.3.2. Thành ngữ, tục ngữ và ca dao trong tiếng Việt Thành ngữ: Trong công trình “777 khái niệm ngôn ngữ học”, Nguyễn Thiện Giáp (2010) quan niệm rằng: “Thành ngữ là những cụm từ mà trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó. Nói cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ các ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó. Ngay cả khi biết nghĩa của tất cả cá từ trong đó vẫn chưa thể đoán chắc nghĩa thành ngữ của cả cụm từ đó” [27].

Luận án sử dụng quan điểm trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) (2010) cho rằng thành ngữ là: “tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó” [62]. Tục ngữ: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) (2010) định nghĩa tục ngữ là: “câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân” [62]. Ca dao: Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) (2010): “Ca dao là thơ dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát không theo một nhịp điệu nhất định” [62].

2.2. Một số vấn đề về quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 2.2.1. Khái niệm về văn hóa

Theo Trần Ngọc Thêm “bởi văn hóa là sản phẩm của con người và tự nhiên nên nguồn gốc sâu xa của mọi sự khác biệt về văn hóa chính là do những khác biệt về điều kiện tự nhiên (địa lý – khí hậu) và xã hội (lịch sử - kinh tế) quy định” [71, tr. 40]. Với cách nhìn như vậy, tác giả đã tìm ra mối quan hệ ảnh hưởng, chi phối giữa các mặt, theo thứ tự: điều kiện tự nhiên, môi trường sinh tồn – nghề nghiệp – đời sống – tâm lý, quan niệm… với văn hóa, trong đó, tự nhiên – môi trường là xuất phát điểm. Hai điều kiện môi trường tự nhiên của phương Tây và phương Đông khác nhau đã làm thành hai nền văn hóa với những đặc trưng khác nhau.

2.2.2. Đặc điểm văn hóa Anh và Việt

Đặc điểm văn hóa Anh: Nước Anh mang đậm những nét đặc trưng của văn hóa phương tây bao gồm khí hậu lạnh, khô – có vùng đồng cỏ - thích hợp chăn nuôi – tạo nên lối sống du cư – có tâm lý coi thường, có tham vọng chinh phục tự nhiên – lối tư duy thiên về phân tích và siêu hình (trọng yếu tố) – trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam; mang tính khách quan, lý tính và thực nghiệm; có tính nguyên tắc và quân chủ, trọng cá nhân – có tính độc tôn, cứng rắn, hiếu thắng... vì vậy đây là nền văn hóa trọng động (gốc du mục). Xét về yếu tố tôn giáo, người Anh là các tín đồ của Kitô giáo và tôn sùng Đức mẹ Đồng Trinh, Mary.

32

Đặc điểm văn hóa Việt: Trong khí đó, Việt Nam có những nét đặc trưng của văn hóa phương Đông gồm có khí hậu nóng, ẩm – có nhiều đồng

bằng – thích hợp nghề trồng trọt – tạo nên lối sống định cư – có tâm lý tôn trọng, hòa hợp với tự nhiên – lối tư duy thiên về tổng hợp, biện chứng (trọng quan hệ) – trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng nữ; mang tính chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm; có tính dân chủ, trọng cộng đồng – có tính dung hợp mềm dẻo, hiếu hòa, vì thế, đây được coi là nền văn hóa trọng tĩnh (gốc nông nghiệp). Do những điều kiện khác nhau, Việt Nam giao lưu, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác như Trung Hoa, Ấn Độ (từ rất sớm), sau đó là văn hóa phương Tây, cụ thể là văn hóa Pháp trong thời kì Pháp đô hộ Việt Nam. Trong bối cảnh đó, dù sớm hay muộn, dù nhiều hay ít, văn hóa Việt Nam cũng có những ảnh hưởng nhất định và đã tiếp nhận các nền văn hóa này ở những mức độ khác nhau, đặc biệt là văn hóa Trung Hoa. Tuy vậy, với điều kiện môi trường tự nhiên khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, với một không gian xã hội được định hình rất sớm, đặc trưng gốc văn hóa nông nghiệp lúa nước vẫn được bảo lưu, làm thành mạch ngầm xuyên suốt chiều dài không gian và thời gian dân tộc Việt.

Qua sự phân chia trên có thể thấy sự khác biệt rất lớn giữa hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây nói chung và nền văn hóa nước Anh và Việt nói riêng. Giữa hai nền văn hóa có rất nhiều mặt đối lập nhau ví dụ như về lối nhận thức tư duy thì người Phương Đông trong đó có Việt Nam thiên về tổng hợp và biện chứng (trọng quan hệ), chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm, còn người phương Tây hay người Anh thiên về phân tích và siêu hình (trọng yếu tố), khách quan, lý tính và thực nghiệm v.v. Hiểu đặc điểm của văn hóa Anh và văn hóa Việt giúp cho việc phân tích các yếu tố văn hóa của mỗi dân tộc có ảnh hưởng đến phương thức định danh và ý nghĩa biểu trưng của các từ ngữ chỉ hoa trong hai ngôn ngữ như thế nào.

2.2.3. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa là một vấn đề đã được đề cập khá

sớm trong các nghiên cứu ngôn ngữ học và nhân học/dân tộc học từ thế kỉ XIX.

33

Thực tế, ngôn ngữ xuất hiện cùng với con người và gắn bó mật thiết với các cộng đồng người trong suốt tiến trình phát triển. Các nhà kinh điển Macxit đã xem ngôn ngữ là “công cụ của tư duy”, là “hiện thực trực tiếp của tư tưởng”, là “phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người”. Nói rộng hơn, ngôn ngữ là công cụ, là phương tiện liên kết con người trong xã hội, trong các

lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, trong sản xuất, sáng tạo xây dựng cuộc sống ngày một tiến bộ và phát triển. Ngôn ngữ, như chúng ta đã biết, là một trong những yếu tố cấu thành dân tộc. Trong ngôn ngữ học dường như không ai là không biết đến tư tưởng của Humboldt về ngôn ngữ, văn hóa và tư duy tộc người: "Ngôn ngữ của một dân tộc chính là linh hồn của dân tộc đó; linh hồn của một dân tộc chính là ngôn ngữ của dân tộc đó” [103]. Đây là tuyên bố của Wilhelm von Humboldt (1767 – 1835), nhà bác học Đức nổi tiếng, khi nói về vai trò của tiếng Đức đối với dân tộc Đức. Lời tuyên bố này không chỉ đúng với tiếng Đức mà còn đúng với mọi ngôn ngữ trên thế giới. Là sản phẩm của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự phát triển của xã hội. Ngôn ngữ là sự sáng tạo kì diệu, lớn lao của con người. Ngôn ngữ là tinh thần của dân tộc. Ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau. Điều này thể hiện ở mấy điểm quan trọng sau đây:

- Thứ nhất, ngôn ngữ là sản phẩm văn hóa nhưng đồng thời lại là công

cụ, phương tiện để ghi lại, phản ánh văn hóa;

- Thứ hai, do là một bộ phận của văn hóa nên mọi thuộc tính của văn

hóa đều ẩn chứa trong ngôn ngữ;

Các nhà nhân học/dân tộc học Mỹ khi nghiên cứu ngôn ngữ của các thổ dân da đỏ cũng phát hiện ra rằng ngôn ngữ và văn hóa có một mối quan hệ mật thiết. F. Boas (1911) đã nhận xét rằng: "hình thái của ngôn ngữ bị quy định bởi trạng thái của văn hóa, chứ không phải trạng thái của ngôn ngữ bị quy định bởi hình thái của ngôn ngữ" [88].

Như vậy, sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ đi liền với văn hóa của mỗi dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó. Giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau, chúng phát triển trong sự tương tác qua lại với nhau, tức có cái này phải có cái kia và ngược lại.

34

Ngôn ngữ là phương tiện thúc đẩy sự hình thành văn hóa của mỗi dân tộc, là phương tiện lưu trữ văn hóa cũng như sự biểu hiện và truyền đạt các giá trị văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác hoặc giữa các xã hội khác nhau hay từ người này sang người khác trong cộng đồng. Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ đi đôi với sự biến đổi và phát triển của văn hóa. F. de Saussure cho rằng “Phong tục của một dân tộc có tác động đến ngôn ngữ, và mặt khác, trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [66].

Mặt khác, ngôn ngữ là một thành tố trong văn hóa dân tộc. Do đó, sự giống nhau và khác nhau trong ngôn ngữ thể hiện sự giống và khác nhau về văn hóa, trong đó có văn hóa nhận thức. Nguyễn Đức Tồn cho rằng “ngôn ngữ là một trong những thành tố đặc trưng nhất của bất cứ nền văn hóa nào” [77,47]. Như vậy, ngôn ngữ là một bộ phận trong nội hàm văn hóa. Do đó, việc nghiên cứu ngôn ngữ không thể tách rời văn hóa. Farzad Sharifian (2007) cho rằng: "Culture of course does not only feed into the morphosyntactic component but also forms and informs all aspects of language content and structure. Theories of language therefore need to take into account the role of cultural conceptualizations in carving and constructing all levels of language from lexicon to semantic and pragmatic meanings" (Tất nhiên, văn hóa không chỉ cung cấp nguyên liệu cho thành tố hình thái cú pháp mà còn làm cơ sở và bộc lộ ra tất cả các lĩnh vực của ngôn ngữ, kể cả mặt kết cấu. Vì vậy, lý thuyết ngôn ngữ cần xem xét đến vai trò của các ý niệm hóa văn hóa trong việc tạo lập các mức độ của ngôn ngữ từ từ vựng đến ngữ nghĩa và cả nghĩa ngữ dụng) [95].

2.3. Lý thuyết về định danh từ vựng 2.3.1. Khái niệm định danh Con người nhận thức và tri giác các sự vật, hiện tượng ngoài thế giới hiện thực khách quan từ nhiều góc độ khác nhau, vì vậy đôi khi cùng một sự vật hiện tượng tồn tại trong hiện thực lại có các tên gọi khác nhau. Song trong thực tế, người ta gắn mỗi sự vật với một kí hiệu ngôn ngữ nhất định và người ta gọi đó là định danh ngôn ngữ (language naming). Theo Kolshanskij (1977), quá trình định danh là quá trình gắn cho kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm – biểu niệm phản ánh các đặc trưng nhất định của một biểu vật. [dẫn theo 77, tr.52]

35

Như vậy, có thể hiểu định danh chính là đặt tên gọi (naming) cho sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Khi định danh, trước hết phải quan sát, tìm hiểu kĩ để phát hiện ra một bộ những dấu hiệu đặc trưng nào đó vốn có của đối tượng. Sau đó, người ta chọn xem trong số các dấu hiệu ấy, dấu hiệu nào là tiêu biểu và có giá trị khu biệt nó với các đối tượng khác. Tuy nhiên, dấu hiệu đặc trưng được chọn làm cơ sở cho việc định danh phụ thuộc vào đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc, ngoài ra loại hình ngôn ngữ cũng có sự tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới quá trình định danh [77].

Štekauer (2005) nhận định rằng các đơn vị định danh không xuất hiện trong sự cô lập với các yếu tố như kiến thức con người, khả năng nhận thức, kinh nghiệm, khám phá về những vấn đề mới, quy trình, và phẩm chất, trí tưởng tượng của con người….Một vật được định danh không chỉ ở góc độ riêng mình nó mà còn được giải thích trong mối quan hệ với các vật sẵn có. Vì vậy, các mối quan hệ cấu trúc trong từ vựng bị chi phối bởi một mạng lưới các mối quan hệ khách quan mà cần phải được xem xét trong quá trình định danh. Trong nghiên cứu về định đoán nghĩa của các đơn vị định danh mới, Štekauer đã nêu ra các nguyên tắc quan trọng sau đây:

+ Mô hình đặt trọng tâm vào vai trò tích cực của người dùng ngôn ngữ trong quá trình định danh cho các đối tượng thay vì trình bày sự cấu tạo từ như một hệ thống quy tắc cá nhân tách rời khỏi các đối tượng được định danh và người sử dụng ngôn ngữ.

+ Quá trình định danh không phải chỉ là một quá trình ngôn ngữ thuần túy. Các đơn vị định danh không tồn tại một cách tách rời với các yếu tố như kiến thức con người, những khả năng nhận thức của con người, kinh nghiệm, việc phát hiện những cái mới, quá trình và phẩm chất, sự tưởng tượng của con người. Như vậy, quá trình định danh là một quá trình nhận thức dựa trên năng lực trí tuệ của người tạo ra từ mới (đơn vị định danh mới). [135]

Theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu (2007), chức năng định danh chỉ là một dạng thức của chức năng biểu vật. Bản thân từ đã có chức năng định danh thì sẽ có chức năng biểu vật, song không phải bất cứ sự biểu vật nào cũng theo lối định danh. Biểu vật theo cách định danh là cách biểu vật tổng hợp. Đó là cách gán một hình thức âm thanh (thường ở dạng ngắn gọn) cho sự vật, hiện tượng. Ở các tên gọi đó, sự vật và hiện tượng hiện ra trực tiếp trong tổng thể của nó chứ không thông qua các đặc điểm. [11, tr.97]

36

Có hai phương thức định danh các sự vật hiện, hiện tượng đó là phương thức định danh trực tiếp và phương thức định danh gián tiếp. Định danh trực tiếp là sử dụng những hình thức đặc biệt hay đã có để gọi tên một sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, các khái niệm được thể hiện ra bằng các từ, và trên cơ sở ý nghĩa của từ đó đưa ra các đặc điểm nào đó của nó. Thông qua cách gọi tên như vậy, việc nêu ra những đặc trưng của sự vật hiện tượng cho phép so sánh, đối chiếu đối tượng này với những đối tượng khác. Việc phân

định ranh giới này đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu cách thức gọi tên hay định danh. Vì vậy, định danh trực tiếp đó là sự hiện thực hóa ý nghĩa từ điển của từ. Còn định danh gián tiếp (thứ cấp) là việc tổ chức lại các đơn vị ngôn ngữ từ những yếu tố có sẵn theo mô hình nhất định hay bằng cách chuyển nghĩa để tạo lập đơn vị mới. Do vậy, phương thức định danh gián tiếp về thực chất gắn bó chặt chẽ với sự chuyển nghĩa như ẩn dụ và hoán dụ và nó phản ánh rõ nét các đặc trưng văn hóa dân tộc. Vì những lẽ đó mà phương thức định danh gián tiếp cần phải được nghiên cứu một cách sâu hơn, đặc biệt hơn, bởi vì không có từ điển nào chứa đựng chúng.Việc xem xét cách thức xây dựng theo lối định danh gián tiếp đặc biệt quan trọng đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ biểu trưng, thành ngữ và tục ngữ v.v.

Đối tượng của lý thuyết định danh là nghiên cứu mô tả những quy luật về cách cấu tạo những đơn vị ngữ nghĩa, về sự tác động qua lại giữa tư duy, ngôn ngữ - hiện thực khách quan trong quá trình định danh. Tìm hiểu vai trò của nhân tố con người trong việc lựa chọn các dấu hiệu làm cơ sở cho sự định danh xuất phát từ mối quan hệ hiện thực – khái niệm – tên gọi. Lý thuyết định danh phải nghiên cứu và miêu tả cấu trúc của đơn vị định danh, từ đó xác định những tiêu chí hoặc những đặc trưng để phân biệt đơn vị định danh này với đơn vị định danh khác. Hiện thực khách quan được hình dung như là cái biểu vật của tên gọi. Còn tên gọi được nhận thức như là một dãy âm thanh được phân đoạn trong nhận thức ứng với một cấu trúc cụ thể của ngôn ngữ. Chính mối tương quan giữa cái biểu nghĩa và biểu vật và xu hướng của mối quan hệ này trong những hành vi định danh cụ thể sẽ tạo nên cấu trúc cơ sở của sự định danh. Luận án của chúng tôi chỉ nghiên cứu phương thức định danh trực tiếp (sử dụng tổ hợp âm biểu thị đặc trưng nào đó trong số các đặc trưng của đối tượng, mô phỏng âm thanh, ghép từ, vay mượn).

+ Định danh đơn giản (định danh tổng thể): được tạo bởi một đơn vị

37

2.3.2. Đơn vị định danh Khi nghiên cứu các đơn vị của ngôn ngữ, lý thuyết định danh phân biệt các loại đơn vị định danh là khác nhau. Dựa trên số lượng đơn vị có nghĩa tham gia vào đơn vị định danh, có thể phân loại như sau: có nghĩa

+ Định danh phức hợp (định danh phân tích, miêu tả): được tạo bởi hai

đơn vị có nghĩa trở lên. Dưới góc độ ngữ nghĩa học, đơn vị định danh gồm có định danh gốc (định danh bậc 1) và định danh phái sinh (định danh bậc 2). Đơn vị định danh gốc là những từ tối giản về mặt hình thái – cấu trúc, mang nghĩa đen, được dùng làm cơ sở để tạo ra các đơn vị định danh khác, ví dụ như cây, hoa, nụ, cành…. Đơn vị định danh phái sinh là những đơn vị định danh có đặc trưng hình thái cấu trúc phức tạp hơn đơn vị gốc, mang nghĩa biểu trưng hóa, ví dụ như hoa lá, hoa hoét, cười khẩy… [34, tr.8]

2.3.3. Cơ chế định danh của đơn vị định danh phái sinh (định danh bậc 2)

Hoàng Văn hành (1988) cho rằng để có thể xác định rõ cơ chế định

danh của các đơn vị định danh phái sinh, cần phải làm rõ hai vẫn đề cốt lõi:

(1) có những yếu tố nào tham gia vào cơ chế này và tư cách của mỗi yếu tố ra

sao? (2) Mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố đó như thế nào mà khiến ta có

thể coi đó là một cơ chế? Vì vậy, các cơ sở định danh trong luận án sẽ là kết

quả của quá trình phân tích ý nghĩa và quan hệ giữa các yếu tố tạo thành từ

ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. [34, tr.26-28]

Hiện nay, có quan niệm khác nhau trong việc lựa chọn đặc trưng làm

cơ sở định danh để gọi tên đối tượng. Có người cho rằng đặc trưng được chọn

phải là đặc trưng nào đó trong số các đặc trưng căn bản, quan trọng. Trong

thực tế, chúng ta thấy rằng khi định danh một sự vật, nếu chọn đặc trưng bản

chất của nó để làm cơ sở cho tên gọi thì sẽ tốt hơn cả.

2.3.4. Biến thể định danh

Biến thể tên gọi hay biến thể định danh nghĩa là cùng một thực thể

nhưng có rất nhiều tên gọi khác nhau. Dirk Geeraerts et all (1994) trong công

trình "The structure of lexical variation” (Cấu trúc của biến thể từ vựng) đã

gọi hiện tượng này là “onomasiological variation” (biến thể tên gọi/danh

học): “the situation that a referent or type of referent may be named by means

of various conceptually distinct lexical categories” (Biến thể tên gọi là tình

huống mà một vật quy chiếu hay một loại vật quy chiếu được gọi tên bằng

38

nhiều phạm trù từ vựng riêng biệt). [98, tr.3]

2.4. Lý thuyết về đối chiếu ngôn ngữ 2.4.1. Khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu

Theo Bùi Mạnh Hùng, đối chiếu là so sánh hai sự vật có liên quan chặt chẽ với nhau. Thuật ngữ “đối chiếu, đối sánh” thường được dùng để chỉ phương pháp hoặc phân ngành nghiên cứu lấy đối tượng chủ yếu là hai hay nhiều ngôn ngữ. Mục đích của nghiên cứu là làm sáng tỏ những nét giống và khác nhau hoặc chỉ làm sáng tỏ những nét khác nhau mà thôi. Nguyên tắc chủ yếu là nguyên tắc đồng đại [39].

Ngôn ngữ học đối chiếu là một phân môn của ngôn ngữ học ưu tiên sử dụng phương pháp đối chiếu để đối chiếu các ngôn ngữ với nhau để tìm ra sự giống và khác nhau giữa chúng nhằm phục vụ cho những mục đích lý luận và thực tiễn. Phân ngành ngôn ngữ học đối chiếu ra đời sau nhất nhưng nó có tính ứng dụng cao nhất, thể hiện trên nhiều phương diện. Ngôn ngữ học đối chiếu giúp kiểm chứng và làm sáng tỏ các phổ niệm được quy nạp trên cứ liệu các ngôn ngữ được đối chiếu, phát hiện thêm những hiện tượng ngôn ngữ có ý nghĩa phổ quát, góp phần làm phong phú thêm lý luận ngôn ngữ mà những nghiên cứu trên cứ liệu của một ngôn ngữ không thể giải quyết được.

39

2.4.2. Các bình diện đối chiếu ngôn ngữ Theo Bùi Mạnh Hùng, ngôn ngữ học đối chiếu, sau khi tìm hiểu về các vấn đề chung như khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu, lịch sử hình thành và phát triển, khi đối chiếu các ngôn ngữ thì cần phải tuân theo những nguyên tắc nào và vấn đề các bình diện nào được nghiên cứu khi đối chiếu hai ngôn ngữ cũng được đặt ra. Việc nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ có thể thực hiện ở tất cả các bình diện bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp (hình thái học và cú pháp học); ở tất cả các đơn vị thuộc các cấp độ khác nhau của cấu trúc ngôn ngữ gồm âm vị, hình vị, từ và các đơn vị của lời nói như ngữ đoạn và câu. Điều đó có nghĩa là bình diện nào, cấp độ nào của hệ thống ngôn ngữ và lời nói có thể miêu tả thì cũng có thể nghiên cứu đối chiếu. Đối tượng của phân tích đối chiếu về từ vựng là những điểm giống nhau và khác nhau của thành phần từ vựng và quan hệ từ vựng trong các ngôn ngữ đối chiếu. Và tất nhiên khó có thể nghiên cứu đối chiếu toàn bộ hệ thống từ vựng của hai ngôn ngữ vì chúng ta đều nhận thức được rằng đó là một hệ thống mở, có số lượng yếu tố rất lớn và biến đổi không ngừng.

Theo Lado có 3 cấp độ đối chiếu từ đó là hình thức, ý nghĩa và sự phân bố. Ông cũng xác định phân bố không chỉ là những chu cảnh có thể có của từ, mà còn gồm cả ngữ cảnh hay tình huống mà từ đó được sử dụng. [dẫn theo 39,195]. Luận án của chúng tôi sẽ nghiên cứu tập trung vào bình diện từ vựng giữa hai ngôn ngữ Anh – Việt, cụ thể đó là đối chiếu từ ngữ là tên gọi các loài hoa trong hai ngôn ngữ.

2.4.3. Các phương pháp đối chiếu Những thay đổi về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu đã đánh dấu quá trình phát triển của ngôn ngữ học. Đến nay, khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ tự nhiên đã biết đến nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có hai phương pháp cơ bản nhất là phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh. Với tư cách là một công cụ quan trọng và thiết yếu để nghiên cứu ngôn ngữ, phương pháp so sánh bắt đầu được áp dụng rộng rãi từ thế kỉ 19 cùng với sự phát triển rực rỡ của ngành ngôn ngữ học so sánh lịch sử. Theo Lehmann (1962), nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ dùng thuật ngữ

phương pháp so sánh với nghĩa là “phương pháp so sánh lịch sử” và theo đó

ngôn ngữ học so sánh chính là ngôn ngữ học so sánh lịch sử. Tuy nhiên cần

phân biệt so sánh với tư cách là nền tảng lý thuyết của ngôn ngữ học so sánh

nói chung với so sánh trong ngôn ngữ học đối chiếu, một hình thức riêng của

phương pháp so sánh. Nó có những nét đặc thù và được xác định như một

phương pháp nghiên cứu độc lập, có những nguyên tắc nhất định, đó chính là

phương pháp đối chiếu.

Thông qua cách giải thích của các từ điển tiếng Việt, có thể thấy rõ sự

khác biệt giữa hai thuật ngữ so sánh và đối chiếu. So sánh là xem xét cái này

với cái kia để thấy được sự giống nhau và khác nhau còn đối chiếu là so sánh

cái này với một cái khác, thường được lấy làm chuẩn để từ những điểm giống

nhau và khác nhau thấy rõ được hơn đặc trưng của những cái được so sánh. Sự

khác biệt tinh tế giữa hai thuật ngữ này đươc biểu hiện ở chỗ: đối chiếu cũng là

so sánh nhưng là so sánh giữa hai đối tượng trong đó có một được lấy làm

chuẩn. Có thể lấy khái niệm so sánh để giải thích khái niệm đối chiếu, nhưng

40

không thể làm ngược lại. Nói cách khác, so sánh có nghĩa rộng hơn đối chiếu.

2.4.4. Các nguyên tắc nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ

Trên cơ sở những nghiên cứu của Z. Harris (1963), C. James (1980), U.

Jusupov (1989), T. Krzeszowski (1990), V. Solnsev (2001) và thực tiễn

nghiên cứu, Bùi Mạnh Hùng (2008) cho rằng trong quá trình nghiên cứu đối

chiếu các ngôn ngữ, cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau đây:

a. Bảo đảm các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu phải được

miêu tả một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc trước khi tiến hành đối chiếu

để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng.

b. Việc nghiên cứu đối chiếu không thể chỉ chú ý đến các phương tiện

ngôn ngữ một cách tách biệt mà phải đặt trong hệ thống.

c. Phải xem xét các phương tiện đối chiếu không chỉ trong hệ thống

ngôn ngữ mà còn trong hoạt động giao tiếp.

d. Phải đảm bảo tính nhất quán trong việc vận dụng các khái niệm và

mô hình lý thuyết để miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu. Nguyên tắc 4 đòi

hỏi người nghiên cứu phải miêu tả các phương tiện của hai ngôn ngữ với cùng

một mô hình.

e. Phải tính đến mức độ gần gũi về loại hình giữa các ngôn ngữ cần đối

chiếu. [39,131-136].

Theo nguyên tắc này, trong luận án, chúng tôi thống kê từ ngữ gọi tên

các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt, tiến hành miêu tả cấu tạo, đặc

điểm ngữ pháp và phân tích đặc điểm định danh, ngữ nghĩa, các hướng nghĩa

biểu trưng của các thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa và tên các

loài hoa rồi tiến hành đối chiếu để xác định những tương đồng và khác biệt

41

của các phương diện này trong hai ngôn ngữ.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

42

Trong chương 1, luận án đã tổng quan và đưa ra một bức tranh khái quát các nghiên cứu về từ ngữ chỉ “hoa” trên thế giới và ở Việt Nam. Qua đó, chúng tôi thấy rằng, chưa có nghiên cứu đối chiếu cụ thể nào về từ ngữ chỉ hoa dưới góc độ ngôn ngữ học trong tiếng Anh, chỉ có các nghiên cứu về chủ đề hoa dưới các góc độ như văn hóa học và tâm lý học. Trong tiếng Việt, chúng tôi mới chỉ tổng quan được các công trình nghiên cứu về trường từ vựng - ngữ nghĩa hay các nhóm từ ngữ chỉ hoa dưới góc độ ngôn ngữ học thông qua việc sử dụng ngữ liệu văn học. Đồng thời, chương 1 cũng xác lập một khung lý thuyết để làm cơ sở triển khai các nội dung nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề về lý thuyết như khái niệm về từ, cụm từ, cấu trúc ngữ nghĩa của từ và các phương thức chuyển nghĩa của từ; khái niệm trường từ vựng - ngữ nghĩa và tiêu chí xác lập trường nghĩa; khái niệm định danh; khái niệm, mục đích và nhiệm vụ của ngôn ngữ học đối chiếu và một số lý luận về văn hóa Anh và Việt.

Chương 2 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO, ĐỊNH DANH VÀ NGỮ NGHĨA TỪ NGỮ CHỈ HOA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Dẫn nhập Tiếng Anh và tiếng Việt đều có hệ thống từ ngữ chỉ hoa rất đa dạng và

phong phú. Trong chương này, luận án đi sâu phân tích đặc điểm cấu tạo, đặc

điểm định danh và ngữ nghĩa của các nhóm từ ngữ chỉ tên gọi các loài hoa nhằm

tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo, định danh và ngữ nghĩa của

chúng trong hai ngôn ngữ Anh và Việt. Nguồn ngữ liệu chúng tôi sử dụng trong

chương này là nhóm ngữ liệu 1 bao gồm các từ ngữ chỉ tên gọi các loài hoa được

thu thập trong các từ điển giải thích tiếng Anh và tiếng Việt, các từ điển, sách,

báo và các trang mạng về hoa. Về ngữ liệu nghiên cứu được sử dụng để phân

tích đặc điểm cấu tạo bao gồm 347 từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và 355 từ ngữ

chỉ tên hoa trong tiếng Việt. Đối với ngữ liệu được sử dụng để phân tích đặc

điểm định danh, luận án chỉ sử dụng những từ ngữ có thể thấy rõ lý do định danh

vì vậy trong tiếng Anh ngữ liệu chỉ bao gồm 164/347 đơn vị có lý do (chiếm

47,3%), chủ yếu là các từ ghép bổ sung từ tên gốc tạo ra, có từ phái sinh. Tiếng

Việt gồm 231/355 đơn vị có lý do (chiếm 60,6%), chủ yếu là từ ghép bổ sung từ

tên gốc mà ra. Cuối cùng ngữ liệu được sử dụng là những lời định nghĩa từ điển

của những từ ngữ chỉ hoa để phân tích ra thành các nét nghĩa, phản ánh những

đặc trưng cơ bản của đối tượng được biểu thị. Luận án chỉ sử dụng 146 từ ngữ

chỉ hoa trong tiếng Anh và 167 từ ngữ trong tiếng Việt có xuất hiện trong các từ

điển giải thích tiếng Anh và tiếng Việt.

2.1. Đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

2.1.1. Đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh

2.1.1.1. Mô hình khái quát

Trong tiếng Anh, mô hình cấu tạo từ ngữ chỉ tên hoa được chia thành 3

loại, tên hoa chỉ bao gồm yếu tố ‘T” chỉ đặc trưng, dấu hiệu được chọn đinh

danh, tên hoa + yếu tố “T” chỉ dấu hiệu được chọn định danh và yếu tố chỉ

43

loại flower kết hợp với “T” dấu hiệu được chọn định danh:

T rose, lavender,

lily, orchid, buttercups, bluebell…

T + flower’s name (T + tên loài hoa) tiger lily, striped carnation, Spanish jasmine…

flower, peach

Yếu tố chỉ loại “flower” hầu như không xuất hiện hoặc xuất hiện rất ít trong tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh, bản thân yếu tố chỉ tên “T” đã thể hiện được ý nghĩa đầy đủ tên gọi của loài hoa. Ví dụ: lavender (hoa oải hương), lily (hoa loa kèn), orchid (hoa lan), buttercups (hoa mao lương vàng) v.v. Trong các mô hình trên có thể thấy yếu tố “T” – dấu hiệu được chọn định danh – có thể đứng một mình và thể hiện được ý nghĩa đầy đủ tên gọi của loài hoa, ngoài ra yếu tố “T” còn kết hợp với tên hoa hoặc từ “flower” hay “blossom” để tạo ra các từ ngữ chỉ hoa khác. Sự phong phú trong vốn từ vựng chỉ tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh đã phản ánh sự phong phú về điều kiện tự nhiên, đồng thời thể hiện khả năng tư duy, thói quen tâm lý thường dùng, … của người Anh khi gọi tên sự vật, hiện tượng trong đó có tên gọi các loài hoa. Yếu tố “T” trong tiếng Anh được phân chia thành các bậc sau:

T + flower / blossom word (T + từ flower / blossom) sunflower, cone blossom…

Yếu tố chỉ loại Nội dung ý nghĩa

Yếu tố chỉ tên hoa Bậc 2 Bậc 1 Bậc 3

Star hoa sao

Indian Jasmine hoa nhài Ấn Độ

Indian White Jasmine hoa nhài trắng Ấn Độ

Orchid hoa lan hài

laddy’s slipper (flower/ blossom) (flower/ blossom) (flower)/ blossom (flower/ blossom)

Bậc 1: Đây là bậc trung tâm để phân biệt các loài hoa với nhau, chủ

44

Từ bảng trên cho thấy yếu tố chỉ tên hoa “T” có cấu trúc 3 bậc như sau: yếu là từ đơn như: jasmine (nhài), orchid (lan), rose (hồng),… Bậc 2: Đây là bậc phụ nhưng có cấu tạo phức tạp bởi đặc điểm định danh ở bậc 2 rất đa dạng như hình dạng, kích thước, tính chất, màu sắc, nguồn gốc… có tác dụng bổ sung, giải thích cho bậc 1. Ví dụ:

laddy’s slipper orchid

Indian white jasmine Yellow day lily

Yellow tulip Bậc 3: Đây cũng là bậc phụ, thường chỉ địa danh để giải thích cho hoa về nguồn gốc, đôi khi là màu sắc có vai trò làm rõ nghĩa và bổ sung cho bậc 1 và bậc 2. Ví dụ: 2.1.1.2. Tên gọi hoa có cấu tạo là từ Trong số 347 tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh, chúng tôi nhận thấy chúng có cấu tạo là các từ bao gồm từ đơn, từ ghép và từ phái sinh hoặc cụm từ (ngữ). Trong đó, tên gọi hoa chủ yếu có cấu tạo là từ.

Bảng 2.1: Tên gọi hoa trong tiếng Anh xét về mặt cấu tạo

Từ

Từ ngữ chỉ tên gọi hoa xét theo cấu tạo Ngữ Tổng Đơn

Phái sinh 5 1,4 Ghép C – P Đ – L 150 43,2 16 4,6 6 1,7 170 49

Tên gọi hoa là từ phái sinh: Có 5 đơn vị, chiếm 1,4%. Ví dụ: bi/ennials

45

347 Số lượng 100 Tỷ lệ % Tên gọi các loài hoa gồm có cả từ đơn, từ phái sinh và từ ghép (ghép chính phụ, ghép đẳng lập). Nhóm từ này xét dưới góc độ cấu tạo có những đặc điểm sau: Tên gọi hoa là từ đơn: Theo kết quả khảo sát, số lượng từ đơn chỉ hoa trong tiếng Anh là 170 đơn vị, chiếm tỉ lệ 49% trong tổng số từ chỉ tên gọi hoa. Ví dụ: daisy (hoa cúc), lotus (hoa sen), lily (hoa loa kèn)… (hoa hai năm), per/enials (hoa lâu năm), Garden/ia (hoa dành dành),… Tên gọi hoa là từ ghép: Có 166 đơn vị, chiếm 47,8%, là những từ được kết hợp với nhau dựa trên ý nghĩa. Từ ghép trong tiếng Anh có 3 dạng thức chữ viết: từ ghép được kết hợp bởi hai hình vị viết liền nhau chỉ là 1 từ: sun/flower (hoa hướng dương), snow/drop (hoa giọt tuyết), snap/dragon (hoa mõm rồng); từ ghép được kết hợp bởi hai hình vị viết tách rời nhau là hai từ: moss rose (hoa hồng rêu), passion flower (hoa lạc tiên), almond blossom (hoa hạnh nhân); từ ghép được kết hợp bởi các hình vị nối với nhau bằng dấu gạch ngang (-): forget – me – not (hoa lưu ly), silvered – leaved geranium (hoa phong lữ lá bạc). Số liệu thống kê trên cho thấy các từ chỉ tên gọi hoa trong tiếng Anh chủ yếu có cấu tạo là từ đơn và từ ghép. Dựa trên quan hệ về nghĩa

giữa các yếu tố trong từ ghép, từ ghép chỉ tên gọi hoa được chia thành hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ. Từ ghép đẳng lập: có 16 trong số 347 từ ngữ, chiếm 4,6%. Các từ này đều do hai thành tố danh từ kết hợp với nhau tạo thành. Ví dụ: moss rose (hoa hồng rêu), sunflower (hoa hướng dương), tiger lily (hoa huệ đốm cam)… Từ ghép chính phụ: Phần lớn từ ghép chỉ tên gọi hoa trong tiếng Anh là từ ghép chính phụ, gồm 150 đơn vị, chiếm 43,2%. Các từ ghép chỉ tên gọi hoa trong tiếng Anh có cấu tạo là từ ghép chính phụ có thể do hai hoặc hơn hai thành tố tạo thành. Ví dụ: striped carnation (hoa cẩm chướng kẻ sọc), bluebell (hoa chuông xanh Anh)… 2.1.1.3. Tên gọi hoa có cấu tạo ngữ Tên các loài hoa trong tiếng Anh không chỉ có cấu tạo là các từ như được trình bày ở trên mà còn có cấu tạo là các cụm từ (ngữ) và đều là các cụm (ngữ) danh từ. Nhóm từ ngữ chỉ tên gọi hoa trong tiếng Anh có cấu tạo là cụm từ (ngữ) có số lượng rất hạn chế: 6 đơn vị, chiếm 1,7%. Ví dụ: Rose of heaven (hoa hồng thiên đàng), lily of the valley (hoa huệ thung lũng), French and African marigold (hoa cúc vạn thọ Châu phi và Pháp), v.v. Như vậy, các từ ngữ chỉ tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh có cấu tạo khá đa dạng và phong phú. Chúng có thể là những từ đơn, từ phái sinh, từ ghép và cụm từ. Trong từ, chúng được cấu tạo chủ yếu dưới dạng đơn và ghép (chủ yếu là ghép chính phụ), có ít từ phái sinh. Số lượng từ ngữ có cấu tạo là các cụm từ chiếm tỉ lệ thấp, 1,7% và đều là các cụm danh từ.

Hoa/bông + T

46

2.1.2. Đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Việt 2.1.2.1. Mô hình khái quát Yếu tố chỉ loại “hoa” thường xuất hiện trong thành phần tên gọi của các loài hoa trong tiếng Việt, do đó chúng ta có thể nhận biết dễ dàng được người nói hoặc người viết đang nói đến hoa. Ví dụ: hoa mõm chó, hoa đào, hoa cứt lợn, hoa vòi voi v.v. Trong mô hình khái quát có thể thấy sau yếu tố chỉ loại hoa là tên gọi riêng của hoa, gồm một tập hợp các đặc trưng, dấu hiệu được chọn định danh cho loài hoa đó được kí hiệu là (T). Sự phong phú trong vốn từ vựng chỉ tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt đã phản ánh sự phong phú về điều kiện tự

nhiên, đồng thời thể hiện khả năng tư duy, thói quen tâm lý thường dùng của người Việt khi gọi tên sự vật, hiện tượng. Yếu tố “T” trong tiếng Việt được phân chia thành các bậc sau:

Yếu tố chỉ loại

Bậc 3 Tiên Vũ Sa pa Bậc 1 Lan Lan hồng hồng mười giờ Yếu tố chỉ tên riêng Bậc 2 bọ cạp kiếm Nhung cổ

Hoa Hoa Hoa Hoa Hoa Bảng trên cho thấy yếu tố chỉ tên hoa “T” gồm nhiều dấu hiệu/đặc điểm

Bậc 1: Đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt các loài hoa với nhau như:

lan đuôi cáo

cúc móng rồng trắng

được lựa chọn để định danh có cấu trúc 3 bậc như sau: lan, hồng, sen, cúc, mười giờ, thược dược, v.v. Bậc 2: Đây là dấu hiệu biểu thị đặc điểm của từng loại hoa như màu sắc, tính chất, hình dạng, kích thước, mùi vị nguồn gốc v.v, có tác dụng bổ sung, giải thích cho bậc 1. Ví dụ: Cúc vàng Bậc 3: Đây cũng là dấu hiệu chỉ rõ thêm những đặc điểm của loại hoa nhằm xác định rõ loài hoa đó. Dấu hiệu này thường chỉ địa danh để giải thích cho hoa về nguồn gốc, đôi khi là màu sắc có vai trò làm rõ nghĩa và bổ sung cho bậc 1 và bậc 2. Ví dụ: Hồng cổ Sa Pa 2.1.2.2. Tên gọi hoa có cấu tạo là từ Trong số 355 tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy chúng có cấu tạo chủ yếu dựa trên hai yếu tố: yếu tố chỉ loại và yếu tố phân loại, yếu tố chỉ loại hoa là cần thiết để xuất hiện trong tên gọi hoa. Đặc điểm của yếu tố phân loại “T” như sau:

Bảng 2.2: Tên gọi hoa trong tiếng Việt xét về mặt cấu tạo

Từ

Từ ngữ chỉ tên gọi hoa xét theo cấu tạo Ngữ Tổng Đơn Láy

47

Số lượng Tỷ lệ % 39 10,1 Ghép C – P Đ – L 282 79,4 16 4,5 9 2,5 355 100 8 2,3

Tên gọi các loài hoa gồm có cả từ đơn, từ láy và từ ghép (ghép chính phụ,

48

Bảng số liệu trên cho thấy tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt có thể có cấu tạo là từ bao gồm từ đơn, từ láy, từ ghép và ngữ (cụm từ). Trong đó, tên gọi hoa chủ yếu có cấu tạo là từ. ghép đẳng lập). Nhóm từ này xét dưới góc độ cấu tạo có những đặc điểm sau: Từ đơn: Theo kết quả khảo sát, tên gọi hoa trong tiếng Việt có cấu tạo là từ đơn có số lượng không nhiều, chỉ có 39 từ, chiếm tỉ lệ 10,1% trong tổng số từ chỉ tên gọi hoa. Ví dụ: cúc, đào, mai, sen, hồng, v.v. Từ láy: Có 8 từ láy gọi tên hoa, chiếm 2,3%, trong đó từ láy hoàn toàn gồm 5 từ như: bìm bìm, bồ bồ, bồng bồng, dành dành, muồng muồng và từ láy vần gồm 3 từ thài lài, chiêng chiếng, bằng lăng… Từ ghép: Có 298 từ, chiếm 83,9%, là những từ có từ hai âm tiết trở lên được kết hợp với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa. Ví dụ: cúc vàng, lan bọ cạp, hồng đào, đồng tiền, v.v. Số liệu này cho thấy các từ chỉ tên gọi hoa trong tiếng Việt chủ yếu có cấu tạo là từ ghép. Dựa trên quan hệ về nghĩa giữa các yếu tố, từ ghép chỉ tên gọi hoa trong tiếng Việt được chia thành hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ. Từ ghép đẳng lập: có 16 trong số 355 từ ngữ gọi tên hoa, chiếm 4,5%. Các từ này đều do hai âm tiết - thành tố danh từ kết hợp với nhau tạo thành. Ví dụ: mai cúc, mai núi, trúc đào, hồng mai, v.v. Từ ghép chính phụ: Hầu hết từ ghép chỉ tên gọi hoa trong tiếng Việt là từ ghép chính phụ. Nhóm từ này có số lượng là 282 từ, chiếm 79,4%. Các từ ghép chỉ tên gọi hoa trong tiếng Việt có cấu tạo là từ ghép chính phụ có thể do 2, 3 hoặc 4 thành tố tạo thành. Ví dụ: cúc trắng, anh đào, lan hài, bèo lục bình, v.v. 2.1.2.3. Tên gọi hoa có cấu tạo là ngữ Tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt không chỉ có cấu tạo là các từ như được trình bày ở trên mà còn có cấu tạo là các cụm từ (ngữ) và đều là các cụm (ngữ) danh từ. Nhóm từ ngữ chỉ tên gọi hoa trong tiếng Việt có cấu tạo là cụm từ (ngữ) có số lượng: 9 đơn vị, chiếm 2,5%. Ví dụ: hồng bạch xếp Nam Định, lan hoàng thảo thủy tiên, phong lan giáng hương thơm, v.v. Như vậy, các từ ngữ chỉ tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt cũng có cấu tạo khá đa dạng. Chúng có thể là những từ đơn, từ láy, từ ghép và cụm từ

(ngữ). Trong từ, chúng được cấu tạo chủ yếu dưới dạng đơn và ghép (chủ yếu là ghép chính phụ), có ít từ láy. Số lượng từ ngữ có cấu tạo là các cụm từ chiếm tỉ lệ thấp, 2,5% và đều là các cụm (ngữ) danh từ.

2.1.3. Đối chiếu đặc điểm cấu tạo từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

* Về mô hình khái quát: Sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Việt đã dẫn đến vị trí của các yếu tố trong mô hình cấu tạo tên gọi hoa trong hai ngôn ngữ cũng khác nhau. Trong tiếng Anh, dấu hiệu được chọn định danh “T” có thể đứng một mình, có thể đứng trước yếu tố chỉ tên hoa hoặc đứng trước yếu tố chỉ loại “hoa”: T; T + flower’s name; T + flower/blossom word, còn trong tiếng Việt yếu tố chỉ loại “hoa” đứng trước còn dấu hiệu được chọn định danh “T” đứng sau: Hoa/bông + “T”. Yếu tố chỉ loại “flower” (hoa) trong tiếng Anh hầu như không cần thiết xuất hiện ở các tên gọi, bản thân tên gọi đã thể hiện đầy đủ ý nghĩa như lotus (hoa sen), carnation (hoa cẩm chướng), rose (hoa hồng), nó chỉ xuất hiện rất ít trong các trường hợp để phân biệt với quả và các yếu tố khác như peach blossom, cherry blossom (hoa anh đào), sunflower (hoa hướng dương),…. Ngược lại, trong tiếng Việt, yếu tố chỉ loại “hoa” thường xuất hiện trong thành phần tên gọi các loài hoa như: hoa mõm chó, hoa mào gà, hoa đăng, hoa bướm, hoa cẩm chướng, v.v. Yếu tố chỉ tên hoa “T” trong tiếng Anh và tiếng Việt đều có cấu trúc 3 bậc, bậc 1 là bậc trung tâm để phân biệt các loại hoa, ở bậc hai yếu tố được cả người Anh và người Việt gọi tên chủ yếu dựa vào đặc điểm hình dạng, kích thước, màu sắc, cấu tạo, mùi vị và các đặc điểm khác. Bậc 3 cũng là bậc phụ, thường chỉ địa danh giải thích về nguồn gốc, môi trường sinh trưởng của hoa, có vai trò làm rõ nghĩa cho bậc 1 và bậc 2.

49

* Về tên gọi hoa có cấu tạo là từ: Xét về mặt cấu tạo, tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt đều có thể có cấu tạo là từ đơn, từ ghép (ghép đẳng lập và ghép chính phụ) và cụm từ (ngữ). Số lượng từ ghép chỉ tên gọi hoa trong hai ngôn ngữ chủ yếu là từ ghép chính phụ, còn từ ghép đẳng lập khá hạn chế. Trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, những đơn vị là từ đơn đều không thể phân chia ra được các thành phần cấu tạo. Từ đơn trong tiếng Việt chỉ được

cấu tạo bằng 1 âm tiết như hoa, hồng, sen, nở, tàn, v.v. còn từ đơn trong tiếng Anh có thể được cấu tạo bằng 1 hình vị (gồm một âm tiết hay hai âm tiết trở lên nhưng cũng không thể phân chia ra được) như: broom (hoa đậu chổi), poppy (hoa anh túc), peony (hoa mẫu đơn), carnation (hoa cẩm chướng), v.v. Đối với từ ghép trong hai ngôn ngữ có thể phân chia nhỏ ra được các thành phần cấu tạo. Sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ có ảnh hưởng đến sự kết hợp từ ngữ

và số lượng chỉ tên gọi hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Trong tiếng Anh,

số lượng từ đơn chiếm số lượng nhiều nhất 170 từ (chiếm 49%), tiếp đến là từ

ghép 166 từ (chiếm 47,8%). Ngược lại, từ ghép trong tiếng Việt lại chiếm số

lượng cao nhất với 298 từ (chiếm 83,9%), từ đơn đứng thứ hai với số lượng

khá chênh lệch so với từ ghép chỉ có 39 từ (chiếm 10,1%). Từ ghép trong

tiếng Anh (ngôn ngữ biến hình) được cấu tạo bởi hai hình vị gồm có hai loại:

từ ghép bởi hai hình vị viết liền nhau chỉ là một từ như sun/flower (hoa hướng

dương), blue/bell (hoa chuông xanh), butter/cups (hoa mao lương vàng) và từ

ghép bởi hai hình vị viết tách rời nhau là hai từ như purple lilac (hoa tử đinh

hương tím), scarlet geranium (hoa phong lữ đỏ), passion flower (hoa lạc

tiên). Ngoài ra, tiếng Anh còn có từ ghép được cấu tạo bởi các hình vị kết hợp

với nhau bằng các gạch nối như forget – me – not (hoa lưu ly), silver – leaved

geranium (hoa phong lữ lá bạc). Còn trong tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập,

hình thức từ chặt chẽ) chỉ tồn tại từ ghép bởi các hình vị được viết tách rời

nhau như cúc dại, bèo tây, đào phai, cúc họa mi, cúc thạch thảo v.v.

Tiếng Anh có đặc điểm tổng hợp tính (có pha phân tích tính), biến hình

(hòa kết) nên tiếng Anh có từ phái sinh mà tiếng Việt không có. Trái lại, tiếng

Việt có từ láy gọi tên hoa còn tiếng Anh không có. Tiếng Việt là ngôn ngữ

phân tích tính, đơn lập, hình thức từ chặt chẽ, không biến hình nên thể hiện rõ

sự chi phối trong cách cấu tạo định danh từ ngữ chỉ hoa. Do đặc điểm đơn lập

nên số lượng vỏ âm tiết bị hạn chế dẫn đến số lượng từ đơn bị khống chế. Vì

vậy, để đáp ứng nhu cầu sử dụng trong giao tiếp, tiếng Việt dùng cách ghép

50

để tạo ra số lượng từ ngữ mới.

* Về tên gọi hoa có cấu tạo là ngữ: Cụm từ hay ngữ chỉ tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt đều chiếm số lượng rất ít, cụm từ chỉ tên gọi hoa trong tiếng Anh là 6 trong số 347 từ ngữ, chiếm 1,7% và trong tiếng việt là 9 trong số 355 từ ngữ, chiếm 2,5%. Trong tiếng Việt không thấy xuất hiện tên gọi hoa dưới hình thức là một cụm từ được tạo ta bằng các giới từ giống như tiếng Anh, ví dụ: lily of the valley (hoa huệ thung lũng), rose of heaven (hoa hồng địa đàng), basket of gold (hoa cúc mâm xôi), green bells of Iceland (hoa chuông xanh Ai-xơ-len).

2.2. Đặc điểm định danh từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt Tìm hiểu đặc điểm định danh các từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt là phải nghiên cứu, mô tả những quy luật về cách cấu tạo những đơn vị ngữ nghĩa, về sự tác động qua lại giữa tư duy – ngôn ngữ - hiện thực khách quan trong quá trình định danh. Tìm hiểu vai trò của nhân tố con người trong việc lựa chọn các dấu hiệu làm cơ sở cho sự định danh xuất phát từ mối quan hệ giữa hiện thực – khái niệm và tên gọi. Ngoài ra, còn phải nghiên cứu và miêu tả cấu trúc của đơn vị định danh, từ đó xác định những tiêu chí hoặc những đặc trưng cần và đủ để phân biệt đơn vị định danh này với đơn vị định danh khác. Luận án sẽ xem xét, nghiên cứu nhóm từ ngữ chỉ tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên những phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa và văn hóa.

2.2.1. Tính có lý do và không có (hoặc chưa rõ) lý do đặt tên của tên gọi Tên gọi và đối tượng mà nó quy chiếu có mối liên hệ với nhau. Mối liên hệ đó là gì? Có lý do hay không có lý do, võ đoán hay phi võ đoán. Theo F. de Sausure thì ‘Mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là võ đoán’ [66, tr.122]. Tuy nhiên, ông lại chia thành võ đoán tương đối và võ đoán tuyệt đối. Đỗ Hữu Châu nhận định: ‘Nguyên tắc tạo thành các tên gọi là nguyên tắc có lý do’, nhưng ‘nguyên tắc chi phối các tên gọi trong hoạt động bình thường của nó là nguyên tắc không có lý do’ [7, tr.166]. Theo chúng tôi, định danh có thể có lý do và không có lý do.

51

Dạng không có lý do (võ đoán): là tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt có cấu tạo là từ đơn – định danh sơ cấp. Ví dụ: daisy (cúc), lotus (sen), orchid (lan), v.v. hay ngay cả từ láy như dành dành, bồ bồ, bằng lăng, v.v. cũng không có lý do gọi tên.

Dạng có lý do (phi võ đoán): là những tên gọi các loài hoa có cấu tạo là từ ghép và ngữ. Những tên gọi loại này thuộc loại định danh phái sinh. Có thể quan niệm rằng toàn bộ thế giới xung quanh chúng ta được con người xác lập thành hai tiểu thế giới: đó là thế giới thực tại và thế giới biểu tượng. Đó là những khách thể định danh, giữa khách thể định danh và chủ thể định danh có mối quan hệ khăng khít. Quá trình tâm lý diễn ra nơi con người trong quá trình định danh có lý do là: trước một đối tượng cần định danh, với tất cả những thuộc tính của đối tượng ấy, con người chỉ chọn một đặc tính tiêu biểu và nổi trội có tính đại diện cho đối tượng đó chứ không chọn tất cả để phân biệt đối tượng đó với đối tượng định danh khác bởi ‘Khi định danh một sự vật, không có gì lý tưởng hơn là chọn ra được đặc trưng nào đó thuộc đặc trưng bản chất của sự vật để làm cơ sở gọi tên nó’ [76, tr.37]. Những thuộc tính để gọi tên sự vật, hiện tượng phải là thuộc tính gắn với sự vật trong mọi điều kiện, bản chất nhất để phân biệt các sự vật với nhau.

Từ cơ sở lý thuyết về định danh đã nêu ở chương 1, luận án đã tiến hành tìm hiểu, phân tích về các mô hình định danh của 347 đơn vị từ ngữ chỉ tên gọi hoa trong tiếng Anh và 355 từ ngữ trong tiếng Việt. Trong đó, tiếng Anh có tới 183 tên gọi chưa rõ lý do (chiếm 52,7%), chủ yếu là những tên gọi có cấu tạo là từ đơn, còn lại 164 đơn vị có lý do (chiếm 47,3%), chủ yếu là các tên gọi có cấu tạo là từ ghép và từ phái sinh. Tiếng Việt có 124 tên gọi chưa rõ lý do (chiếm 34,9%), chủ yếu là tên gọi các loài hoa có cấu tạo là từ đơn, và từ láy, còn lại 231 tên gọi các loài hoa là có lý do (chiếm 60,6%), chủ yếu có cấu tạo là từ ghép và ngữ.

2.2.2. Đặc điểm định danh tên gọi các loại hoa trong tiếng Anh 2.2.2.1. Mô hình định danh khái quát

T T + flower’s name (T + tên loài hoa) T + flower / blossom word (T + từ flower / blossom)

52

Đây là mô hình định danh tên gọi chung các loại hoa trong tiếng Anh, ở phần này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu yếu tố chỉ đặc trưng, dấu hiệu được lựa chọn định danh bổ sung nghĩa cho hoa là “T”. Tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh khá đa dạng. Qua khảo sát 347 từ ngữ chỉ tên các loài hoa, chúng tôi

nhận thấy yếu tố đặc trưng được lựa chọn định danh “T” chủ yếu dựa vào màu sắc, hình dạng, nguồn gốc, kích cỡ, mùi vị, tên người, và các đặc tính khác. Cụ thể:

Định danh dựa vào nguồn gốc, có 18 loài hoa: Indian Jasmine (hoa

Định danh dựa vào hình dạng, kích thước, có 41 loài hoa: bluebell (hoa chuông xanh), dragon’s head (hoa đầu rồng), blackeyed susan (hoa cúc mắt huyền), buttefly orchid (hoa lan bướm), v.v. Định danh dựa vào màu sắc có 38 loài hoa: white rose (hồng trắng), purple lilac (hoa tử đinh hương tím), scarlet geranium (hoa phong lữ đỏ tươi), v.v. nhài Ấn Độ), Oriental lily (hoa huệ ta / huệ phương đông), v.v. Định danh dựa vào hương vị của hoa, có 13 loài hoa: Scented geranium (hoa phong lữ thơm), catmint (hoa bạc hà), peppermint (hoa bạc hà cay), sweet pea (hoa đậu thơm/ngọt), v.v. Định danh dựa vào cấu tạo của hoa, có 13 loài hoa: Striped Carnation (hoa cẩm chướng sọc kẻ), tiger lily (hoa huệ đốm cam), catchfly (hoa bắt ruồi), v.v.

Định danh dựa vào thời gian, có 12 loài hoa: evening primerose (hoa

Định danh dựa vào tên người, có 10 loài hoa: Zinna (hoa cúc zinna),

Định danh dựa vào các đặc tính khác, có 8 loài hoa.

anh thảo muộn), day lily (hoa huệ ngày), biennials (hoa hai năm), v.v. Định danh dựa vào môi trường sống hay nơi sinh trưởng của hoa, có 11 loài hoa: marsh marigold (hoa cúc vạn thọ đầm lầy), lily of the valley (hoa huệ thung lũng), v.v. Gardennia (hoa dành dành), Wisteria (hoa đậu tía), v.v. 2.2.2.2. Mô hình định danh cụ thể

Bảng 2.3: Bảng các kiểu định danh tên gọi các loại hoa trong tiếng Anh

STT Các kiểu định danh Số lượng Tỉ lệ %

1 Định danh dựa vào màu sắc 2 Định danh theo hình dạng của sự vật 3 Định danh theo hình dạng bộ phận cơ thể con 38/164 26/164 5/164 23,1 15,8 3,0

vật

53

4 Định danh theo hình dạng bộ phận cơ thể người 5 Định danh theo hình dạng của con vật 6 Định danh dựa vào cấu tạo của hoa 7/164 3/164 13/164 4,3 1,8 7,9

7 Định danh theo nguồn gốc địa danh 8 Định danh theo môi trường sống / nơi sinh 18/164 11/164 10,1 6,7

trưởng

9 Định danh theo đặc điểm hương vị 10 Định danh theo tên người 11 Định danh dựa vào thời gian 12 Định danh dựa vào các đặc tính khác

Tổng cộng 13/164 10/164 12/164 8/164 164 7,9 6,1 7,3 4,9 100

Dựa vào bảng dấu hiệu đặc trưng được chọn để định danh các loài hoa

trong tiếng Anh trên, chúng tôi nhận thấy có các kiểu định danh sau:

1. Màu sắc + tên hoa Có 38/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 23,1%), dấu hiệu định danh được nhận dạng bằng màu sắc, chủ yếu là màu sắc của hoa. Các màu sắc thường được sử dụng để định danh các loài hoa trong tiếng Anh gồm có 13 màu: blue (xanh nước biển), golden (màu vàng của vàng), pink (màu hồng), red (màu đỏ), purple (màu tím), scarlet (màu đỏ tươi), silver (màu bạc), white (màu trắng), yellow (màu vàng), blood (màu đỏ của máu), fire (màu lửa), green (màu xanh lá cây), cardinal (màu đỏ thắm). Đây là phương thức định danh tiêu biểu về tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh bởi màu sắc của hoa thường dễ tác động tới thị giác của con người trước tiên. Ví dụ: purple lilac (hoa tử đinh hương tím), red carnation (hoa cẩm chướng đỏ), scarlet geranium (hoa phong lữ đỏ tươi), silver-leaved geranium (hoa phong lữ lá bạc), golden margueritem (hoa cúc tây vàng), yellow iris (hoa diên vĩ vàng) v.v.

54

2. Hình dạng của sự vật + tên hoa Có 26/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 15,8%), dấu hiệu định danh được nhận dạng bằng hình dạng của hoa giống với các sự vật. Hình dạng của hoa không giống nhau, do đó sự khác biệt về hình dạng giữa các cá thể giúp dễ dàng nhận dạng các loài hoa. Có 18 sự vật được sử dụng để định danh hoa: star (ngôi sao), button (nút áo), broom (cái chổi), cup (cái cốc), whorl (vòng tròn), snowdrop (giọt tuyết), sun (mặt trời), blanket (cái chăn), cone (hình nón), ice (băng), slipper (hài), trumpet (kèn), balloon (quả bóng), bell (chuông), moon (mặt trăng), umbrella (cái ô), rag (rẻ rách), basket (cái rổ). Các loài hoa được định danh dựa trên đặc điểm về hình dạng là khá phổ biến.

Ví dụ: bluebell (hoa khi nở to có hình dạng như chiếc chuông xanh), cone flower (hoa nở tròn xoe như hình chiếc nón), snowdrop (hoa màu trắng, nở thành chùm rũ xuống trông như những giọt tuyết), moon daisy (hoa cúc có màu vàng nở to hình tròn như mặt trăng), laddy’s slipper orchid (hoa lan nở tạo thành hình dạng giống hệt chiếc hài của quý cô thời xưa), v.v.

3. Hình dạng của bộ phận cơ thể con vật + tên hoa Có 5/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 3%), dấu hiệu định danh được nhận dạng bằng hình dạng của hoa giống với bộ phận cơ thể con vật. Có 5 bộ phận cơ thể con vật được dùng để định danh các loài hoa: snapdragon (mõm rồng), Crane’s bill (mỏ sếu), dragon’s head (đầu rồng), cat’s foot (chân mèo), pussytoes (đuôi sóc). Ví dụ: snapdragon (hoa nở ra và đóng lại như hình dạng giống mõm rồng), crane’s bill (hoa nở có hình giống mỏ sếu), dragon’s head (hoa nở có hình dạng giống đầu rồng), goat’s beard (hoa nở có lông mọc thành đám giống như râu dê), cat’s foot (hoa nở trông giống như đôi bàn chân nhỏ của mèo) v.v.

Ví dụ: butterfly orchid (hoa lan bướm) chỉ loài hoa lan có cánh giống như

4. Hình dạng của bộ phận cơ thể người + tên hoa Có 7/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 4,3%), dấu hiệu định danh được nhận dạng bằng hình dạng của hoa giống với bộ phận cơ thể người. Có 4 bộ phận cơ thể người được dùng để định danh các loài hoa: heart (trái tim), eye (mắt), ear (tai), beard (dâu quai nón). Ví dụ: bleeding heart (hoa màu đỏ, nở thành chùm rủ xuống trông như hình trái tim), blackeyed susan (hoa cúc màu vàng, nở xòe to, có nhụy hoa màu đen như mắt – cúc mắt đen/mắt huyền), blue – eyed grass (hoa cỏ mắt xanh). 5. Hình dạng của con vật + tên hoa Có 3/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 1,8%), dấu hiệu định danh được nhận dạng bằng hình dạng của hoa giống với con vật. Có 2 con vật được dùng để định danh các loài hoa: butterfly (con bướm), scorpion (con bọ cạp). hình cánh bướm, scorpionweed (loài cỏ có nở hoa giống hình con bọ cạp) v.v.

55

6. Nguồn gốc địa danh + tên hoa Có 18/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 10,1%), dấu hiệu định danh được nhận dạng bằng các tên riêng chỉ địa danh. Có 11 tên

riêng chỉ địa danh được dùng để định danh các loài hoa: Indian (Ấn Độ), Spanish (Tây Ban Nha), California, Dutch (Hà Lan), English (Anh), French and African (Pháp và châu Phi), Iceland (Ai – xơ – len), Welsh (Xứ Wale), Mexican (Mê – hi – cô), Oriental (phương Đông), Arctic (Bắc Cực). Ví dụ: Indian jasmine (hoa nhài Ấn độ), English bluebell (hoa chuông xanh của Anh), African marigold (hoa cúc vạn thọ Châu Phi), California peony (hoa mẫu đơn Cali), Oriental lily (hoa huệ ta/ huệ phương đông) v.v.

7. Đặc điểm hương vị + tên hoa Có 13/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 7,9%), dấu hiệu định danh được nhận dạng dựa vào hương vị của hoa được con người tri nhận thông qua khứu giác, vị giác. Có 5 đặc điểm hương vị được dùng để định danh các loài hoa: scented (có mùi thơm), sweet (có mùi thơm/ có vị ngọt), mint (mùi bạc hà), musk (thơm mùi xạ hương), honey (vị ngọt ngào).

Ví dụ: catmint (hoa bạc hà), peppermint (hoa bạc hà cay), sweet pea (hoa đậu thơm), scented geranium (hoa phong lữ thơm), scarlet musk flower (hoa xạ hương đỏ tươi) v.v.

8. Đặc điểm thời gian + tên hoa Có 12/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 7,3%), dấu hiệu định danh được nhận dạng dựa vào thời gian hoa nở, hoa tàn hoặc tỏa hương. Có 9 đặc điểm thời gian được dùng để định danh các loài hoa: evening (buổi tối), biennial (hai năm), day (ban ngày), Christmas (Dịp Nô En), winter (mùa đông), spring (mùa xuân), noon (buổi trưa), everlasting (bất tử), four coclock (4 giờ).

Ví dụ: evening primrose (hoa anh thảo muộn – loài hoa nở vào buổi tối), four o’ clock (hoa bốn giờ - hoa nở vào thời gian 4 giờ), night-scented stocks (hoa hoàng anh – hoa nở và tỏa hương thơm vào ban đêm), noon flower (hoa tí ngọ - hoa sẽ héo/rũ xuống vào ban trưa), winter cherry (hoa anh đào đông – hoa xuất hiện vào mùa đông) v.v.

56

9. Đặc điểm cấu tạo + tên hoa Có 13/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 7,9%), dấu hiệu định danh được nhận dạng dựa vào môi trường hoa sống và sinh trưởng. Có 11 đặc điểm cấu tạo của hoa được sử dụng để định danh các loài hoa: thorn (có

gai), moss (rêu), striped (có sọc kẻ), tiger (hổ), catchfly (bắt ruồi), twin (hai/ kép), three – flowered (ba hoa), bee (ong), soap (xà phòng), bush (bụi). Ví dụ: striped carnation (hoa cẩm chướng kẻ sọc – hoa có các sọc kẻ trên các cánh hoa để phân biệt với các loài cẩm chướng khác), tiger lily (hoa huệ đốm da cam – các cánh hoa có các chấm màu cam giống như các đốm trên da con hổ), catchfly (hoa bắt ruồi – loài hoa có cấu tạo đặc biệt, hoa như cái bẫy để bắt côn trùng khi chúng tiếp cần gần), bee balm (loài hoa có cấu tạo có mùi thơm rất hấp dẫn những con ong), three – flowered avens (hoa thủy dương mai ba hoa – hoa mọc trên một trục có các tán hoa bao gồm 3 đến 5 bông hoa), soapwort (hoa xà phòng – lá của loài hoa này được sử dụng để sản xuất ra xà phòng và các chất tẩy rửa).

10. Môi trường sống / nơi sinh trưởng + tên hoa Có 11/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 6,7%), dấu hiệu định danh được nhận dạng dựa vào môi trường hoa sống và sinh trưởng. Có 9 loại hình môi trường sống của hoa được sử dụng để định danh: valley (thung lũng), water (nước), sea (biển), rock (đá), swamp (đầm lầy), river (sông), marsh (đầm lầy), meadow (đồng cỏ), mountain (núi). Ví dụ: lily of the valley (hoa huệ được trồng ở thung lũng), water lily (hoa mọc dưới nước tức hoa súng), sea lavender (hoa oải hương biển – hoa trồng ở vùng tiếp giáp biển), marsh marigold (hoa cúc vạn thọ sinh trưởng ở đầm lầy), mountain forget – me – not (hoa lưu ly sinh trưởng ở vùng núi) v.v.

57

11. Tên người + tên hoa Có 10/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 6,1%), dấu hiệu định danh được nhận dạng dựa vào tên người giới thiệu hoặc lai tạo ra các loài hoa: tên nhà thực vật học, tên nhà tự nhiên học, tên người anh hùng, tên họa sĩ, tên người giới thiệu hoa, tên vị thần, v.v. Ví dụ: Michaelmas daisy (hoa nở vào ngày lễ của vị thần Michael, lấy tên vị thần để đặt tên - hoa cúc tây), Sweet William (hoa cẩm chướng râu – tên người anh hùng chinh phục đã đến để vinh danh công tước chiến thắng của Cumberland), Zinna (hoa cúc Zinna – tên của tác giả viết giới thiệu về loại hoa này), Wisteria (hoa đậu tía – tên nhà thực vật học lai tạo ra loài hoa), Gardenia (hoa dành dành – tên của nhà tự nhiên học), Aubreita (gọi theo tên của họa sĩ phát hiện ra loài hoa và vẽ nó) v.v.

12. Các đặc tính khác + tên hoa Có 8/164 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 4,9%), dấu hiệu định danh được nhận dạng dựa vào đặc tính của hoa như không được thuần dưỡng, gắn sự tích câu chuyện nào đó. + Đặc tính không được thuần dưỡng, hoa mọc tự nhiên không được trồng và chăm sóc trong vườn: wild rose (hoa hồng dại), wild violet (hoa vi – ô – let dại) + Gắn với sự tích câu chuyện: forget – me – not (hoa xin đừng quên em / hoa lưu ly). Ngày xưa có một đôi nam nữ yêu nhau, một sáng mùa xuân trời trong vời vợi, họ dắt nhau dạo chơi bên bờ một con suối, hoa lưu ly mọc dày, cố vươn cành, nghiêng mình soi bóng xuống dòng nước trong xanh. Trong khi chàng trai tần ngần ngắm nhìn dòng thác đổ thì cô gái say sưa hái hoa. Cô nhoài người ra bờ suối hái mấy nhành hoa đẹp, chẳng may nàng bị trượt chân ngã xuống suối bị dòng nước cuốn trôi, nàng cố hết sức ném lại nhành hoa có ý trao tặng người yêu và gọi với "xin đừng quên em".

Hoa + T

2.2.3. Đặc điểm định danh tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt 2.2.3.1. Mô hình định danh khái quát Trên đây là mô hình định danh tên gọi chung các loại hoa trong tiếng

Việt. Qua khảo sát 355 từ ngữ chỉ tên các loài hoa trong tiếng Việt, chúng tôi

nhận thấy yếu tố đặc trưng được lựa chọn định danh “T” chủ yếu dựa vào

màu sắc, hình dạng, nguồn gốc, kích cỡ, mùi vị, cấu tạo, vai trò y học, và các

đặc tính khác. Cụ thể:

Định danh dựa vào hình dạng, kích cỡ có 65 loài hoa: hoa lan hài, hoa

mõm chó, hoa cúc đại đóa, hoa tiểu quỳnh, hoa mắt huyền, v.v.

Định danh dựa vào màu sắc có 60 loài hoa: hoa hồng bạch, hoa hồng

nhung, hoa cúc tím, v.v.

Định danh dựa vào nguồn gốc địa danh, có 18 loài hoa: hoa hồng Pháp,

hoa cúc Đà Lạt, Hoa hồng Sa Pa, v.v.

Định danh dựa vào hương vị của hoa, có 15 loài hoa: hoa oải hương,

58

hoa dạ hương, hoa lan giáng hương thơm, v.v.

Định danh dựa vào cấu tạo của hoa, có 36 loài hoa: hoa hồng leo tầm

xuân, hoa hướng dương, hoa mai chỉ thiên, hoa hồng tỉ muội, v.v.

Định danh dựa vào thời gian, có 9 loài hoa: hoa cúc bách nhật, hoa

mười giờ, hoa phù dung, hoa bất tử, v.v.

Định danh dựa vào môi trường sống hay nơi sinh trưởng của hoa, có 10

loài hoa: hoa địa lan, hoa sen cạn, hoa phong lan, v.v.

Định danh dựa vào vai trò của hoa trong y học, có 12 loài hoa: hoa anh

túc/ thuốc phiện, hoa thuốc bỏng hoa đơn, hoa bạc hà, v.v.

Định danh dựa vào các đặc tính khác, có 6 loài hoa.

2.2.3.2. Mô hình định danh cụ thể

Bảng 2.4: Bảng các kiểu định danh tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt

STT Các kiểu định danh Số lượng Tỉ lệ %

1 Định danh dựa vào màu sắc 2 Định danh theo hình dạng của sự vật 3 Định danh theo hình dạng bộ phận cơ thể con 60/231 34/231 17/231 26 14,7 7,3

vật

4 Định danh theo hình dạng bộ phận cơ thể người 5 Định danh theo hình dạng của con vật 6 Định danh dựa vào cấu tạo của hoa 7 Định danh theo nguồn gốc địa danh 8 Định danh theo môi trường sống / nơi sinh 4/231 4/231 36/231 18/231 10/231 1,7 1,7 16 7,8 4,3

trưởng

9 Định danh theo đặc điểm hương vị 10 Định danh theo vai trò trong y học 11 Định danh dựa vào thời gian 12 Định danh dựa vào kích cỡ 13 Định danh dựa vào các đặc tính khác

Tổng cộng 15/231 12/231 9/231 6/231 6/231 231 6,5 5,2 3,9 2,6 2,6 100

Nghiên cứu về mô hình định danh các từ ngữ chỉ tên gọi hoa trong

tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy có các kiểu định danh sau:

59

1. Tên hoa +màu sắc Có 60/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 26%). Đây là một trong những phương thức định danh tiêu biểu nhất về tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt bởi những đặc trưng nổi bật hay nổi trội về hình thức bên ngoài như màu sắc của hoa thường dễ tác động vào thị giác của con người.

Khi con người cầm, nắm hay thưởng thức thì đều nhìn bằng mắt trước tiên. Do đó, màu sắc thường là thuộc tính được con người chọn làm tên gọi cho đối tượng. Các màu sắc thường được sử dụng để định danh các loài hoa trong tiếng Việt gồm có 21 màu: bạch/trắng, đen/huyền, vàng, nhung, tím, nhiều màu, hồng, tím hoa cà, nâu, nhung xanh, ngũ sắc, đỏ, đỏ nhạt, hỏa, cam, son môi, bạc, lửa, bảy màu, huyết, phấn hồng. Ví dụ: hoa cẩm nhung (hoa có màu đỏ mịn như nhung), hoa cúc tím, hoa cúc tím hoa cà (hoa có màu tím như màu hoa cà), hoa ngũ sắc (hoa có 5 màu), hoa hỏa châu (hoa có màu đỏ), hoa son môi (hoa có màu đỏ của son môi), hoa lan hoàng yến cam, hoa bướm bạc, v.v.

2. Tên hoa + hình dạng của sự vật Có 34/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 14,7%), dấu hiệu định danh được nhận dạng bằng hình dạng của hoa giống với các sự vật. Hình dạng của hoa không giống nhau, do đó các ý nghĩa khu biệt giữa các cá thể giúp dễ dàng nhận dạng các loài hoa. Có 21 sự vật được sử dụng để định danh hoa: lục bình, bóng pingpong, mâm xôi, nút áo, mặt trời, ngôi sao, đồng tiền, hài, kiếm, kèn, rẻ quạt, chuông, xác pháo, quả cầu, lồng đèn, bông tai, giọt nước, buồm, ngọc, pháo bông, tòa sen. Đây là phương thức định danh khá phổ biến trong tiếng Việt. Ví dụ: hoa loa kèn (hoa có hình dạng giống cái kèn), hoa rẻ quạt (hoa có hình dạng giống cái quạt xòe có những chiếc nan), hoa đồng tiền (hoa có hình dạng đồng tiền xu), hoa lan hài (hoa có hình dạng giống chiếc hài/giầy của phụ nữ), hoa cúc mâm xôi (loài hoa cúc mọc thành bụi nở hoa xòe rộng tròn như hình mâm xôi) v.v.

3. Tên hoa + hình dạng của bộ phận cơ thể con vật Có 17/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 7,3%), dấu hiệu định danh được nhận dạng bằng hình dạng của hoa giống với bộ phận cơ thể con vật. Có 13 bộ phận cơ thể con vật được dùng để định danh các loài hoa: cánh mối, móng rồng, đuôi chồn, đuôi phượng vĩ, đuôi cáo, tai trâu, móng rùa, càng cua, mào gà, mõm chó/mép dê/ mõm sói, vòi voi, râu mèo, xương rồng.

60

Ví dụ: hoa đuôi chồn (hoa nở dài giống như đuôi con chồn), hoa phượng vĩ (hoa nở có nhụy mọc thò ra như đuôi phượng), hoa lan đuôi cáo,

hoa mào gà (hoa nở màu đỏ trông giống như chiếc mào gà), hoa mõm chó = hoa mép dê (hoa nở có hình dạng mõm con chó) hoa móng rồng, hoa vòi voi (hoa nở nhô cao uốn cong như hình dạng vòi của con voi), v.v.

4. Tên hoa + hình dạng của bộ phận cơ thể người Có 4/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 1,7%), dấu hiệu định danh được nhận dạng bằng hình dạng của hoa giống với bộ phận cơ thể người. Có 4 bộ phận cơ thể người được dùng để định danh các loài hoa: môi, móng tay, mi (lông mi), mắt. Ví dụ: hoa môi (hoa màu đỏ, khi nở chia làm 2 phần có hình dạng đôi môi), hoa móng tay (hoa nở có hình dạng giống như móng tay người), hoa mắt huyền = hoa cúc leo mắt huyền (hoa nở có dạng tròn và nhị màu đen huyền giống như đôi mắt đen), hoa cúc thọ mi (hoa nở có các cánh hoa dài và mềm mại như lông mi của một cụ ông tám chín mươi tuổi thọ).

5. Tên hoa + hình dạng của con vật Có 4/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 1,7%), dấu hiệu định danh được nhận dạng bằng hình dạng của hoa giống với con vật. Có 4 con vật được dùng để định danh các loài hoa: bướm, bọ cạp, hạc, én. Ví dụ: hoa lan bọ cạp (hoa lan nở có hình dạng giống như con bọ cạp), hoa én bạc (hoa nở có hình dạng giống như chim én đang xòe cánh), hoa bướm (hoa nở có cánh mỏng xòe hai bên trông như hình con bướm).v.v

6. Tên hoa + nguồn gốc địa danh Có 18/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 7,8%), dấu hiệu định danh được nhận dạng bằng các tên riêng chỉ địa danh. Có 12 tên riêng chỉ địa danh được dùng để định danh các loài hoa: Nhật, Trường Xa, Thạch Nam, Sa Pa, Pháp, Đà Lạt, Ta, Tây, Nam Định, Vân Khôi, Việt, Hà Lan. Ví dụ: hoa nhài Nhật, hoa hồng Pháp, hoa hồng Đà Lạt, hoa hồng Sa Pa, hoa huệ tây, hoa hồng bạch xếp Nam Định v.v. Đây là những loại hoa nổi tiếng của các địa phương nên lấy tên địa phương để đặt tên cho hoa nhằm phân biệt hoa vùng này với vùng khác. Mỗi vùng có loài hoa đặc trưng riêng phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng nơi đó mà hoa nơi khác không có được.

61

7. Tên hoa + đặc điểm hương vị Có 15/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 6,5%), dấu hiệu định danh được nhận dạng dựa vào hương vị của hoa được con người tri

nhận thông qua khứu giác, vị giác. Có 3 đặc điểm hương vị được dùng để định danh các loài hoa: hôi, hương, thơm.

Ví dụ: hoa mộc hương (hoa có mùi rất thơm thường dùng để ướp chè và

thuốc lá), hoa lan dạ hương (hoa có hương thơm), hoa hoắc hương (hoa có mùi

thơm hắc, dùng làm thuốc), hoa oải hương (hoa có mùi thơm dùng để chiết xuất

dầu), hoa cúc hôi tím (hoa cúc có mùi hôi), hoa lan giáng hương thơm v.v.

8. Tên hoa + đặc điểm thời gian

Có 9/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 3,9%), dấu

hiệu định danh được nhận dạng dựa vào thời gian hoa nở, sinh trưởng hoặc

tỏa hương. Có 8 đặc điểm thời gian được dùng để định danh các loài hoa:

bách nhật, bất tử/bất tuyệt, mười giờ, phù dung, rạng đông, trường sinh, vạn

thọ, dạ hương. Ví dụ:

Thời gian sinh trưởng của hoa: hoa phù dung (hoa có thời gian sinh

trưởng rất ngắn, sáng nở tối tàn), hoa cúc bất tử (hoa có thời gian nở kéo dài,

khi hoa tàn khô vẫn giữ được hình dạng của hoa), hoa cúc bách nhật (hoa có

thời gian nở kéo dài, có thể đến 100 ngày mới tàn) v.v.

Thời gian hoa nở hoặc tỏa hương: hoa mười giờ (hoa nở lúc 10 giờ

sáng), hoa rạng đông (hoa ưa ánh sáng, nếu ở dưới nhiều ánh sáng mặt trời

hoa sẽ nở và nở nhiều), hoa dạ hương (hoa tỏa hương thơm vào ban đêm) v.v.

9. Tên hoa + đặc điểm cấu tạo

Có 36/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 16%), dấu

hiệu định danh được nhận dạng dựa vào đặc điểm cấu tạo của loài hoa. Có 13

đặc điểm cấu tạo của hoa được sử dụng để định danh các loài hoa: giấy, dây

leo, tỉ muội, hướng dương, cẩm báo, nhị độ (hai lần), mai cúc, xấu hổ, lan

huệ, cánh kép, chỉ thiên, mốc, đá/sinh thạch.

Ví dụ: hoa giấy (hoa có cấu tạo cánh mỏng như giấy), hoa hướng

dương (có cấu tạo khi nở hướng về phía mặt trời), hoa nhị độ mai (có đặc

điểm cấu tạo nở hai lần), hoa cúc mốc (hoa có cấu tạo những chiếc lá có

62

những đốm mốc), hoa xấu hổ (hoa và lá sẽ cụp xuống khi có người hay vật gì

chạm vào như cô gái bẽn lẽn xấu hổ), hoa mai cúc (hoa mai nhưng có hình

thức/ cấu tạo giống như hoa cúc), hoa lan cẩm báo (hoa lan có cấu tạo gồm

các đốm, vệt đỏ nâu giống như đốm trên da của con báo), v.v.

10. Tên hoa + nguồn gốc môi trường sống

Có 10/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 4,3%), dấu

hiệu định danh được nhận dạng dựa vào môi trường sống và sinh trưởng của

hoa. Môi trường sống của hoa gồm môi trường chính là trên cạn (đất), trong

không khí và dưới nước. Có 6 loại hình môi trường sống của hoa được sử

dụng để định danh: địa (đất), rừng, cạn, phong, bán địa, đồng nội.

Ví dụ: hoa sam đất, hoa sen cạn (hoa sen được trồng trên cạn để phân

biệt với hoa sen trồng dưới nước), hoa địa lan (địa là đất, hoa lan được trồng

ở đất), hoa đồng nội (hoa được trồng ở những vùng đồng quê), hoa đào rừng

(hoa đào sinh sống ở trên rừng, mọc tự nhiên, không chịu tác động của con

người), hoa phong lan (hoa lan sống trong môi trường không khí), hoa bán

địa lan (hoa lan có thể sống trong cả môi trường không khí và trong đất) v.v.

11. Tên hoa + kích cỡ

Có 6/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 2,6%), dấu

hiệu định danh được nhận dạng dựa vào kích cỡ của hoa như: đại (to), lùn,

baby (nhỏ), tiểu (nhỏ)

Ví dụ: hoa hoàng lan lùn (loài hoa hoàng lan dạng bụi thấp để phân

biệt với hoa hoàng lan cây cao to), hoa hồng baby, (hoa hồng có bông hoa

nhỏ mọc thành cụm), hoa cúc đại đóa (loại hoa cúc có bông nở xòe to, phân

biệt với các hoa cúc nhỏ), hoa hồng tiểu muội, v.v.

12. Tên hoa + vai trò trong y học

Có 12/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 5,2%), dấu

hiệu định danh được nhận dạng dựa vào vai trò của hoa trong y học như: bạc

hà, thuốc phiện, thuốc bỏng, bạch hạc,…

Ví dụ: hoa anh túc / thuốc phiện (hoa được sử dụng để sản xuất thuốc),

hoa bạc hà (hoa được chiết xuất để lấy tinh dầu bạc hà dùng trong y học, chế

63

xuất thuốc), hoa thuốc bỏng (hoa có lá dùng để đắp lên vết bỏng), v.v.

13. Tên hoa + các đặc tính khác

Ví dụ: hoa cúc dại (loài hoa cúc mọc tự nhiên, không chịu sự tác động

Có 6/231 tên hoa được định danh theo mô hình này (chiếm 2,6%), dấu hiệu định danh được nhận dạng dựa vào đặc tín của hoa, trong tiếng Việt chủ yếu dựa vào đặc tính không được thuần dưỡng của con người)

2.2.4. Các biến thể tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt 2.2.4.1. Biến thể tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh Trong quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi nhận thấy tiếng Anh có hiện tượng chọn những đặc trưng khác nhau để gọi tên cùng một loài hoa, do đó có hiện tượng đồng nghĩa hay còn gọi là biến thể tên gọi các loài hoa (biến thể định danh). Nói cách khác đó là hiện tượng một loài hoa có nhiều tên gọi khác nhau. Ví dụ:

64

White Lily = hoa loa kèn trắng (màu sắc) hoặc French Lily = hoa loa kèn Pháp (nguồn gốc) hoặc St Joseph’s Lily = hoa loa kèn của Thánh Joseph (văn hóa) Rounded noon flower = hoa tí ngọ tròn (hình dạng) hoặc Jack – go – to – bed – at – noon (thời gian hoa nở) hoặc showy goat’s beard = hoa râu dê nhiều màu (hình dạng) Trong tiếng Anh, biến thể tên gọi hoa ít được bắt nguồn từ con đường vay mượn từ vựng mà chủ yếu thông qua sự khác biệt về cách tri nhận các loài hoa. Với cùng một loài hoa, người Anh gọi tên hay định danh nó dựa trên nơi sinh trưởng, nguồn gốc hay màu sắc của nó. Ngoài ra, cùng một loài hoa, người Anh còn có xu hướng kết hợp gọi tên hoa dựa trên hình dạng của chính nó, dựa trên tên người (tên họa sĩ, tên các vị thần, tên các nhà thực vật học…), dựa trên đặc tính của hoa, dựa trên thời gian nở của hoa cùng với màu sắc của nó. Chúng tôi thu thập được 37 trường hợp biến thể tên gọi hoa trong tiếng Anh, trong đó tên hoa có 1 biến thể tên gọi là 23/37 (62,1%); tên hoa có hai biến thể tên gọi là 8/37 (21,6%); tên hoa có ba biến thể tên gọi là 5/37 (13,5%) và tên hoa có bốn biến thể tên gọi chỉ có 1/37 (2,7%).

+ Các tên hoa có một biến thể tên gọi: Sea thrift = Sea – pink (hoa thạch ung dung biển) được gọi tên dựa trên nơi sinh trưởng của nó gần biển (grow by the sea) và theo màu sắc (bright pink flowers).

Aster = Starwort (hoa cúc tây = hoa sao), Aster được định danh theo họ “hoa cúc”, còn bản thân từ aster bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại nghĩa là “Star” (ngôi sao) dùng để chỉ hình dạng của bông hoa nên loài hoa này còn có thêm tên khác là “Starwort”.

Evening primrose (hoa anh thảo muộn) = evening star (hoa sao muộn) = suncups (hoa ly mặt trời) được định danh theo thời gian hoa nở vào buổi tối và hình dạng của hoa giống như chiếc ly có màu vàng như màu mặt trời.

Morina (hoa morina) = Whorl flower (hoa vòng) được gọi tên theo nhà vật lý học và thực vật học người Pháp Morina và theo hình dạng hoa nở thành các vòng tròn “whorls”.

+ Các tên hoa có hai biến thể tên gọi: French Lily = White Lily = Joseph’s Lily (hoa loa kèn pháp = hoa loa kèn trắng = hoa loa kèn của thánh Joseph) được gọi tên dựa trên nguồn gốc xuất xứ, dựa trên màu sắc hay dựa trên ý nghĩa tôn giáo – hoa được sử dụng như một biểu tượng của thánh.

Prairie smoke (hoa khói thảo nguyên) = three - flowered avens (hoa

thủy dương mai 3 hoa) = old man’s whiskers (hoa râu ông già) được định

danh dựa trên đặc điểm sinh trưởng của hoa là các nhụy hoa ở giữa bông hoa

phát thành đầu hạt có lông dài mờ hướng lên trên giống như khói màu hoa cà,

do đó có tên là khói thảo nguyên. Do hoa mọc luôn có 3 cụm đi cùng nhau

nên gọi là “hoa dương mai 3 hoa” (three – flowered) và hoa có nhiều lông

trông như râu ông già nên thêm tên gọi “hoa râu ông già”.

Pussytoes (hoa đuôi sóc) = cat’s foot (hoa chân mèo) = everlasting (hoa

cúc trường sinh / hoa cúc bất tử) được gọi tên căn cứ trên hình dạng của hoa

giống với hai bộ phận của hai loài vật khác nhau (cành hoa nở giống như đuôi

con sóc và những bông hoa nhỏ chụm lại như đầu ngón chân của con mèo) và

loài hoa này còn được đặt tên theo đặc tính hoa nở “hoa trường sinh” nghĩa

là hoa vẫn giữ được hình dáng và màu sắc rất lâu kể cả khi hoa đã chết (they

65

can be made to keep their shape and colour long after they are dead)

Dogbane (hoa bả chó, loài hoa nhiệt đới thuộc họ dừa cạn) = Indian

hemp (hoa dầu gai Ấn Độ) = wild cotton (hoa sợi / bông dại), tên khoa học

của loài hoa này là Apocynum cannabinum, Apocynum có nghĩa là “độc cho

chó” nên tên của nó dogbane (hoa bả chó) bắt nguồn từ đặc tính độc của cây

hoa. Tên gọi “Indian hemp” (hoa dầu gai Ấn độ) dựa trên nguồn gốc và do nó

tương đồng với “cannabis” như một cây sợi nên nó có thêm tên gọi “wild

cotton” (hoa sợi / bông dại).

Harebell (hoa chuông) = Blue Bells of Scotland (hoa chuông xanh

Xcốtlen) = Rounded – leaved bellflower (hoa chuông lá tròn) được định danh

dựa trên cơ sở hình dạng của hoa giống hình chiếc chuông (bell). Ngoài ra,

loài hoa này còn được định danh dựa trên nguồn gốc xuất xứ Xcốtlen và dựa

trên hình dạng của lá có hình tròn (rounded – leaved bellflower).

+ Các tên hoa có ba biến thể tên gọi: Dianthus (hoa cẩm chướng) = Flower of the Gods (hoa của chúa) = carnation (hoa cẩm chướng) = Sweet William được định danh bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “dios” nghĩa là “Chúa” và “anthus” nghĩa là “hoa”, vì vậy có thêm tên gọi “hoa của chúa”. Loài hoa có thêm tên gọi carnation do thuộc họ cẩm chướng “carnation” còn tên gọi Sweet William thì không rõ lý do (unknown name).

Pin cherry (hoa anh đào ống) = fire cherry (hoa anh đào lửa) = wild red cherry (hoa anh đào đỏ dại) = bird cherry (hoa anh dào chim) được gọi tên dựa trên hình dạng ống “pin” và màu sắc của quả màu đỏ “fire” và red”, ngoài ra có thể do hạt của loài hoa này được phân tán bởi các con chim và con vật nhỏ nên nó có thêm tên gọi “bird cherry”.

Như vậy, có thể thấy biến thể tên gọi hoa (từ đồng nghĩa chỉ tên hoa) trong tiếng Anh cũng khá đa dạng. Cùng một loài hoa có thể có nhiều cách định danh hay tên gọi khác nhau để đáp ứng nhu cầu gọi tên của chúng. Phần lớn các biến thể tên gọi đều dựa vào hình thái bên trong của hoa như hình dạng, màu sắc, thời gian và đặc tính của hoa. Ngoài ra, chúng cũng được gọi tên dựa vào nơi sinh trưởng (môi trường sống) hay nguồn gốc xuất xứ của chúng. 2.2.4.2. Biến thể tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt

66

Khảo sát tên gọi hoa trong tiếng Việt, chúng tôi cũng nhận thấy các biến thể định danh hoa bắt nguồn chủ yếu từ việc vay mượn từ vựng của các

ngôn ngữ khác, từ các phương ngữ và từ sự tri nhận khác nhau về hoa. Số lượng từ chỉ hoa được vay mượn khá nhiều từ tiếng Hán tạo thành các từ Hán Việt và vay mượn từ tiếng Pháp dẫn đến hiện tượng đồng nghĩa hay biến thể tên gọi chỉ hoa. Bên cạnh phương thức vay mượn để tạo ra những biến thể tên gọi hoa, trong tiếng Việt còn xuất hiện những từ đồng nghĩa chỉ tên hoa bắt nguồn từ phương ngữ được sử dụng khác nhau giữa các vùng miền, đặc biệt giữa 3 miền Bắc, Trung và Nam. Ví dụ:

Hoa bèo lục bình (hình thức sự vật khác) – bèo Nhật bản (nguồn gốc) – bèo tây (nguồn gốc) Hoa trinh nữ (biểu trưng) - hoa xấu hổ (đặc điểm) Hoa ngũ sắc (màu sắc) – hoa cứt lợn (phương ngữ miền Bắc) Hoa mõm chó – hoa mép dê – hoa mõm sói (ba bộ phận của ba động vật khác nhau) Hoa hoàng lan lùn (hình thức/ cấu tạo) – hoa giẻ (phương ngữ miền Bắc) Các biến thể tên gọi hoa trong tiếng Việt cũng dựa trên cơ sở hình thái bên trong của hoa đó là màu sắc, hình dạng, thời gian, đặc tính của hoa cộng với một số yếu tố như nguồn gốc, môi trường sống v.v. Chúng tôi thu thập được 82 trường hợp biến thể tên gọi hoa trong tiếng Việt, trong đó tên hoa có một biến thể tên gọi là 52/83 (62,6%); tên hoa có hai biến thể tên gọi là 21/83 (25,3%); tên hoa có ba biến thể tên gọi là 4/83 (4,8%) và tên hoa có bốn biến thể tên gọi chỉ có 5/83 (6,0%).

* Các loài hoa có một biến thể tên gọi:

Hoa cúc bạch (tên gọi Hán Việt) = hoa cúc trắng (tên gọi thuần Việt); hoa hồng bạch (tên gọi Hán Việt) = hoa hồng trắng (tên gọi thuần Việt) được định danh dựa trên màu sắc của hoa.

Hoa lay ơn (tên gọi phiên âm từ tiếng Pháp) = hoa rơn (cách nói rút gọn của người Việt) đây là cách gọi tắt, nói tắt vốn rất hay được người Việt sử dụng. Hoa forger – me – not (xin đừng quên em) (tên gọi được dịch nghĩa từ tên hoa) = hoa lưu ly (từ Hán Việt) được định danh dựa vào sự tích của loài hoa.

67

Hoa lài ta (tên gọi ở các địa phương miền Nam) = nhài (tên gọi ở các địa phương miền Bắc) không biết được lý do tên gọi, nhài là sự biến âm từ gốc lài (l – nh).

Hoa bông bụp = hoa dâm bụp (tên gọi trong phương ngữ Nam Bộ) =

hoa râm bụt (tên gọi trong phương ngữ Bắc) không biết được lý do tên gọi.

Hoa cúc bách nhật (được gọi tên dựa trên thời gian nở kéo dài của hoa đến 100 ngày) = hoa cúc nút áo (tên gọi được dựa vào hình dạng của bông hoa giống như những chiếc nút áo).

Hoa cúc Đà Lạt (hoa được định danh dựa vào nguồn gốc xuất xứ của hoa ở vùng Đà Lạt) = hoa cúc bảy màu (tên hoa được dựa vào màu sắc của hoa, hoa có 7 màu).

Hoa trinh nữ (tên gọi Hán Việt) được định danh dựa trên họ của loài hoa

là trinh nữ = hoa xấu hổ định danh dựa trên đặc điểm tập tính của loài hoa.

Hoa bướm (từ thuần Việt) = hoa Păng xê (tên gọi phiên âm từ tiếng

Pháp) được định danh dựa trên hình dáng của hoa giống như hình con bướm. Hoa giấy (tên gọi phổ biến ở miền Bắc) = hoa dây móc diều (tên gọi trong phương ngữ Nam Bộ) được định danh dựa trên đặc điểm cấu tạo của hoa mỏng như giấy và đặc điểm dạng hoa dây leo. Hoa hoàng lan lùn (tên gọi chung được định danh dựa trên kích cỡ “lùn” để phân biệt với hoa hoàng lan thân cây cao, to) = hoa dẻ (tên gọi ở một số vùng quê miền Bắc), không giải thích được lý do tên gọi.

* Các loài hoa có hai biến thể tên gọi:

Hoa cúc mốc (tên gọi thuần Việt) = hoa cúc bạch (tên gọi Hán Việt) = hoa bạch phù dung (tên gọi Hán Việt) được định danh dựa trên đặc tính của lá, trên mặt lá có phủ lông tơ mịn màu trắng trông xa như những vết mốc nên có tên gọi “cúc mốc” và màu sắc của hoa “bạch” (trắng).

Hoa hồng tỉ muội (tên gọi Hán Việt) = hoa hồng tiểu muội (tên gọi Hán Việt) = hoa hồng nhài (tên gọi thuần Việt) được gọi tên dựa trên đặc điểm của hoa nở thành một cụm gồm có những bông hoa lớn và nhiều bông hoa nhỏ như chị em (tiểu muội) nên có tên hoa “hồng tiểu muội hay tỉ muội” và tên “hoa hồng nhài” dựa trên đặc điểm hoa mọc thành bụi và nở thành cụm giống như hoa nhài.

68

Hoa đại (tên gọi ở các địa phương miền bắc) = hoa sứ / bông sứ (tên gọi trong phương ngữ Nam Bộ) = hoa Chăm Pa (tên gọi gắn liền với người Chăm của Lào, là loài hoa mang ý nghĩa tâm linh của Lào).

Hoa mẫu đơn (tên gọi Hán Việt) = hoa đơn (tên gọi ở các địa phương miền Bắc) = hoa trang (tên gọi ở các địa phương miền Nam), hoa mẫu đơn được định danh theo ý nghĩa của loài hoa là mẹ (mẫu) của các loài hoa khác.

Hoa cúc nữ hoàng (được gọi tên theo giống hay họ của hoa thuộc “hoa cúc) = hoa liễu hồng = hoa liễu mai (tên gọi dựa trên hình dạng của lá có hình mũi giáo thuôn dài giống như lá liễu).

Hoa hồng tú cầu (được gọi tên dựa vào hình dạng hoa mọc trên đỉnh có hình cầu) = hoa pháo bông (tên gọi dựa vào hình dạng của những nhánh hoa màu đỏ chĩa ra ngoài bao hoa giống như những chùm pháo bông) = huyết hoa (tên gọi dựa vào màu sắc của hoa “màu đỏ”).

* Các loài hoa có ba biến thể tên gọi:

Hoa rạng đông (tên gọi dựa vào màu vàng cam tươi rói của hoa như mặt trời hừng đông) = hoa dây chùm ớt (được định danh do hình dạng của hoa dạng dây mọc giống như chùm ớt) = hoa lửa = hoa pháo trượng (gọi tên dựa vào màu sắc của hoa nở màu cam tươi rói như những đốm lửa rực rỡ).

Hoa dã quỳ (tên gọi Hán Việt) = cúc quỳ (được định danh theo học của loài hoa, thuộc họ cúc) = hướng dương dại (gọi tên dựa vào hình dạng màu sắc của hoa giống hoa hướng dương và đặc tính hoa không được thuần dưỡng) = hoa sơn quỳ (từ Hán Việt – định danh dựa vào nơi sinh trưởng).

Hoa sao nháy (được định danh dựa vào hình dạng bông hoa như ngôi sao) = hoa sao nhái (nhái là sự biến âm của nháy, “ai” – “ay”) = hoa chuồn chuồn (định danh dựa theo hình dạng cánh hoa như cánh con chuồn chuồn) = cúc cánh chuồn (tên gọi dựa trên họ của hoa thuộc họ cúc)

69

* Các loài hoa có bốn biến thể tên gọi: Hoa phượng (vĩ) (tên gọi ở các địa phương miền Bắc) = hoa điệp = hoa nắng (tên gọi trong phương ngữ Nam Bộ) = hoa kim phượng (tên gọi Hán Việt) = hoa xoan tây, loài hoa này được gọi tên dựa vào hình thức của hoa có nhị mọc thò ra ngoài như đuôi phượng “hoa phượng vĩ”; tên “hoa nắng” có thể được dựa vào thời điểm hoa nở mùa hè, có nhiều ánh nắng và “hoa xoan tây” được gọi dựa trên nguồn gốc nhập từ nước ngoài về Việt Nam. Hoa đăng = hoa lồng đèn (được gọi tên dựa trên hình dạng của hoa giống như chiếc lồng đèn) = hoa bông tai = hoa giọt nước (hình dạng hoa

mọc rủ xuống như hình chiếc hoa (bông) tai hay hình giọt nước) = hoa vân anh (không giải thích được lý do tên gọi). Hoa lan ý (gọi tên theo xuất xứ của hoa) = hoa bạch môn = hoa vỹ hoa trắng (gọi tên dựa vào màu sắc của hoa) = hoa buồm trắng (tên gọi dựa trên sự kết hợp của hình dạng hoa giống như cánh buồm và màu sắc của hoa “màu trắng”) = huệ hòa bình (không giải thích được lý do tên gọi)

Kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng những dấu hiệu đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh thường là những đặc trưng mang tính khách quan, nghĩa là những thuộc tính thuộc khách thể của chính loài hoa. Đó là những những đặc trưng thuộc hình thức bên ngoài hay thuộc tính bản thể của loài hoa đó. Vậy cách thức định danh tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt có gì giống và khác nhau?

2.2.5. Đối chiếu đặc trưng dùng để định danh tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

* Về mô hình định danh: Do sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ nên vị trí của các yếu tố trong mô hình định danh khác nhau. Trong tiếng Anh, mô hình có dạng: Các đặc điểm định danh + tên hoa, còn trong tiếng Việt mô hình đó có vị trí ngược lại: Tên hoa + các đặc điểm định danh. Tuy mô hình định danh trong hai ngôn ngữ có sự khác biệt về vị trí các yếu tố nhưng trong cả hai ngôn ngữ, yếu tố đặc trưng hay các đặc điểm được lựa chọn định danh lại có điểm tương đồng rõ nét đó là đều chủ yếu dựa vào: màu sắc, hình dạng, nguồn gốc, kích cỡ, mùi vị, cấu tạo và các đặc tính khác của hoa.

* Về các kiểu định danh:

Bảng 2.5: Bảng so sánh các kiểu định danh tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

STT

Ngôn ngữ Các kiểu định danh Số lượng Tiếng Anh Tỷ lệ

1 Định danh dựa vào màu sắc 2 Định danh theo hình dạng của sự vật 3 Định danh theo hình dạng bộ phận cơ thể con Tiếng Việt Tỉ Số lượng lệ 38/164 23,1 60/231 26 26/164 15,8 34/231 14,7 3,0 17/231 7,3 5/164

vật

4 Định danh theo hình dạng bộ phận cơ thể 7/164 4,3 4/231 1,7

70

người

1,8 4/231

5 Định danh theo hình dạng của con vật 6 Định danh dựa vào cấu tạo của hoa 7 Định danh theo nguồn gốc địa danh 8 Định danh theo nguồn gốc môi trường sống 9 Định danh theo đặc điểm hương vị 10 Định danh theo tên người 11 Định danh dựa vào thời gian 12 Định danh dựa vào kích cỡ 13 Định danh theo vai trò trong y học 14 Định danh dựa vào các đặc tính khác 1,7 3/164 13/164 7,9 36/231 16 18/164 10,1 18/231 7,8 11/164 6,7 10/231 4,3 13/164 7,9 15/231 6,5 0 10/164 6,1 0 3,9 12/164 3,4 9/231 6/231 0 2,6 12/231 5,2 0 2,6 6/231 4,9 0 0 8/164

Bảng so sánh trên cho thấy số lượng các kiểu định danh các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt khá tương đồng và gần nhau. Trong tiếng Anh có 12 kiểu định danh tên các loài hoa và trong tiếng Việt có 13. Số lượng các kiểu định danh các loài hoa có tính chất phổ quát trong 2 ngôn ngữ là giống nhau gồm có: định danh dựa vào hình dạng, màu sắc, môi trường sống, nguồn gốc, hương vị, cấu tạo và thời gian. Điều này phản ánh đặc điểm tư duy ngôn ngữ trong cách tri nhận định danh các loài hoa của người Anh và người Việt khá gần nhau. Khi tri giác để định danh các loài hoa, cả hai cộng đồng người Anh và Việt đều chú ý đầu tiên đến hai đặc trưng màu sắc và hình thức của hoa nên hai đặc trưng này đứng thứ hạng đầu tiên và thứ hạng thứ hai.

Tuy nhiên, cách định danh các loài hoa trong hai ngôn ngữ cũng có những điểm khác biệt. Người Anh chọn đặc trưng tên người để định danh cho chính loài hoa như tên họa sĩ đầu tiên vẽ loài hoa đó, tên tác giả viết giới thiệu về loài hoa, tên người anh hùng, tên nhà thực vật học hay nhà tự nhiên học mà hoàn toàn không thấy xuất hiện trong tiếng Việt. Sự khác biệt này là do hoa mang tên người thường là do các nhà sinh học, thực vật học tạo ra trong quá trình nghiên cứu, lai tạo, điều này phản ánh trình độ khoa học và kỹ thuật phát triển cao của nước Anh. Còn ở Việt Nam, vốn là nước nông nghiệp, thiên nhiên ưu đãi nên có nhiều loài hoa có tên gọi gắn bó với điều kiện sống của cư dân nông nghiệp (ví dụ: hoa cứt lợn, hoa mào gà, hoa mõm chó, hoa mép dê, hoa loa kèn, hoa vòi voi…).

71

Ngược lại, trong tiếng Việt có hai kiểu định danh dựa vào kích cỡ và vai trò trong y học của hoa thì lại không thấy xuất hiện trong tiếng Anh. Điều này là do Việt Nam là nước nông nghiệp, sự tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là y học chưa phát triển nên người dân có xu hướng chữa bệnh bằng các

loài hoa và cây cỏ trong dân gian. Vì vậy, đặc trưng vai trò trong y học của các loài hoa được người Việt lựa chọn để định danh hoa.

Về mặt số lượng tên các loài hoa trong các đặc trưng được lựa chọn để định danh trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng có sự khác nhau. Ví dụ: đặc trưng cấu tạo (tiếng Anh có 13 trong khi tiếng Việt có 36); hình dạng của sự vật (tiếng Anh 26 và tiếng Việt có số lượng là 34 đơn vị định danh) hay về hình dạng bộ phận cơ thể động vật (tiếng Anh có 5 trong khi tiếng Việt có đến 17 đơn vị).

Như vậy, ngoài những sự tương đồng thì cũng có những khác biệt về đặc điểm định danh các loài hoa trong tiếng Anh và Việt. Điều này cho thấy việc lựa chọn lý do đặt tên gọi loài hoa ở mỗi dân tộc có thể giải thích bằng đặc điểm lịch sử, tâm lý của dân tộc, phụ thuộc vào môi trường và điều kiện sinh sống của dân tộc đó, nghĩa là phụ thuộc vào các nhân tố ngoài ngôn ngữ. * Về các biểu hiện ngôn ngữ trong các kiểu định danh Trong phần này chúng tôi sẽ đi sâu phân tích và đối chiếu các biểu hiện bằng từ ngữ trong các kiểu định danh các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Chúng tôi sẽ chia thành các bảng nhỏ để thuận tiện cho việc đối chiếu.

STT Các kiểu định danh Tiếng Anh

Tiếng Việt

trắng/ bạch Vàng

Tần số xuất hiện 10 7

1

Màu sắc +tên hoa

10 8 3 1 2 1 7 2 3 5

Tần số xuất hiện 10 8 3 2 6 1 1 2 1 2 1 3 1

hồng / hồng phấn đỏ lửa/hỏa huyết nhung son môi tím / tím hoa cà bạc đen / huyền nhiều màu / bảy màu / ngũ sắc

0

White yellow golden Pink Red fire blood scarlet cardinal Purple Silver Black multi- coloured blue green

2 1 0

nâu / nhung xanh / cam

4 Trong việc lựa chọn đặc trưng màu sắc trong định danh hoa, cả người

Anh và người Việt đều chọn những sắc màu tiểu biểu, chủ đạo như vàng,

trắng và đỏ vì vậy, các màu sắc này xuất hiện với tần suất cao trong các tên

72

gọi hoa. Trong hai ngôn ngữ, màu đỏ được thể hiện qua nhiều từ đồng nghĩa

khác nhau. Ví dụ: trong tiếng Anh có red (màu đỏ) = fire (lửa) = blood

(huyết/máu) = scarlet (màu đỏ tươi) = cardinal (màu đỏ thắm) và trong tiếng

việt có đỏ = lửa/hỏa = huyết = nhung = son môi.

Tuy nhiên, về mặt số lượng các màu sắc dùng để định danh các loài hoa

thì trong tiếng Việt nhiều và đa dạng hơn do tiếng Việt vay mượn nhiều từ

đồng nghĩa từ tiếng Hán (ví dụ: trắng/ bạch; đen/huyền; nhiều màu/ngũ

sắc,…). Màu blue (xanh nước biển) và green (xanh lá cây) được sử dụng

nhiều để định danh hoa trong tiếng Anh nhưng xuất hiện rất ít trong tiếng Việt

do đó là loài hoa nhập khẩu từ nước ngoài, ngược lại màu nâu, nhung xanh,

cam có trong tiếng Việt Nhưng không có trong tiếng Anh. Ngoài ra, Màu

hồng (pink) và màu tím (purple) được sử dụng để định danh hoa xuất hiện với

tần suất cao hơn trong tiếng Việt và trong tiếng Việt còn có thêm khái niệm

chỉ màu sắc ‘hồng phấn’ và ‘tím hoa cà’.

STT

Tiếng Anh

Tiếng Việt

Các kiểu định danh

ngôi sao nút áo

2

Hình dạng của sự vật + tên hoa

Tần số xuất hiện 4 1 2 Hài 4 Chuông 1 Kèn 1 mặt trời 1 mâm xôi 1

Tần số Xuất hiện 4 1 4 3 1 1 1 1

Star Button Slipper Bell Trumpet Sun basket of gold Whorl / balloon / moon / umbrella / broom / cup / blanket / rag / snowdrop / ice

lục bình / pingpong / đồng tiền / kiếm / rẻ quạt / xác pháo / cầu / đăng =lồng đèn / bông tai / giọt nước / buồm / ngọc / pháo bông / tòa sen

73

Về biểu hiện ngôn ngữ trong kiểu định danh “hình dạng của sự vật + tên hoa”, các sự vật được sử dụng để định danh các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt có sự tương đồng nhiều như: hình dạng star (ngôi sao), button (nút áo), slipper (hài), bell (chuông), trumpet (kèn) và sun (mặt trời). Trong đó, hình dạng ngôi sao, hài và chuông có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong cả hai ngôn ngữ. Ngoài ra, các sự vật khác được sử dụng để định danh các

loài hoa trong hai ngôn ngữ cũng khá đa dạng, các biểu hiện ngôn ngữ thể hiện hình dạng trong tiếng Việt chiếm ưu thế hơn tiếng Anh. Trong tiếng Anh, có 10 hình dạng như whorl (vòng), balloon (bóng), moon (mặt trăng), umbrella (cái ô), broom (cái chổi), cup (cốc), blanket (chăn), snowdrop (giọt tuyết), ice (băng) được chọn để định danh các loài hoa, còn người việt có đến 16 hình dạng thường được sử dụng để gọi tên hoa như lục bình, mâm xôi, đồng tiền, kiếm, rẻ quạt, lồng đèn, xác pháo, đăng, cầu, tòa sen, bông tai, giọt nước, buồm, ngọc, pháo bông, v.v.

Do sự khác biệt về môi trường sống, đặc điểm khí hậu, thời tiết và thổ nhưỡng giữa hai nước nên có những loài hoa chỉ có ở vùng này mà lại không có ở vùng kia. Nước Anh có khí hậu lạnh giá có băng tuyết nên hình dạng giọt tuyết và băng được sử dụng để định danh hoa mọc trên tuyết, hoa xứ lạnh như: snowdrop (hoa giọt tuyết), ice plant (hoa băng) nhưng không có ở Việt Nam - có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Còn trong tiếng Việt, các dấu hiệu/đặc trưng được đưa vào định danh loài hoa là những sự vật quen thuộc, giản dị gắn liền với văn hóa phương đông nói chung và văn hóa Việt nam nói riêng đó là chiếc lục bình, tòa sen, xác pháo, lồng đen (đăng), quạt nan, v.v.

STT Các kiểu định danh

Tiếng Anh

Tiếng Việt

Tần số xuất hiện

/

1 móng rồng

/ xương

Tần số xuất hiện 1

3

snapdragon dragon’s head cat’s foot goat’s beard crane’s bill

Hình dạng bộ phận cơ thể con vật + tên hoa

rồng 1 râu mèo 1 mép dê 1

1 1 1

4

cánh mối / đuôi chồn / phượng vĩ / đuôi cáo / tai trâu / móng rùa / càng cua / mào gà / mõm chó / mõm sói / vòi voi Mắt

4 1 Môi / móng tay / lông

1 1

Eye Heart / ear / beard

5

Hình dạng bộ phận cơ thể người + tên hoa Hình dạng con vật + tên hoa

1 1 1

Butterfly Scorpion

mi 2 Bướm 1 Bọ cạp Hạc / én

74

75

Về kiểu định danh “hình dạng bộ phận cơ thể con vật + tên hoa”, các bộ phận của con vật có tần suất xuất hiện ngang nhau trong cả tiếng Anh và tiếng Việt. Người Anh và người Việt đều chọn bộ phận của các loài vật như rồng, mèo và dê để định danh các loài hoa nhưng lại sử dụng các bộ phận khác nhau, người Anh sử dụng các bộ phận mõm rồng, đầu rồng, chân mèo, râu dê thì người Việt chọn móng rồng, xương rồng, râu mèo và mép dê. Khi chọn bộ phận mồm/mõm của con vật để định danh cho cùng một loài hoa, người Anh chọn mõm rồng / mõm thỏ / mõm sư tử (snapdragon / snaplion) để định danh trong khi đó người Việt lại chọn mõm chó / mõm sói (hoa mõm chó / hoa mõm sói). Sự khác biệt này là do rồng là con vật linh thiêng, không có thật, là con vật xuất hiện nhiều trong văn học, phim ảnh, tín ngưỡng của người Anh. Còn với văn hóa Việt, con chó là con vật được gia chủ nuôi để canh nhà, là người bạn gần gũi, gắn bó từ xa xưa. Vì vậy, mỗi dân tộc sẽ có sự lựa chọn cùng một bộ phận nhưng của các con vật khác nhau trong định danh hoa. Ngoài ra, từ bảng thống kê có thể thấy, các bộ phận cơ thể của các con vật khác cũng được sử dụng để định danh tên các loài hoa trong hai ngôn ngữ Anh – Việt nhưng trong tiếng Anh chỉ có một bộ phận của con sếu – mỏ sếu (crane’s bill) được chọn, còn trong tiếng Việt chiếm số lượng nhiều và phong phú hơn (11 bộ phận) bao gồm cánh mối, đuôi chồn, phượng vĩ, đuôi cáo, tai trâu, móng rùa, càng cua, mào gà, mõm chó, mõm sói và vòi voi. Về kiểu định danh “bộ phận cơ thể người + tên hoa”, bộ phận “mắt” được cả người Anh và người Việt sử dụng để định danh hoa nhưng trong tiếng Anh, nó được sử dụng với tần suất nhiều hơn. Bên cạnh đó, còn có các bộ phận khác được chọn để gọi tên hoa nhưng chiếm tần suất ít hơn. Ví dụ, trong tiếng Anh có thêm các bộ phận trái tim (heart), tai (ear) và beard (râu quai nón), trong tiếng việt thì các bộ phận cơ thể người được chọn định danh hoa lại khác hoàn toàn so với tiếng Anh đó là môi, móng tay, lông mi. Về kiểu định danh “hình dạng con vật + tên hoa”, hình dạng của con bướm và bọ cạp được sử dụng để định danh hoa trong cả hai ngôn ngữ. Hạc và én chỉ xuất hiện trong định danh hoa trong tiếng Việt mà không có trong tiếng Anh bởi hai loài Vật này thường thích hợp với môi trường có

khí hậu ấm nhiệt đới và chim hạc gắn với những biểu tượng nhất định trong văn hóa Việt.

STT

Tiếng Anh

Tiếng Việt

Tần suất

6

Các kiểu định danh Nguồn gốc + tên hoa

Tần suất 4 1

1 Ta 1 Việt

/ Spanish / Iceland / Mexican

/ / /

7

Đặc điểm hương vị + tên hoa

12 1 2

8

Thời gian + tên hoa

Oriental English Indian Dutch Welsh Arctic Scented Sweet Mint Musk Honey Four o’ clock Evening Everlasting

Nhật / Pháp / Hà Lan / Trường Xa / Sa Pa / Thạch Nam / tây / Nam Định / Vân Khôi / Đà Lạt 5 Hương 4 Thơm 2 Hôi 1 1 1 Mười giờ 1 Dạ/tối 1 Bất tử/bất tuyệt trường sinh 2 Rạng đông 4 Xuân 2 Đông 1 Bách nhật (100 ngày) / phù

1 1 1 1 1 1 1 1

/ Christmas

/

Day Spring Winter Noon biennial

dung / vạn thọ

76

Bảng so sánh trên cho thấy sự khác biệt lớn về biểu hiện ngôn ngữ trong kiểu định danh “nguồn gốc + tên hoa” trong tiếng Anh và tiếng Việt. Nếu trong tiếng Anh nguồn gốc của các loài hoa xuất xứ từ các nước, các vùng miền khác nhau trên thế giới, rất cụ thể và rõ ràng như Indian (Ấn Độ), Dutch (Hà Lan), Spanish (Tây Ban Nha), v.v. thì trong tiếng Việt, hầu hết các địa danh về nguồn gốc nước ngoài của hoa được thể hiện ở từ “tây” (nghĩa là các loài hoa được nhập khẩu, bắt nguồn từ nước ngoài) như hoa huệ tây, cúc tây, lài tây, v.v. và các loài hoa có nguồn gốc trong nước được thể hiện ở từ “ta” hay “Việt” như hoa huệ ta, hoa lài ta, hoa lan hài Việt v.v. Điều này cho thấy sự khác biệt về văn hóa trong cách định danh hoa giữa hai cộng đồng người. Người Anh chú trọng đến sự chính xác, cụ thể trong cách định danh còn người Việt chú ý đến những yếu tố mang tính khái quát, chung chung.

Striped

2

Dây leo

12

Kiểu định danh “hương vị + tên hoa” và “thời gian + tên hoa”, có sự tương đồng rõ rệt ở các dấu hiệu/đặc trưng được lựa chọn để định danh hoa giữa hai cộng đồng người Anh và Việt. Về hương vị, trong hai ngôn ngữ từ “scented” (hương) có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong định danh hoa. Ngoài ra, trong tiếng Anh còn có thêm các từ chỉ hương vị của hoa như sweet (thơm), mint (bạc hà), musk (xạ hương), honey (mật ong) và trong tiếng Việt có thêm hai từ khác như “thơm” và “hôi”. Về thời gian, các biểu hiện từ ngữ trong hai ngôn ngữ thể hiện sự tương đồng khá rõ nét, cả tiếng Anh và tiếng Việt đều có biểu hiện từ ngữ về thời điểm cụ thể hoa nở như four o’clock (hoa 4 giờ), hoa nở theo buổi trong ngày evening (hoa nở tối), day (hoa nở ngày), noon (hoa nở trưa), hoa nở theo mùa spring (hoa nở mùa xuân), winter (hoa nở đông) và thời gian sinh trưởng của hoa everlasting (hoa bất tử), và trong tiếng việt cũng có các từ ngữ tương ứng như mười giờ (hoa nở lúc 10 giờ), dạ hương (nở buổi tối), xuân (hoa nở mùa xuân), bất tử = bất tuyệt = trường sinh (hoa nở dài ngày), bách nhật (hoa nở 100 ngày), phù dung (hoa nở thời gian ngắn, chóng tàn) v.v.

9

Đặc điểm cấu tạo

+ tên hoa

Thorn

2

Cánh kép

6

Moss / Tiger /

Giấy / tỉ muội /

catchfly / twin /

1

hướng dương / cẩm

1

three – flowered / bee / soap / bush

báo / nhị độ (nở hai lần) / mai cúc / xấu

hổ / lan huệ / chỉ

thiên / mốc / đá

(sinh thạch)

Địa (đất)

4

Sea

2

10 Môi trường sống +

tên hoa

Rừng

2

Rock

2

1

1

Cạn / phong / bán địa / đồng nội

Valley / water / swamp / river / marsh / meadow / mountain

4

7

Wild

dại

11 Các đặc tính khác

+ tên hoa

1

Forget – me – not 1

Lai

77

Về kiểu định danh “đặc điểm cấu tạo + tên hoa”, các biểu hiện ngôn ngữ về cấu tạo của hoa trong tiếng Việt có số lượng phong phú hơn tiếng Anh. Tuy nhiên, cả người Anh và người Việt khi định danh hoa đều chú ý đến đặc điểm cấu tạo của cánh hoa như striped carnation (cánh hoa có sọc kẻ), tiger lily (cánh hoa có đốm giống đốm con vật), hoa lan cẩm báo (hoa có đốm giống trên da con báo), hoa cúc mốc (hoa có lá màu như vệt mốc) hay số lượng bông hoa và cánh hoa như twin flower (hoa có 2 bông trên 1 cành), three-flowered (hoa có cụm 3 bông), hoa lài trâu cánh kép, hoa bông bụp kép, v.v. Ngoài ra, người Anh chú ý nhiều đến đặc điểm cấu tạo thể hiện chức

năng của hoa để định danh hơn người Việt. Ví dụ, trong tiếng Anh có tên loài

hoa catchfly (hoa bắt ruồi). Trong khi đó, người Việt chú ý đến đặc điểm cấu

tạo của hoa này giống với loài hoa khác mà trong tiếng Anh không có, ví dụ

hoa mai cúc (hoa mai nhưng trông giống hoa cúc), hoa lan huệ (hoa lan

nhưng trông giống hoa huệ), v.v.

Về kiểu định danh “môi trường sống của hoa + tên hoa”, người Anh lựa

chọn các dấu hiệu định danh về địa điểm, môi trường hoa sinh trưởng rất cụ

thể và chi tiết, có môi trường trên cạn là rock (vùng núi đá), valley (thung

lũng), mountain (vùng núi), meadow (vùng đồng cỏ) và môi trường sinh

trưởng của hoa dưới nước là water (nước), sea (biển), river (sông), marsh

(đầm lầy), swamp (đầm lầy). Còn người Việt lựa chọn các dấu hiệu chung

chung mang tính khái quát như môi trường trên cạn là địa (đất), cạn hay rừng,

hoàn toàn không thể hiện rõ địa điểm cụ thể và có thêm các biểu hiện chỉ môi

trường sống khác như bán địa, phong và đồng nội.

Về kiểu định danh “các đặc tính khác + hoa”, trong cả hai ngôn ngữ

đều xuất hiện biểu hiện ngôn ngữ chỉ đặc tính không được thuần dưỡng của

hoa wild (dại) như cúc dại, hồng dại, v.v. nghĩa là loài hoa mọc tự nhiên,

không được con người chăm sóc. Trong tiếng Anh còn có biểu hiện từ ngữ

“forget – me – not” để gọi tên loài hoa gắn với một câu chuyện tình lãng mạn

và tiếng Việt có từ ngữ “lai” nghĩa là loài hoa được lai tạo từ hai hoặc các

78

giống hoa có nguồn gốc khác nhau.

* Về biến thể định danh:

Tiếng Anh Tiếng Việt

Các loại biến thể tên gọi

Số lượng Tần suất Tỷ lệ % Số lượng Tần suất Tỷ lệ %

23/37 61,2% 52/83 62,6%

Tên hoa có một biến thể

8/37 21,6% 21/83 25,3%

83 37 Tên hoa có hai biến thể

5/37 13,5% 4/83 4,8%

Tên hoa có ba biến thể

1/37 2,7% 5/83 6,0%

Tên hoa có 4 biến thể

Từ bảng thống kê trên có thể thấy, trong tiếng Anh và tiếng Việt đều có hiện tượng một loài hoa có nhiều tên gọi khác nhau, tên hoa có một biến thể chiếm số lượng cao nhất trong cả hai ngôn ngữ (61,2% và 62,6%) và thứ hai là tên hoa có hai biến thể tên gọi (21,6% và 25,3%), còn tên hoa có ba và bốn biến thể tên gọi có số lượng rất hạn chế. Những tên gọi này tuy chỉ cùng một loài hoa nhưng lại lựa chọn những đặc điểm khác nhau để định danh đã tạo nên những biến thể từ vựng phong phú. Việc có nhiều tên gọi khác nhau cho cùng một loại hoa phản ánh sự phong phú trong nhận thức của con người về thế giới khách quan nói chung, về các loài hoa nói riêng trong từng cộng đồng người.

Tiếng Anh và tiếng Việt đều có những sự tương đồng về những đặc trưng lựa chọn để định danh hoa tạo ra các biến thể từ vựng như định danh dựa vào hình thức hoa, màu sắc, nguồn gốc, đặc tính, môi trường sống của hoa.v.v.

79

Tuy nhiên, các biến thể tên hoa trong tiếng Việt đa dạng phong phú hơn trong tiếng Anh (theo thống kê trong tổng số các từ ngữ chỉ hoa tiếng Việt có đến 87 trường hợp xuất hiện biến thể tên gọi hoa, trong khi tiếng Anh chỉ có 37) bởi có sự vay mượn từ vựng từ các ngôn ngữ khác, đặc biệt là các từ Hán Việt và từ tiếng Pháp. Ngoài ra, phương ngữ trong tiếng Việt cũng khá phong phú, nên với cùng một loài hoa nhưng ở mỗi vùng lại xuất hiện những tên gọi khác nhau.

Thứ nhất, ý nghĩa của mỗi đơn vị thuộc một cấp độ nhất định của cấu trúc

Thứ hai, toàn bộ thành phần từ vựng của ngôn ngữ có thể được miêu tả

2.3. Đặc điểm ngữ nghĩa từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt Chúng tôi ứng dụng phương pháp phân tích thành tố (componential analysis) để phân giải những lời định nghĩa từ điển của các từ ngữ chỉ hoa ra thành các nét nghĩa thể hiện những đặc trưng cơ bản của đối tượng được biểu thị. Đối tượng được phân tích gồm 146 mục từ là tên các loài hoa trong từ điển giải thích tiếng Anh và 167 mục từ là tên gọi các loài hoa trong từ điển giải thích tiếng Việt. Trong số nhiều phương pháp được sử dụng trong ngữ nghĩa học hiện đại thì phương pháp phân tích thành tố nghĩa được xem là một trong những phương pháp có hiệu quả nhất và được phổ biến rộng rãi nhất. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu các bình diện nội dung của các đơn vị từ vựng. Mục đích của phương pháp này là nghiên cứu ý nghĩa ngôn ngữ. Phương pháp này ít nhất được đặt cơ sở trên hai giả định sau đây: ngôn ngữ (ở đây ta thường nói về từ) bao gồm một bộ các dấu hiệu ngữ nghĩa. nhờ một số lượng có hạn, tương đối không lớn lắm các đơn vị này. Vì là một thực thể tinh thần trừu tượng nên “nghĩa có trong mình một đặc trưng quan trọng là phi tuyến tính” [31,tr.105]. Vì thế, khi nghiên cứu về nghĩa, người ta thường hình dung nghĩa của từ với tư cách là một cấu trúc. Khi phân tích và giải thích nghĩa, người ta thường hình dung và cố định nghĩa từ như một cấu trúc, trong đó có những thành tố nghĩa lớn nhỏ khác nhau và chúng được sắp xếp theo những tôn ti xác định. Nghĩa của từ, vì vậy, có thể chia ra thành các bộ phận hợp thành, nghĩa có thể biến đổi và phát triển. Những thành tố lớn nhỏ khác nhau này chính là các nghĩa vị (sememe)

và các nét nghĩa (semantic feature). Nét nghĩa là thành tố nghĩa nhỏ nhất

không thể chia cắt được nữa, nó giống như nét khu biệt của âm vị học. Nghĩa

vị chính là những “nghĩa được thừa nhận cương vị” [74,tr.70]. trong hệ thống

ngữ nghĩa của ngôn ngữ. Tập hợp các nghĩa vị (các nghĩa khác nhau của từ)

80

được gọi là ý nghĩa (meaning) của từ.

2.3.1. Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh

Sau khi khảo sát và phân tích 146 định nghĩa tên gọi các loài hoa trong

từ điển giải thích tiếng Anh, chúng tôi nhận thấy cấu trúc lời giải thích mỗi

tên gọi hoa gồm nét nghĩa chỉ loại và các nét nghĩa chỉ những đặc trưng khu

biệt của các loài hoa. Các nét nghĩa được chúng tôi thống kê trong lời định

nghĩa từ điển của các tên gọi hoa tiếng Anh như sau:

1. Nét nghĩa chỉ loại (classification seme)

Nét nghĩa này xuất hiện trong 138/146 định nghĩa các loài hoa (chiếm

94,5%). Nét nghĩa phạm trù này gần như xuất hiện trong hầu hết các định nghĩa

được phân tích bao gồm các từ chỉ loại như plant (cây), garden plant (cây trồng

trong vườn), bush (cây bụi), climbing plant (cây leo), flower (hoa)…

Ví dụ:

Aster or starwort: A garden plant that has pink, purple, blue or white

flowers with many long narrow petals. [Một loại cây trong vườn có hoa màu

hồng, tím, xanh hoặc trắng với nhiều cánh hoa hẹp dài].

Azalea: A plant or bush with large flowers that may be pink, purple,

white or yellow, grown in a pot or in a garden. [Một cây hoặc bụi cây có hoa

lớn có thể có màu hồng, tím, trắng hoặc vàng, được trồng trong chậu hoặc

trong vườn].

Bluebell: A garden or wild flower with a short stem and small blue or white

shaped like bells. [Một loài hoa dại hoặc trồng trong vườn với thân ngắn và hoa

nhỏ màu xanh hoặc trắng có hình giống như những chiếc chuông]

2. Nét nghĩa màu sắc

Nét nghĩa này xuất hiện trong 130/146 định nghĩa các loài hoa (chiếm 89%), bao gồm các từ chỉ màu sắc như red (đỏ), scarlet (đỏ tươi), white (trắng), pink (hồng), purple (tím), yellow (vàng)….

81

Ví dụ: Mallow: A plant with stems covered with small hairs and pink, purple or white flowers. [Một cây có thân phủ đầy lông nhỏ và hoa màu hồng, tím hoặc trắng.]

Gardenia: A bush with shiny leaves and large white or yellow flowers with a sweet smell,…[ Một bụi cây có lá sáng bóng và những bông hoa lớn màu trắng hoặc vàng có mùi ngọt ngào,…]

Crocus: A small yellow, purple or white flower that appears in early spring.

[Một loại hoa nhỏ màu vàng, tím hoặc trắng xuất hiện vào đầu mùa xuân.] 3. Nét nghĩa nơi sinh trưởng (môi trường sống)

Nét nghĩa “nơi sinh trưởng” xuất hiện trong 64/146 định nghĩa các loài hoa (chiếm 43,8%), bao gồm các từ ngữ như grow in mountain (mọc ở vùng núi), tropical plant (cây nhiệt đới), on the surface of water (trên mặt nước)….

Ví dụ: Gentian: A small plant with bright blue flowers that grows in mountain

areas. [Một loại cây nhỏ có hoa màu xanh sáng mọc ở vùng núi.]

Hibiscus: A tropical plant or bush with large brightly coloured flowers.

[Một loại cây hoặc bụi cây nhiệt đới có hoa lớn rực rỡ.]

Water lily: A plant that floats on the surface of water, with large round flat leaves and white, yellow or pink flowers … [Một loại cây nổi trên mặt nước, với những chiếc lá to tròn phẳng và hoa màu trắng, vàng hoặc hồng.] 4. Nét nghĩa kích cỡ

Nét nghĩa chỉ “kích cỡ” xuất hiện trong 47/146 định nghĩa các loài hoa (chiếm 32,2%), bao gồm các từ ngữ như: large (to), small (nhỏ), tall (cao), long (dài)… Ví dụ: Begonia: A plant with large shiny flowers that may be pink, red, yellow or white….[ Một cây có hoa lớn sáng bóng có thể có màu hồng, đỏ, vàng hoặc trắng..] Broom: A wild bush with small yellow flowers. [Một bụi cây dại với những bông hoa nhỏ màu vàng.]

Chrysanthemum: A large, brightly coloured garden flower that is shaped like a ball….[ Một loại hoa trồng ở vườn lớn, rực rỡ có hình dạng như một quả bóng…]

82

Daffodil: A tall yellow spring flower shaped liked a trumpet. It is a national symbol of Wales. [Một loại hoa mùa xuân màu vàng cao có hình dạng cây kèn. Nó là một biểu tượng quốc gia của xứ Wales.]

5. Nét nghĩa hình thức/ cấu tạo

Nét nghĩa “hình thức/cấu tạo” xuất hiện trong 31/146 định nghĩa các loài hoa (chiếm 21,2%), bao gồm các từ ngữ như: shaped like a trumpet (có hình dạng chiếc kèn), shape of cone (có hình nón), open and shut like a mouth (nở ra cụp vào như hình miệng người)….

Ví dụ: Amaryllis: a tall, white, pink or red flower shaped like a TRUMPET. [

Một loại hoa cao có màu trắng, hồng hoặc đỏ giống như một chiếc kèn].

Purple lilac: A bush or small tree with purple or white flowers with a sweet smell that grow closely together in the shape of cone. [Một cây bụi hoặc cây nhỏ có hoa màu tím hoặc trắng có mùi ngọt ngào mọc gần nhau theo hình nón].

Snapdragon: A small garden plant with with red, white, yellow or pink flowers that open and shut like a mouth when squeezed. [Một vườn cây nhỏ với những bông hoa màu đỏ, trắng, vàng hoặc hồng mở ra và đóng lại như miệng khi chuyển động]. 6. Nét nghĩa mùi hương

Nét nghĩa “mùi hương” xuất hiện trong 31/146 định nghĩa các loài hoa (chiếm 21,2%), bao gồm các từ ngữ như: sweet smell (mùi thơm ngọt ngào), strong pleasant smell (mùi hương mạnh dễ chịu), sweet-scented (thơm ngọt ngào) v.v.

Ví dụ: Cowslip: A small wild plant with yellow flowers with a sweet smell.

[Một cây dại nhỏ có hoa màu vàng có mùi hương ngọt ngào.]

Scented geranium: A strong pleasant smell, Bright red in colour, a garden plant with a mass of red, pink or white flowers on the end of each stem. [Một mùi hương dễ chịu mạnh mẽ, màu đỏ tươi, một loại cây trong vườn với một khối hoa màu đỏ, hồng hoặc trắng ở cuối mỗi thân cây.]

83

Babianas: Charming, sweet-scented flowers, suitable for either pot cultivation or the border….[Hoa thơm quyến rũ, thích hợp cho việc trồng trong chậu hoặc biên giới, v.v]

7. Nét nghĩa thời gian

Nét nghĩa “thời gian” xuất hiện trong 9/146 định nghĩa các loài hoa (chiếm 6,2%). Nghĩa vị này bao gồm thời gian hoa nở hay hoa xuất hiện, các từ ngữ thể hiện nghĩa vị thời gian như: early spring (đầu xuân), autumn / fall (mùa thu), open in the evening (nở vào buổi tối)… Ví dụ:

Crocus: A small yellow, purple or white flower that appears in early Spring. [Một loài hoa nhỏ màu vàng, tím hoặc trắng xuất hiện vào đầu mùa xuân.] Michaelmas daisy: A plant that has blue, white, pink or purple flowers with dark centres, that appear in the autumn/ fall. [Một loại cây có hoa màu xanh, trắng, hồng hoặc tím với nhị màu đen, xuất hiện vào mùa thu.]

Evening primrose: A plant with yellow flowers that open in the

evening,… [Một cây có hoa màu vàng nở vào buổi tối,…..] 8. Nét nghĩa đặc tính khi nở

Nét nghĩa “đặc tính khi hoa nở” xuất hiện trong 7/146 định nghĩa các

loài hoa (chiếm 4,8%).

+ Nở thành nhóm, cụm: Yarrow: A plant with flat groups of many small white or pinkish flowers that have a strong smell. [Một loại cây gồm những cụm có nhiều hoa nhỏ màu trắng hoặc hồng có mùi nồng.]

Floribunda: A plant, especially a rose, with flowers that grow very close together in groups. [Một loại cây, đặc biệt là hoa hồng, có hoa mọc rất gần nhau theo cụm.]

Frangipani: A tropical American tree or bush with groups of white, pink, or yellow flowers. [Một loại cây nhiệt đới của Mỹ hoặc bụi cây với các cụm hoa màu trắng, hồng hoặc vàng.]

+ Nở thành chùm: Wisteria: A climbing plant with bunches of pale purple or white flowers that hang down. [Một cây leo với những chùm hoa màu tím nhạt hoặc trắng rủ xuống.]

Laburnum: A small tree with hanging bunches of yellow flowers. [Một

84

cây nhỏ với những chùm hoa màu vàng.] 9. Nét nghĩa đặc tính của bộ phận hoa

Nét nghĩa chỉ “đặc tính của bộ phận hoa” xuất hiện trong 6/146 định

nghĩa các loài hoa (chiếm 4,1%).

Cyclamen: A plant with pink, purple or white flowers that grow on long stems pointing downwards,…..[ Một cây có hoa màu hồng, tím hoặc trắng mọc trên thân dài hướng xuống dưới.]

Lily: A large white or brightly coloured flower with petals that curl back from the centre. [Một bông hoa lớn màu trắng hoặc rực rỡ với những cánh hoa cuộn lại từ trung tâm.]

Nét nghĩa “vai trò (trong đời sống)” xuất hiện trong 3/146 định nghĩa

Thistle: A wild plant with leaves with sharp points and purple, yellow or white flowers made up of a mass of narow petals pointing upwards.[ Một cây dại có lá nhọn và hoa màu tím, vàng hoặc trắng được tạo thành từ một khối cánh hoa nhỏ hướng lên trên.] 10. Nét nghĩa vai trò (trong đời sống) các loài hoa (chiếm 2%).

+ Để ướp chè và sản xuất nước hoa: Jasmine: A plant with white or yellow flowers with a sweet smell, sometimes used to make perfume and to flavour tea [Một loại cây có hoa màu trắng hoặc màu vàng có mùi ngọt ngào, đôi khi được sử dụng để làm nước hoa và hương vị trà.]

Camomile: A plant with a sweet smell and small white and yellow flowers. Its dried leaves and flowers are used to make tea,…. [Một loại cây có mùi ngọt ngào và những bông hoa nhỏ màu trắng và vàng. Lá và hoa khô của nó được dùng để pha trà,….] + Để làm salad Nasturtium: A garden plant with round flat leaves and red, orange or yellow flowers that are sometimes eaten in salads. [Một loại cây trong vườn với lá tròn phẳng và hoa màu đỏ, cam hoặc vàng đôi khi được ăn trong món salad.] 11. Nét nghĩa vai trò trong y học

Nét nghĩa vai trò trong y học xuất hiện trong 2/146 định nghĩa các loài

85

hoa (chiếm 1,4%). Ví dụ:

Evening primrose: A plant with yellow flowers that open in the evening, sometimes used as a medicine. [Một cây có hoa màu vàng nở vào buổi tối, đôi khi được sử dụng làm thuốc.]

Camomile: A plant with a sweet smell and small white and yellow flowers. Its dried leaves and flowers are used to make tea, medicine, etc. [Một loại cây có mùi ngọt ngào và những bông hoa nhỏ màu trắng và vàng. Lá và hoa khô của nó được sử dụng để pha trà, làm thuốc.]

Bảng 2.6: Bảng tổng kết thống kê các biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa trong tiếng Anh

STT

Nét nghĩa

%

Biểu hiện bằng ngôn ngữ / từ ngữ

Số lượng

1

138

94,5

Chỉ loại

2

Màu sắc

130

89

3

64

43,8

Nơi sinh trưởng (môi trường sống)

Plant Wild plant Garden plant Climbing plant Tropical plant Flower Wild flower Garden flower Bush Perennials Tree Pink/light pink Red Purple/pale purple Blue/light blue Yellow/bright yellow White Brightly coloured Orange Garden (plant/bush) Wild (plant/flower) African Damp surface Indoors Moist and shady situation Mountain Rock garden Tropical Sandy, well – drained soil Water surface Small

Tần số xuất hiện 30 13 14 11 5 22 12 15 6 5 5 39 20 35 6 48 38 15 2 35 10 1 2 3 2 1 2 6 1 1 21

86

STT

Nét nghĩa

%

Số lượng

Biểu hiện bằng ngôn ngữ / từ ngữ

4

47

Kích cỡ

32,2

5

31

thức/cấu

21,2

Hình tạo

Large Long Tall As high as 4 feet Large round Many sizes Ball Bell Cone Cup Trumpet Mouth Whorl Unusual shape Look like other flower

6

Mùi hương

31

21,2 Sweet smell

Fragrant Scented Sweet-scented Strong pleasant smell Strong flavor

7

9

Thời gian

6,2 Spring

Autmn/fall Evening

8

7

Đặc tính khi nở

4,8 Groups of flowers

Bunches of flowers

9

6

tính

bộ

4,1 Petals that curl back from the

Tần số xuất hiện 19 2 2 1 1 1 10 5 2 3 3 1 1 1 5 20 3 1 4 1 2 7 1 1 4 3 4 2

Đặc phận của hoa

centre A mass of narow petals pointing upwards

10

3

2 Make perfume and to flavour tea

11

2

Make salads 1,4 Used as a medicine

2 1 1 1

Vai trò trong đời sống Vai trò trong y học

Used to make medicine

2.3.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Việt

87

Kết quả phân tích 167 định nghĩa các mục từ là tên gọi các loài hoa trong tiếng Việt cho thấy cấu trúc lời giải thích mỗi tên gọi hoa gồm có nét nghĩa chỉ loại và và các nét nghĩa chỉ những đặc trưng khu biệt của các loài hoa. Chúng tôi đã thống kê các nét nghĩa trong lời định nghĩa từ điển của các tên gọi hoa trong tiếng Việt như sau: 1. Nét nghĩa chỉ loại

Nét nghĩa “chỉ loại” xuất hiện trong 165/167 định nghĩa các loài hoa (chiếm 98,8%). Nét nghĩa phạm trù này gần như xuất hiện trong tất cả các định nghĩa được phân tích bao gồm các từ chỉ loại như cây, cây bụi, cây dây leo…

Ví dụ: Cẩm chướng: cây thân cỏ, lá mọc đối, hoa đẹp và có nhiều cánh màu

trắng, đỏ, tím lẫn lộn trồng làm cảnh.

Bằng lăng: Cây to, tán dày, lá hình bầu dục, hoa màu tím hồng mọc thành cụm ở đầu cành, nở về mùa hè, gỗ có thể dùng đóng thuyền và đồ đạc thông thường

Dạ cầm: Cây bụi leo cùng họ với cà phê, cành có cạnh, lá thuôn, hoa nhỏ

màu trắng, mọc thành cụm đặc ở kẽ lá hay đầu cành, cành và lá dùng làm thuốc 2. Nét nghĩa màu sắc

Nét nghĩa “màu sắc” xuất hiện trong 106/167 định nghĩa các loài hoa (chiếm 63,4%), bao gồm các từ ngữ như: vàng, vãng sẫm, đỏ, đỏ hồng, tím, tím nhát, trắng…. Ví dụ: Hoa bồ công anh: Cây thân cỏ thuộc họ cúc, mọc hoang, hoa vàng, lá

hình mũi mác, dùng làm thuốc

Cúc vạn thọ: Cúc có hoa vàng sẫm, lá xẻ sâu thành thùy nhỏ, mùi hôi,

trồng làm cảnh

Hoa đào: Cây ăn quả hoặc làm cảnh, cùng họ với lê, mận, hoa màu đỏ

hồng, quả hình tim có lông mượt 3. Nét nghĩa nơi sinh trưởng (môi trường sống)

Nét nghĩa “nơi sinh trưởng (môi trường sống)” xuất hiện trong 14/167 định nghĩa các loài hoa (chiếm 8,4%), gồm các từ ngữ như: mọc ở đất, ở cạn, ở dưới nước, vùng nhiệt đới, ôn đới….

Ví dụ: Hoa mai anh đào: Cây to vùng ôn đới cùng họ với hoa hồng, quả to

bằng đầu ngón tay, vỏ nhẵn bóng, màu đỏ hoặc vàng nhạt, vị ngọt, hơi chua

Hoa địa lan: Tên gọi chung các loài lan sống ở đất, hoa có nhiều màu

sắc khác nhau, trồng làm cảnh

Hoa sen: Cây mọc ở nước, lá to tròn, hoa màu hồng hay trắng, nhị

88

vàng, hương thơm nhẹ, hạt dùng để ăn

4. Nét nghĩa kích cỡ

Nét nghĩa chỉ “kích cỡ của hoa” xuất hiện trong 28/167 định nghĩa các

loài hoa (chiếm 16,7%), gồm các từ ngữ như: hoa nhỏ, hoa to, dài….

Ví dụ: Hoa cúc trắng: Cúc có hoa nhỏ, màu trắng, trồng làm cảnh hoặc lấy

hoa để pha chè, ngâm rượu

Hoa dạ hương: Cây nhỡ, hoa nhỏ hình ống phễu dài, màu vàng nhạt,

tỏa hương thơm vào chiều tối, trồng làm cảnh

Hoa dâm bụt: Cây nhỡ, lá răng cưa, hoa to, nhị hoa dính liền nhau

thành một ống dài ở giữa, thường trồng làm cảnh hay làm hàng rào 5. Nét nghĩa hình thức/ cấu tạo

Nét nghĩa chỉ “hình thức cấu tạo của hoa” xuất hiện trong 27/167 định nghĩa các loài hoa (chiếm 16,2%), gồm các từ ngữ như: mào gà, mõm thú, móng rồng, móng tay….

Ví dụ: Hoa mào gà: Cây thân cỏ, lá nhỏ và dài, hoa hình giống như mào con

gà, màu đỏ, thường trồng làm cảnh

Hoa mõm chó: Cây thân cỏ, lá dài mọc đối, hoa tía, trắng hay vàng, có

tràng hình giống như mõm thú….

Hoa móng rồng: Cây leo cùng họ với na, lá dài, hoa vàng và thơm,

cuống hoa uốn cong lại như móng con rồng, thường trồng làm cảnh 6. Nét nghĩa mùi hương

Nét nghĩa “mùi hương” xuất hiện trong 35/167 định nghĩa các loài hoa (chiếm 20,9%), gồm các từ ngữ như: thơm dịu, thơm hắc, có mùi thơm, có hương thơm….

Ví dụ: Hoa sữa: Cây to, lá mọc vòng, hoa nở vào chiều tối, mùi thơm hắc, quả

dài như chiếc đũa, thường trồng lấy bóng mát

Hoa ngọc lan tây (hoàng lan): Cây to cùng họ với na, cành mảnh thõng

xuống, hoa màu lục vàng, mùi thơm, thường trồng làm cảnh

Hoa ngâu: Cây cùng họ với xoan, lá nhỏ, hoa lấm tấm từng chùm, màu

89

vàng, có hương thơm, thường dùng để ướp chè 7. Nét nghĩa thời gian

Nét nghĩa “thời gian” xuất hiện trong 12/167 định nghĩa các loài hoa

(chiếm 7,2%). Nét nghĩa này biểu thị thời gian sống của hoa và thời gian hoa nở.

Ví dụ: + Thời gian sống của hoa Hoa bách nhật: Cây trồng làm cảnh, cùng họ với rau rền, lá mềm mọc

đối, hoa màu tía, có thể đến một trăm ngày mới tàn.

Hoa phù dung: Cây trồng làm cảnh, cùng họ với cây bông, lá hình chân

vịt, hoa đẹp, nhưng rất chóng tàn,……

Hoa phi yến: Làm lòng người ngất ngây với dáng vẻ vừa tràn trề, đầy đặn vừa nhẹ nhàng, thanh thoát với các màu hồng, tím hoặc trắng. Tượng trưng cho cuộc sống sung túc, vững vàng, loài hoa này tươi rất lâu

+ Thời gian hoa nở: Hoa đỗ quyên: Cây nhỡ, lá thường tụ ở ngọn cành, hoa màu đỏ, đẹp, nở

vào dịp tết, thường trồng làm cảnh

Hoa mười giờ: Cây cảnh cùng họ với rau sam, thân bò, lá dây mập, hoa

màu tím hồng hoặc vàng, thường nở vào lúc 10 giờ sáng

Hoa quỳnh: Cây thuộc họ xương rồng, thân hình dẹt trông như lá, hoa

Nét nghĩa chỉ “đặc tính khi nở của hoa” xuất hiện trong 35/167 định

to, màu trắng, nở về đêm, thường trồng làm cảnh 8. Nét nghĩa đặc tính khi nở nghĩa các loài hoa (chiếm 20,9%). Ví dụ:

+ Nở thành cụm hoa: Hoa bạch đồng nữ: Cây nhỡ, lá mọc đối, to và có lông, hoa trắng, mọc

thành cụm dày ở ngọn, cành lá dùng làm thuốc

Hoa dạ cầm: Cây bụi leo cùng họ với cà phê, cành có cạnh, lá thuôn,

hoa nhỏ màu trắng, mọc thành cụm đặc ở kẽ lá hay đầu cành,…

Hoa hướng dương: Cây thân cỏ thuộc họ cúc, cụm hoa hình cầu rất to,

màu vàng, hướng về mặt trời, trồng lấy hạt để ăn hoặc ép dầu

+ Nở thành chùm hoa: Hoa đỉnh phượng hoàng: Mọc trên thân cây cao lớn, nở thành từng

chùm với màu đỏ và vàng sặc sỡ,…

Hoa huệ ta: Cây thân cỏ, hoa xếp thành một chùm dài, màu trắng và

90

thơm

Hoa phượng: Cây to cùng họ với cây vang, lá kép lông chim, hoa mọc

thành chùm, màu đỏ, nở vào mùa hè, thường trồng lấy bóng mát

+ Nở thành bông hoa: Hoa hoàng cầm: Cây thân cỏ cùng họ với bạc hà, lá hình mác hẹp, mọc

đối, hoa màu xanh tím, mọc thành bông ở đầu cành,…

Hao lay ơn (hoa rơn): Cây có thân hình củ như củ hành, lá hình gươm

xếp thành hai dãy, hoa to, đẹp, xếp dọc một trục dài thành bông

+ Nở dạng cánh hoa: Hoa hồng: Cây cảnh cỡ nhỏ, cùng họ với đào, mận, thân có gai, lá kép

có răng, hoa gồm nhiều cánh màu trắng, hồng hoặc đỏ, có hương thơm

Hoa cải trắng: Cây có hoa gồm bốn cánh xếp thành hình chữ thập, có

nhiều loài, thường được trồng làm rau ăn

Hoa lan: Cây cảnh, có nhiều loại, thân cỏ, lá thường dài và hẹp, cánh

hoa không đều, có loại có hương thơm + Hoa nở thay đổi màu sắc: Hoa kim ngân: Cây leo, cành màu đỏ, lá mọc đối, cả hai mặt lá đều có

lông mịn, khi mới nở hoa màu trắng, về sau ngả màu vàng, dùng làm thuốc

Hoa phù dung: Cây trồng làm cảnh, cùng họ với cây bông, lá hình chân vịt, hoa đẹp, nhưng rất chóng tàn, có màu sắc thay đổi theo thời gian (buổi sáng nở thì màu trắng, buổi trưa màu hồng, buổi chiều sắp tàn thì màu đỏ) 9. Nét nghĩa đặc tính của bộ phận hoa

Nét nghĩa chỉ “đặc tính của bộ phận hoa” xuất hiện trong 3/167 định

nghĩa các loài hoa (chiếm 1,8%).

Ví dụ : Hoa hồng nhung: (cánh hoa mượt như nhung): Hoa hồng lớn, cánh đỏ

Hoa dâm bụt: Cây nhỡ, lá răng cưa, hoa to, nhị hoa dính liền nhau

thắm, mượt như nhung thành một ống dài ở giữa, thường trồng làm cảnh hay làm hàng rào 10. Nét nghĩa vai trò trong cuộc sống

Nét nghĩa “vai trò/công dụng trong cuộc sống” xuất hiện trong 11/167

+ Ướp chè: hoa sói, hoa kim cúc, hoa nhài, hoa sen, hoa mộc (mộc

91

định nghĩa các loài hoa (chiếm 6,6%), bao gồm các vai trò sau: hương), hoa ngâu.

Hoa sói: Cây có hoa nhỏ và trắng như hạt gạo, có mùi thơm, thường

dùng để ướp chè.

Hoa nhài: Cây nhỡ, lá hình bầu dục dài, màu lục đậm và bóng, hoa

mọc thành cụm, màu trắng, rất thơm, nở về đêm, thường dùng để ướp chè

+ Rau ăn: hoa bồng bồng, hoa hiên Hoa hiên: Cây thân cỏ cùng họ với hành tỏi, hoa to hình phễu màu

vàng sẫm, dùng để ăn

Hoa bồng bồng: Cây nhỡ, lá có gân song song, hoa dùng làm rau ăn + Vai trò khác: hoa đinh hương (làm gia vị), hoa bạc hà (lấy dầu), hoa

cúc trắng (để pha trà, ngâm rượu)

Cúc trắng: Cúc có hoa nhỏ, màu trắng, trồng làm cảnh hoặc lấy hoa để

pha chè, ngâm rượu

Hoa bạc hà: Cây cùng họ với húng dũi, thân vuông, lá hình bầu dục

dài, hoa màu tím, lá và hoa dùng để cất tinh dầu… 11. Nét nghĩa vai trò trong y học

Nét nghĩa vai trò trong y học của hoa xuất hiện trong 9/167 định nghĩa

các loài hoa (chiếm 5,4%). Ví dụ :

Hoa bồ bồ: Cây thân cỏ thuộc họ hoa mõm chó, hoa tụ hình cầu, dùng

làm thuốc

Hoa cúc vàng: Cúc có hoa to màu vàng, trồng làm cảnh hay lấy hoa

làm thuốc

Hoa hòe: Cây to thuộc họ đậu, lá kép mọc cách, hoa nhỏ màu vàng hoặc trắng, quả thắt lại từng quãng trông như chuỗi tràng hạt, nụ hoa phơi khô dùng làm thuốc 12. Nét nghĩa vị trí, quan hệ họ hàng với các loài hoa khác

Nét nghĩa chỉ vị trí, quan hệ họ hàng với các loài hoa khác xuất hiện

trong 51/167 định nghĩa các loài hoa (chiếm 30%). Ví dụ:

Hoa trà: Cây cảnh cùng họ với chè, hoa đẹp màu trắng, hồng hay đỏ Hoa thủy tiên: Cây cảnh cùng họ với huệ, củ trắng và có nhiều rễ, hoa

có cuống dài, bao hoa màu trắng, rất thơm

Hoa thược dược: Cây cùng họ với cúc, lá to, mềm, có khía răng, hoa đẹp có

92

nhiều màu, mọc thành cụm và xòe to ở ngọn một cuống dài, trồng làm cảnh.

Bảng 2.7: Bảng tổng kết thống kê các biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa trong tiếng Việt

STT

Nét ghĩa

%

Biểu hiện bằng từ ngữ

Số lượng

1

Chỉ loại

165

98,8

2

Màu sắc

106

63,4

3

14

8,4

Nơi sinh trưởng (môi trường sống)

4

Kích cỡ

28

16,7

5

Hình thức/cấu tạo

27

16,2

Cây Cây bụi Cây dây leo Cây thân cỏ Cây cảnh Cây bụi leo Hoa Trắng / trắng ngà Đỏ Đỏ hồng / đỏ thắm / đỏ tía / đỏ tươi Hồng / hồng nhạt / hồng tím Tím / tím hồng Vàng/ Vàng nhạt / vàng nâu / vàng lục / vàng sẫm Xanh lam Ngũ sắc / nhiều màu Bờ rào Mặt nước Dưới nước Đất Xứ lạnh Rừng Trên cạn Trường Sa Vùng núi phía bắc Vùng ôn đới Nhỏ To Lớn Rất to Dài Dài và dày Lấm tấm Loa kèn Hình phễu Cánh bướm Chiếc hài Chữ thập Hình chuông Cò bay Đồng tiền Đuôi phượng Hình cốc

Tần số xuất hiện 36 23 15 34 49 5 3 30 18 5 11 9 25 1 7 1 1 1 1 1 2 2 1 2 2 8 12 2 1 3 1 1 4 3 1 1 3 3 1 1 1 1

93

STT

Nét ghĩa

%

Biểu hiện bằng từ ngữ

Số lượng

6

Mùi hương

35

20,9

7

Thời gian

12

7,2

8

Đặc tính khi nở

35

20,9

9

3

1,8

Đặc tính bộ phận của hoa

Hình môi Mâm xôi Mào gà Mõm thú Nan quạt Móng rồng Vòi voi Hướng về mặt trời Thơm Rất thơm Mùi thơm Mùi thơm hắc Hương thơm Hương rất thơm Hương thơm nhẹ Hương thơm nồng Không thơm Nở quanh năm Nở vào chiều tối Nở vào đêm Nở vào dịp tết Nở vào 10h sáng Nở vào mùa hè 100 ngày mới tàn Rất chóng tàn Tươi rất lâu Nở thành cụm hoa Nở thành chùm hoa Nở thành bông hoa Nở dạng cánh hoa Nở thay đổi màu sắc Nhị hoa dính liền nhau thành một ống dài ở giữa Cánh hoa mượt như nhung Nụ hoa trông như cái đinh

11

6,6

10

trò/công dụng

Vai trong đời sống

Dùng để ướp chè Dùng làm rau ăn Ngâm rượu, pha trà Cất tinh dầu

9

11

Vai trò trong y học

5,4 Dùng làm thuốc

Lấy hoa làm thuốc

51

12

Vị trí quan hệ họ hàng với các loài hoa khác

Tần số xuất hiện 1 1 1 1 1 1 1 1 8 6 4 2 9 1 1 1 3 1 1 1 3 1 2 1 1 1 12 10 6 5 2 1 1 1 6 2 2 1 7 2 25 7 6 13

30% Cây cảnh cùng họ với Cây leo cùng họ với Cây to cùng họ với Cây cùng họ với

94

Dựa trên những số liệu được thống kê trong tiếng Anh và tiếng Việt phía trên, chúng tôi thiết lập bảng so sánh đặc điểm

2.3.3. Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt ngữ nghĩa từ ngữ chỉ tên gọi các loài hoa giữa hai ngôn ngữ như sau:

Bảng 2.8: Bảng so sánh đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

Ngôn ngữ

Tiếng Anh

Tiếng Việt

Stt

% Biểu hiện bằng từ ngữ

%

Biểu hiện bằng từ ngữ

Tổng các biểu hiện

Tổng các biểu hiện

Số lượng

Số lượng

Các nét nghĩa

1 Chỉ loại

138/146 94,5 Plant

165/167

98,8

11

7

Cây Cây bụi Cây dây leo Cây thân cỏ Cây cảnh Cây bụi leo Hoa

Tấn số xuất hiện 36 23 15 34 49 5 3

Wild plant Garden plant Climbing plant Tropical plant Flower Wild flower Garden flower Bush Perennials Tree

2 Màu sắc

130/146 89 Pink/light pink

9

8

106/167

63,4

Red Purple/pale purple Blue/light blue Yellow/bright yellow White Brightly coloured Orange

Tấn số xuất hiện 30 13 14 11 5 22 12 15 6 5 5 39 20 35 6 48 38 15 2

Trắng / trắng ngà Đỏ Đỏ hồng / đỏ thắm / đỏ tía / đỏ tươi Hồng / hồng nhạt / hồng tím Tím / tím hồng Vàng Vàng nhạt / vàng nâu / vàng lục / vàng sẫm Xanh lam Ngũ sắc / nhiều màu

30 20 5 11 9 15 25 1 7

95

Ngôn ngữ

Tiếng Anh

Tiếng Việt

Stt

% Biểu hiện bằng từ ngữ

%

Biểu hiện bằng từ ngữ

Tổng các biểu hiện

Tổng các biểu hiện

Số lượng

Số lượng

14/167

8,4 Bờ rào

Các nét nghĩa 3 Nơi sinh trưởng

64/146

43,8

(Môi trường sống)

11

10

Mặt nước Dưới nước Đất Xứ lạnh Rừng Trên cạn Trường xa Vùng núi phía bắc Vùng ôn đới

Tấn số xuất hiện 1 1 1 1 1 2 2 1 2 2

Garden (plant/bush) Wild (plant/flower) African Damp surface Indoors Moist and shady situation Mountain Rock garden Tropical Sandy, well – drained soil Water surface

4 Kích cỡ

28/167 16,7 Nhỏ

7

7

47/146 32,2 Small Large Long Tall As high as 4 feet Large round Many sizes

5 Hình thức/ cấu tạo

14/167

To Lớn Rất to Dài Dài và dày Lấm tấm 8,4 Loa kèn

9

18

31/146 21,2 Ball Bell Cone Cup Trumpet Mouth Whorl Unusual shape Look like other flower

Tấn số xuất hiện 35 10 1 2 3 2 1 2 6 1 1 21 19 2 2 1 1 1 10 5 2 3 3 1 1 1 5

Hình phễu Cánh bướm Chiếc hài Chữ thập Hình chuông Cò bay Đồng tiền Đuôi phượng Hình cốc Hình môi

8 12 2 1 3 1 1 4 3 1 1 3 3 1 1 1 1 1

96

Ngôn ngữ

Tiếng Anh

Tiếng Việt

Stt

Tổng các biểu hiện

% Biểu hiện bằng từ ngữ

%

Biểu hiện bằng từ ngữ

Tổng các biểu hiện

Số lượng

Số lượng

Các nét nghĩa

Tấn số xuất hiện

Mâm xôi Mào gà Mõm thú Nan quạt Móng rồng Vòi voi Hướng về mặt trời

6 Mùi hương

31/146 21,2 Sweet smell

35/167 20,9 Thơm

9

6

Fragrant Scented Sweet-scented Strong pleasant smell Strong flavor

20 3 1 4 1 2

Rất thơm Mùi thơm Mùi thơm hắc Hương thơm Hương rất thơm Hương thơm nhẹ Hương thơm nồng Không thơm

7 Thời gian

9/146

6,2 Spring

12/167

9

Autumn/fall Evening

7 1 1

3

7,2 Nở quanh năm Nở vào chiều tối Nở vào đêm Nở vào dịp tết Nở vào 10h sáng Nở vào mùa hè 100 ngày mới tàn Rất chóng tàn Tươi rất lâu

8 Đặc tính khi nở

7/146

4,8 Groups of flowers

5

4 3

2

Bunches of flowers

Tấn số xuất hiện 1 1 1 1 1 1 1 8 6 4 2 9 1 1 1 3 1 1 1 3 1 2 1 1 1 12 10 6 5

35/167 20,9 Nở thành cụm hoa Nở thành chùm hoa Nở thành bông hoa Nở dạng cánh hoa

97

Ngôn ngữ

Tiếng Anh

Tiếng Việt

Stt

Tổng các biểu hiện

% Biểu hiện bằng từ ngữ

%

Biểu hiện bằng từ ngữ

Tổng các biểu hiện

Số lượng

Số lượng

Các nét nghĩa

Tấn số xuất hiện

Nở thay đổi màu sắc

9 Đặc tính của bộ phận

6/146

4,1 Petals that curl back from

3/167

1,8 Nhị hoa dính liền nhau thành

hoa

2

3

4 2

một ống dài ở giữa Cánh hoa mượt như nhung Nụ hoa trông như cái đinh

10 Vai trò trong đời sống 3/146

the centre A mass of narrow petals pointing upwards 2 Make perfume and

to

11/167

2 1

2

4

flavuor tea Make salads

11 Vai trò trong y học

2/146

1,4 Used as a medicine

2

9/167

6,6 Dùng để ướp chè Dùng làm rau ăn Ngâm rượu, pha trà Cất tinh dầu 5,4 Dùng làm thuốc

2

Used to make medicine

0

0

0

1 1 0

0

51/167

4

12 Quan hệ họ hàng với các loài hoa khác

Lấy hoa làm thuốc 30 Cây cảnh cùng họ với Cây leo cùng họ với Cây to cùng họ với Cây cùng họ với

Tấn số xuất hiện 2 1 1 1 6 2 2 1 7 2 25 7 6 13

98

99

* Về loại nét nghĩa: Chúng tôi nhận thấy các loại nét nghĩa được phân xuất trong định nghĩa các mục từ tên gọi hoa trong trong tiếng Anh và tiếng Việt có sự tương đồng rất cao. Tiếng Anh có 11 nét nghĩa được phân xuất ra trong 146 định nghĩa bao gồm: nét nghĩa phân loại, màu sắc, hình thức/cấu tạo, kích cỡ, nơi sinh trưởng (môi trường sống), mùi hương, thời gian, đặc tính khi nở, đặc tính bộ phận của hoa, vai trò trong đời sống, vai trò trong y học. Tiếng Việt có 12 nét nghĩa: nét nghĩa phân loại, màu sắc, hình thức/cấu tạo, kích cỡ, nơi sinh trưởng (môi trường sống), mùi hương, thời gian, đặc tính khi nở, đặc tính bộ phận của hoa, vai trò trong đời sống, vai trò trong y học và nghĩa vị quan hệ họ hàng với các loài hoa khác. Như vậy, tiếng Anh không thấy xuất hiện nét nghĩa quan hệ họ hàng với các loài hoa khác trong các định nghĩa các từ ngữ chỉ hoa như trong tiếng Việt. Điều này không ngạc nhiên vì nhóm soạn giả từ điển giải thích tiếng Việt mà chúng tôi chọn làm ngữ liệu đã giải thích nghĩa từ chỉ các loài hoa theo cách định nghĩa khái niệm khoa học trong thực vật học. Dựa trên những kết quả khảo sát, thống kê về đặc điểm định danh và ngữ nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy trong số 11 đặc trưng ngữ nghĩa của trường từ vựng chỉ hoa của người Anh thì có đến 8 đặc trưng được chọn để đưa vào định danh dưới hình thái bên trong của tên gọi. Tương tự, trong tiếng Việt có 12 đặc trưng ngữ nghĩa thì có tới 10 đặc trưng được chọn để đưa vào định danh tên gọi các loài hoa. Như vậy, có thể nói cả người Anh và người Việt đều có sự thống nhất trong cách tư duy. * Về tần số xuất hiện: Từ bảng so sánh có thể thấy trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, hai loại nét nghĩa có số lượng hay tần số xuất hiện nhiều nhất trong các định nghĩa tên gọi các loài hoa đó là nét nghĩa chỉ loại và nét nghĩa màu sắc. Điều này chứng tỏ quan niệm, tư duy của hai dân tộc về phân loại và màu sắc là hoàn toàn giống nhau. Trong đó nét nghĩa được chọn nhiều nhất là phân loại. Tuy nhiên, có một số khác biệt rõ nét về tần số xuất hiện của một số loại nét nghĩa giữa hai ngôn ngữ đó là nét nghĩa nơi sinh trưởng, kích cỡ và hình thức/cấu tạo. Trong tiếng Anh nét nghĩa nơi sinh trưởng chiếm 43,8 % còn tiếng Việt chỉ chiếm 8,4%, nét nghĩa kích cỡ 32,2% còn tiếng Việt là 16,7%, nét nghĩa hình thức/cấu tạo chiếm 21,2% còn tiếng Việt chỉ là 8,4%. Ngoài ra, chúng tôi cũng thấy có sự chênh lệch khá nhiều về số lượng nét nghĩa ‘đặc tính khi nở’ của hoa, ‘vai trò trong đời sống’ và ‘vai trò trong

100

y học’ trong tiếng Anh và tiếng Việt. Người Anh khi định danh các loài hoa không chú trọng nhiều đến đặc tính hoa nở hay vai trò của chúng trong đời sống và trong y học như người Việt. Sự khác biệt này có thể là do Việt Nam thuộc loại hình văn hóa nông nghiệp, khoa học kỹ thuật chậm phát triển hơn so với nước Anh nên từ xa xưa người Việt đã gắn bó với cây cỏ tự nhiên, sử dụng các loài cây, hoa, lá từ tự nhiên như các bài thuốc dân gian để chữa bệnh. Vì vậy, cây cỏ thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Việt nên chúng cũng có những ảnh hưởng nhất định trong cách định danh thực vật của họ. * Về biểu hiện bằng từ ngữ (ngôn ngữ) cho các nét nghĩa: Đối với nét nghĩa chỉ loại: Trong cả tiếng Anh và tiếng Việt đều xuất hiện các biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa như plant (cây cảnh), bush (cây bụi), tree (cây) và climbing plant (cây dây leo). Plant (cây cảnh) xuất hiện với tần số nhiều nhất trong cả hai ngôn ngữ. Nhưng trong tiếng Anh, từ flower xuất hiện trong định nghĩa cao gấp nhiều lần so với trong tiếng Việt. Các biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa này trong tiếng Anh mang tính chi tiết, cụ thể hơn so với tiếng Việt, ngoài plant (cây cảnh) và flower (hoa) ra, nó còn được phân chia thành wild plant (cây dại), wild flower (hoa dại), garden plant (cây cảnh ở vườn), garden flower (hoa vườn). Đối với nét nghĩa màu sắc: Các biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa màu sắc trong hai ngôn ngữ thể hiện rõ nét sự tương đồng, các màu yellow (vàng), white (trắng), pink (hồng) và red (đỏ) xuất hiện với tần suất nhiều trong cả tiếng Anh và tiếng Việt. Purple (màu tím) trong tiếng Anh có tần số xuất hiện cao hơn nhiều so với tiếng Việt, ngược lại các biểu hiện bằng từ ngữ về màu sắc trong tiếng Việt lại phong phú hơn tiếng Anh. Mỗi màu sắc chính còn có thêm các màu khác như đỏ có thêm đỏ thắm, đỏ tía, đỏ tươi, hồng có thêm hồng nhạt, hồng tím, và vàng có thêm vàng nhạt, vàng nâu, vàng lục, vàng sẫm, v.v. Đối với nét nghĩa nơi sinh trưởng (môi trường sống): Người Anh chú trọng đến nét nghĩa này nhiều hơn so với người Việt, đặc biệt họ chú ý đến yếu tố hoa được thuần dưỡng (được trồng trong vườn) hay không được thuần dưỡng (mọc hoang dại, không được trồng và chăm sóc) nên biểu hiện từ ngữ garden (vườn) và wild (dại) có tần số xuất hiện cao trong định nghĩa các loài hoa. Và người Anh cũng thể hiện sự chi tiết, cụ thể và chính xác về môi trường sống của hoa.

101

Đối với nét nghĩa kích cỡ và nét nghĩa mùi hương: Các biểu hiện bằng từ ngữ thể hiện sự tương đồng khá lớn về ý nghĩa cũng như tần số xuất hiện. Hai biểu hiện bằng từ ngữ về kích cỡ có tần số xuất hiện cao nhất trong cả tiếng Anh và tiếng Việt là small (nhỏ) và large (lớn). Đối với nét nghĩa hình thức/cấu tạo: Về số lượng hay tần số xuất hiện của các biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa này trong tiếng Anh nhiều hơn so với tiếng Việt nhưng số lượng các biểu hiện bằng từ ngữ trong tiếng Việt lại phong phú đa dạng hơn rất nhiều. Tiếng Anh chỉ có 9 biểu hiện bằng từ ngữ như ball (bóng), bell (chuông), cone (nón), v.v. thì tiếng Việt có đến 18 biểu hiện loa kèn, phễu, chữ thập, vòi voi, v.v. Đặc biệt, những biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa này như mào gà, nan quạt, mâm xôi, v.v. gắn liền với văn hóa nông nghiệp của người Việt mà người Anh không có được bởi đó là con vật, đồ vật và hình ảnh quen thuộc với người dân Việt Nam. Đối với nét nghĩa thời gian: Về tần số xuất hiện của các biểu hiện bằng từ ngữ không có sự khác biệt nhưng về số lượng các biểu hiện thì tiếng Việt nổi trội hơn. Tiếng Anh có 3 biểu hiện bằng từ ngữ cho nét nghĩa này như spring (mùa xuân), Autumn (mùa thu) và Evening (tối, muộn) còn tiếng Việt có gấp 3 lần các biểu hiện gồm nở quanh năm, nở chiều tối, nở đêm, nở dịp tết, nở 10 giờ sáng, nở mùa hè, nở 100 ngày mới tàn, v.v. Đối với nét nghĩa đặc tính khi nở: Trong tiếng Việt, các biểu hiện bằng từ ngữ của nét nghĩa này xuất hiện với tần suất cao hơn nhiều so với trong tiếng Anh bởi các biểu hiện bằng từ ngữ trong tiếng Việt đa dạng hơn trong tiếng Anh. Trong tiếng Việt có 5 biểu hiện bằng từ ngữ nhưng trong tiếng Anh chỉ có 2. Về nét nghĩa đặc tính bộ phận của hoa không có sự khác biệt nhiều trong hai ngôn ngữ Đối với hai nét nghĩa cuối cùng, vai trò trong cuộc sống và vai trò trong y học thì tần số xuất hiện trong tiếng Anh ít hơn nhiều so với tiếng Việt nhưng về ý nghĩa của các biểu hiện thì rất tương đồng. Trong tiếng Anh, các biểu hiện bằng từ ngữ make perfume (làm nước hoa) and to flavour tea (ướp chè), make salads (làm sa lát) tương đương về nghĩa với các biểu hiện trong tiếng Việt như dùng ướp chè, làm rau ăn và cất tinh dầu. Hay used as a medicine, used to make medicine trong tiếng Anh tương ứng với dùng làm thuốc, lấy hoa làm thuốc trong tiếng Việt.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Từ kết quả khảo sát, so sánh và đối chiếu đặc điểm cấu tạo, định danh

và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ hoa, chúng tôi khái quát được một số nhận xét

như sau:

1. Về đặc điểm cấu tạo: Trong tiếng Anh và tiếng Việt tên các loài hoa

đều đa dạng về cấu tạo gồm: từ đơn, từ ghép, và cụm từ (ngữ). Tuy nhiên, có

thể thấy đặc điểm loại hình ngôn ngữ đã chi phối rất lớn đến mô hình cũng

như phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh và tiếng Việt. Tiếng Việt là loại

hình ngôn ngữ đơn lập, không biến hình, phân tích tính nên số lượng vỏ âm

tiết bị hạn chế, theo đó số lượng từ đơn cũng bị hạn chế. Vì vậy, từ đơn trong

các lớp từ ngữ gọi tên hoa trong tiếng Việt chiếm số lượng ít hơn nhiều so với

từ ghép. Ngược lại, tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình và tổng hợp tính nên từ

đơn chỉ hoa có số lượng nhiều hơn so với từ ghép và so với tiếng Việt. Ngoài

ra, tiếng Anh còn thêm phương thức cấu tạo từ theo phương thức phái sinh mà

tiếng Việt không có, ngược lại tiếng Việt có phương thức cấu tạo từ láy mà

tiếng Anh không có.

2. Về đặc điểm định danh: Để định danh các loài hoa, người Việt và

Người Anh có xu hướng lựa chọn và tri nhận những đặc trưng làm cơ sở định

danh là những đặc trưng thể hiện thuộc tính bản thể của hoa như hình thức/

hình dạng, kích cỡ, màu sắc. Ngoài ra, các đặc trưng khác như nguồn gốc,

tính chất/ đặc tính, môi trường sống, nguồn gốc cũng được lựa chọn làm cơ

sở cho việc định danh, nhưng chúng có giá trị khác nhau ở từng dân tộc. Các

biểu hiện bằng từ ngữ trong các kiểu định danh của tiếng Anh và tiếng Việt

khá đa dạng và phong phú. Do sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ nên có sự

khác biệt về mô hình định danh giữa hai ngôn ngữ. Trong tiếng Anh, yếu tố

đặc trưng được lựa chọn định danh “T” đứng trước tên hoa, còn trong tiếng

Việt nó đứng sau tên hoa.

3. Về đặc điểm ngữ nghĩa: Trong hai ngôn ngữ Anh và Việt, các nét

102

nghĩa chỉ loại và màu sắc xuất hiện với tần suất nhiều nhất trong các định

nghĩa từ ngữ chỉ hoa trong từ điển giải thích. Điều đó chứng tỏ quan niệm, tư

duy và cách tri nhận của hai dân tộc là khá tương đồng. Tuy nhiên, cũng có

một số khác biệt về việc lựa chọn các nét nghĩa, trong tiếng Việt có xuất hiện

nét nghĩa “quan hệ họ hàng với các loài hoa khác”, tiếng Anh không có nét

nghĩa này. Lý giải cho điều này là do nhóm soạn giả từ điển tiếng Việt mà

chúng tôi chọn làm ngữ liệu đã giải thích ý nghĩa tên gọi các loài hoa theo

định nghĩa khái niệm khoa học trong thực vật học. Bên cạnh đó, cũng có sự

chênh lệch khá nhiều về số lượng hay tần số xuất hiện ở một số nét nghĩa giữa

hai ngôn ngữ. Các nét nghĩa nơi sinh trưởng (môi trường sống), kích cỡ và hình

thức/cấu tạo được người Anh chú ý nhiều khi định nghĩa các loài hoa nên chúng

xuất hiện với tần suất cao hơn nhiều so với tiếng Việt. Người Việt chú ý nhiều

103

đến đặc tính khi nở của hoa nên nét nghĩa này có tần số xuất hiện cao.

Chương 3 ĐỐI CHIẾU NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO CÓ CHỨA THÀNH TỐ HOA VÀ TÊN GỌI CÁC LOÀI HOA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Dẫn nhập Trong chương này, chúng tôi tập trung tìm hiểu nghĩa biểu trưng của các thành ngữ, tục ngữ và ca dao tiếng Anh và tiếng Việt có chứa từ hoa và tên các loài hoa. Nói cách khác là tìm hiểu xem người Anh và người Việt sử dụng chúng biểu trưng cho những đặc trưng ngôn ngữ, văn hóa và tư duy như thế nào. Sau khi khảo sát ngữ liệu, chúng tôi thấy nghĩa biểu trưng cho đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và tư duy phải nằm trong bối cảnh ngôn ngữ. Trong tiếng Anh, có rất ít các thành ngữ, tục ngữ và ca dao chứa thành tố flower và tên các loài hoa, đặc biệt là thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa thành tố flower. Còn trong tiếng Việt, có nhiều thành ngữ, tục ngữ chứa thành tố hoa nhưng có rất ít thành ngữ, tục ngữ chứa tên gọi các loài hoa mà tên các loài hoa chủ yếu xuất hiện nhiều trong ca dao. Vì vậy, trong chương này chúng tôi sử dụng ngữ liệu là loại hình văn học dân gian bao gồm thành ngữ, tục ngữ và ca dao.

3.1. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố flower và tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh

3.1.1. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Anh chứa thành tố “flower” (hoa)

104

Xét từ góc độ văn hóa biểu tượng, hoa là một biểu tượng mang tính mẫu gốc trong văn hóa nhân loại với những ý nghĩa biểu trưng mang tính phổ quát về cái đẹp, sự toàn hảo, hay cái mong manh, tàn phai; tuy nhiên, biểu trưng về hoa và mỗi loài hoa có thể khác nhau ở từng nền văn hóa. Theo Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới, “hoa thực tế được coi là hình mẫu phát triển của sự sống, của nghệ thuật tự nhiên, phi nhân tạo, tuy nhiên tuyệt vời; nó cũng biểu trưng cho chu kỳ thực vật, hình ảnh giản yếu của chu trình sự sống với đặc tính ngắn ngủi của nó” [43,427]. Tính chất biểu trưng cho chu trình sống, hay vẻ đẹp toàn thiện của hoa cũng được nhắc tới từ biểu tượng bông hoa mà Đức Phật đã chỉ ra cho Mahakashyapa xem, và nó thay cho mọi lời nói và mọi lời giáo huấn là: “hoa vừa là hình ảnh giản yếu của chu trình sống, vừa là hình ảnh của sự hoàn thiện cần đạt tới của sự giác ngộ và tự

nhiên; nó cũng là biểu hiện của cái không thể diễn đạt” [43,427]. Chính vì thế, dường như trong tất cả các nền văn hóa, tính phổ quát của hoa là biểu trưng cho cái đẹp, sự trong trắng, tinh khiết; sự khai mở; và sự kết thúc. Vì thời gian tồn tại, khoe sắc của hoa không dài nên trong nhiều nền văn hóa, “Bông hoa còn là biểu tượng của tính không bền vững, không phải là tính hay đổi ý vốn dĩ là thuộc tính của phụ nữ, mà là một sự không bền vững, thuộc về bản chất của con người, được tạo ra để tiến hóa liên tục, và cũng là biểu tượng một cách hết sức đặc biệt cho đặc tính thoáng qua của sắc đẹp” [43,428]. Đó chính là ý nghĩa của lẵng hoa của Lan Ts’ai Ho (Lam Thái Hòa), ông tiên này thường được thể hiện xách một lẵng hoa, để làm nổi bật cái tương phản giữa sự trường sinh bất tử của riêng ông với cái chốc lát của đời người, của sắc đẹp và những thú vui [43,428].

Qua khảo sát khối liệu trong tiếng Anh, chúng tôi tìm được 18/75 thành ngữ và tục ngữ chứa thành tố “flower”. Như chúng ta đã biết, bản thân từ “flower” (hoa) khi tham gia cấu tạo thành ngữ, tục ngữ không mang giá trị biểu trưng riêng biệt. Chỉ khi kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ trên trục ngữ đoạn (syntagmatic relations), nhờ vào mối quan hệ tương tác và liên hội giữa các đơn vị trên trục tuyến tính là các thành ngữ, tục ngữ có chứa thành tố “hoa” mới mang những lớp nghĩa biểu trưng khái quát theo nguyên tắc nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ là nghĩa biểu trưng của tổng hợp các thành tố trong thành ngữ, tục ngữ mang lại chứ không phải xuất phát từ biểu trưng đơn lẻ của từng từ cụ thể. Kết quả khảo sát cho thấy, các thành ngữ, tục ngữ và ca dao tiếng Anh có chứa yếu tố “flower” có các hướng nghĩa biểu trưng sau: a. Biểu trưng cho cái đẹp

Hoa luôn là một biểu tượng đẹp, trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh có

chứa thành tố flower (hoa) để biểu trưng cho những điều tốt đẹp nhất, cho

khoảng thời gian đẹp nhất của đời người. Trong tiếng Anh, chúng tôi tìm

được 5/18 (27,8%) thành ngữ chứa flower mang ý nghĩa biểu trưng này: the

flower of something. Ví dụ: The flower of the country’s youth (bông hoa của

tuổi trẻ đất nước), the flower of the young men (bông hoa của những người trẻ

tuổi), the flower of their age (bông hoa của tuổi trẻ). Xét trên trục ngữ đoạn,

cách kết hợp đối xứng của “flower” với “youth” và “young men” (hoa với

105

tuổi trẻ / những người trẻ tuổi) (Youth: the time of life when a person is

young, especially the time before a child becomes an adult (thời gian trong

cuộc đời khi một người còn trẻ, đặc biệt là khoảng thời gian trước khi một

đứa trẻ trở thành người lớn). [127, tr.1816] đã làm rõ ý nghĩa biểu trưng về vẻ

đẹp của tuổi trẻ, tuổi trẻ của quốc gia là lực lượng hùng hậu và có nhiều đóng

góp cho đất nước hay tuổi thanh xuân là lứa tuổi đẹp nhất trong cuộc đời mỗi

người. Tương tự, sự kết hợp đối xứng giữa “flower” với “flock” trên trục

tuyến tính (Flock: A large group of people, especially of the same type (Một

nhóm gồm nhiều người, đặc biệt là những người có chung đặc tính nào đó)

[127, tr.598] trong “The flower of the flock” (Bông hoa của nhóm) (the best

person or thing in a group or the finest individuals out of a number of people

or something) để ca ngợi vẻ đẹp phẩm chất của con người, người đẹp nhất hay

vật tốt nhất trong một nhóm hay một tập hợp.

Bản thân hoa hàm chứa cái đẹp, nên tự nó đã tạo nên hướng nghĩa biểu

trưng về vẻ đẹp trau chuốt, mĩ miều. Người Anh dùng các thành ngữ chứa

thành tố flower để chỉ sự cầu kỳ, trau chuốt như: flowery language (Ngôn ngữ

văn hoa), flowery style (cách viết bay bướm, văn hoa); hay flowery words/

speech (lời lẽ hoa mỹ).

b. Biểu trưng cho sự tinh khiết và nhan sắc người phụ nữ

Vì bông hoa chứa trong nó vẻ đẹp toàn hảo của tự nhiên, nên dễ hiểu

trong tiếng Anh, hoa cũng được biểu trưng cho cái đẹp, cho nhan sắc người

phụ nữ. Chúng tôi tìm được 5/18 (27,8%) thành ngữ, tục ngữ mang ý nghĩa

biểu trưng này. Ví dụ: as delicate as a flower (tinh khiết như một bông hoa);

as sensitive as a flower (mỏng manh như một cánh hoa); hay beauty is a

fading flower (nhan sắc chóng tàn như hoa). Trên trục ngữ đoạn, các kết hợp

giữa “sensitive” với “flower”, “delicate” với “flower” và “beauty” với

“flower” đi kèm với bổ ngữ “fading” (Fading: become paler or less bright –

trở nên mờ nhạt dần) [127, tr.551] đã tạo nên nghĩa biểu trưng cho vẻ đẹp nhẹ

nhàng, tinh tế và yếu đuối của người con gái.

Như vậy, xuất phát từ đặc tính của hoa là hình mẫu phát triển của tự

nhiên và đạt đến độ toàn thiện về cái đẹp khi bung nở, hoa biểu trưng cho vẻ

106

đẹp tinh khiết, mong manh và chóng tàn phai của giới nữ.

c. Biểu trưng cho sự thành công, khai mở, sự bắt đầu Một chu trình sống của bông hoa bắt đầu từ khi còn búp nụ, trải qua một quá trình sinh trưởng và phát triển, nụ chín, hoa bắt đầu đơm bông, nở ra những cánh mỏng để đón khí trời và khoe hương khoe sắc. Tùy thuộc vào từng loài hoa mà nở nhanh hay nở chậm, có loài bung cánh là nở hết cỡ, khoe nhụy khoe hương; có loài cánh hé nở từ từ, để cho người ngóng hoa phải hồi hộp chờ đợi, quan sát sự thay đổi của màu cánh hoa từ ngoài vào trong theo biên độ mở của bông hoa. Xuất phát từ cách thức sinh trưởng và hoàn thiện chu trình đời sống đó của hoa, mà hoa mang ý nghĩa biểu trưng cho sự khai mở, bắt đầu.

107

Dựa vào đặc điểm phát triển của bông hoa từ lúc gieo hạt, nảy mầm, kết thành nụ hoa và rồi đơm hoa hay nở hoa mà người Anh liên tưởng đến những con người hay sự vật đạt đến sự chín muồi, thành công, hay trưởng thành. Chúng tôi tìm được 2/18 (11,1%) thành ngữ, tục ngữ mang ý nghĩa biểu trưng này: to come into flower / bloom (Bắt đầu ra hoa, bắt đầu trổ hoa) hay in (into) flower (Đang độ nở hoa). Hướng nghĩa biểu trưng này được tạo nên nhờ vào sự kết hợp của động từ “come into” với “flower” trên trục ngữ đoạn, (come into: to be important in a particular situation – trở nên quan trọng trong một tình huống cụ thể [127, tr.297]. Với sự kết hợp các ý nghĩa liên hội đã giúp cho thành ngữ này mang ý nghĩa biểu trưng cho sự thành công, sự bắt đầu cho một sự phát triển của tuổi trẻ, của tương lai. d. Biểu trưng cho tình yêu và hòa bình (love and peace) Trong tiếng Anh, có 2/18 (11,1%) thành ngữ chứa thành tố “flower” mang ý nghĩa biểu trưng này. Thành ngữ flower children được sử dụng để ám chỉ trào lưu của thanh niên vào những năm 60 và 70. Đó là những ý tưởng và niềm tin của một số thế hệ trẻ tham gia phản đối chiến tranh và khuyến khích mọi người hãy thương yêu nhau, trong đó có cả cuộc chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam. Những thanh niên này thường xuyên cài hoa và mang theo hoa như là biểu tượng cho tình yêu và hòa bình. Triết lý chống chủ nghĩa vật chất và phản đối chiến tranh của họ được đặc trưng bởi sức mạnh của hoa (flower power). Sự kết hợp giữa “flower” với “power” trên trục ngữ đoạn, “flower” đóng vai trò là bổ ngữ (modifier) cho “power” (power: 1. The ability to control people or things – khả năng kiểm soát người hoặc vật; 2. Political

control of a country or an area – sự kiểm soát chính trị đối với một quốc gia hay một khu vực [127, tr.1202] để thể hiện sức mạnh của hoa có thể kiểm soát được chiến tranh, mang lại hòa bình cho đất nước. Vì vậy để bày tỏ thái độ phản đối chiến tranh, họ đã dùng những bông hoa đặt lên nòng súng với ý nghĩa kêu gọi ngừng chiến, với phương châm là tạo ra tình yêu chứ không phải chiến tranh (make love, not war). Thành ngữ này được sử dụng phổ biến trong nhiều thập kỉ, nhưng đến nay nó đã bị phai nhạt dần. Ngoài ra, thành tố “flower” (hoa) trong tiếng Anh còn kết hợp với từ chỉ bộ phận cơ thể người tạo thành thành ngữ hearts and flowers để biểu trưng cho một thứ tình cảm quá mức hay sử dụng để thể hiện một thứ tình cảm cực đoan.

3.1.2. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Anh chứa tên gọi các loài hoa

108

Ở Châu Âu nói chung và nước Anh nói riêng, hoa đã trở nên phổ biến trong các mục đích tôn giáo và các nghi lễ của những người Công giáo vào thế kỉ thứ 4. Hoa được sử dụng cho đám cưới, đám tang và trang trí nhà thờ. Vào thời kì trung cổ, hoa là một phần trọng yếu trong sự thờ phụng Ki tô giáo, ý nghĩa biểu trưng của chúng cũng được phát triển từ đó. Các nhà văn công giáo đã chọn ba loài hoa cho các nghi lễ của thời kì đó là hoa hồng (rose), hoa loa kèn (lily) và hoa viôlét (violet) và gắn chúng với những biểu tượng chính của công giáo. Các ý nghĩa biểu trưng của hoa hồng đã được bàn luận rất nhiều trong văn hóa Phương Tây. Từ thời cổ đại, hoa hồng đã là loài hoa tối quan trọng trong tình yêu và niềm vui, cho đến thế kỉ hiện tại, hoa hồng cũng vẫn là biểu tượng chính cho tình yêu. Những người công giáo đầu tiên đã không thể cưỡng lại trước sự hấp dẫn của hoa hồng, mặc cho phản đối của Tertullian và các cha đạo khác trong nhà thờ cũng không thể làm giảm sự hấp dẫn đó. Bên cạnh việc được sử dụng để trang trí nhà thờ và được sử dụng trong nhiều khía cạnh của đời sống tín ngưỡng, hoa hồng cũng gắn liền với Đức mẹ Đồng Trinh “Mary”. Sau này, màu đỏ của hoa hồng được dùng để biểu trưng cho sự say mê chúa Ki tô của các tín đồ. Tương tự như vậy, the white lily (hoa loa kèn trắng) cũng gắn liền với Đức mẹ Đồng Trinh ‘Mary’ bởi màu trắng là màu của sự thuần khiết. Hoa loa kèn (không chỉ có hoa loa kèn màu trắng) là

- Hoa hồng biểu thị một sự hoàn mỹ trọn vẹn, một sự hoàn hảo không

loài hoa được sử dụng nhiều trong văn học thời kì tiền công giáo, chúng thường gắn liền với khả năng sinh sản và tầng lớp hoàng gia. Loài hoa mang ý nghĩa biểu trưng lớn thứ 3 của thời kì trung đại là hoa viôlet, bởi màu sắc, tầm vóc và hương thơm của nó truyền tải những phẩm chất của sự khiêm tốn và giản dị. Ba loài hoa mang tính ngụ ngôn tuyệt vời này không chỉ được mã hóa về màu sắc (màu đỏ của niềm đam mê, màu trắng cho sự tinh khiết và màu tím của sự khiêm tốn) mà chúng còn có mùi hương rất thơm. Hương thơm của thực vật đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên ý nghĩa biểu trưng của chúng, điều này xuất phát từ tầm quan trọng của hương thơm hay mùi hương trong cuộc sống thường nhật của thời kì này [86]. Khảo sát ngữ liệu tiếng Anh, chúng tôi đã thu được 56 thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa tên gọi các loài hoa, trong đó hoa hồng (rose) xuất hiện ở 36 thành ngữ, tục ngữ, ca dao chiếm 63,3%, hoa loa kèn (lily) xuất hiện trong 9 thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hoa cúc (daisy) có mặt ở 6 thành ngữ, tục ngữ và hoa viôlét (violet) là 3. Như vậy, hoa hồng (rose) được sử dụng với nghĩa biểu trưng nhiều nhất. 3.1.2.1. Nghĩa biểu trưng của “rose” (hoa hồng) Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, nổi bật với vẻ đẹp, hình dáng và hương thơm, hoa hồng là hoa biểu trưng hay được dùng nhất ở phương Tây với những ý nghĩa biểu tượng sau: có thiếu sót.

- Hoa hồng còn tượng trưng cho phần thưởng cuộc sống, tâm hồn, trái tim, tình yêu. Người ta có thể chiêm ngưỡng nó và coi nó như một trung tâm huyền bí.

- Hoa hồng là biểu tượng của Đức Mẹ Đồng Trinh, nó có thể cũng là biểu tượng của Tiểu Thuyết Hoa Hồng, là hình ảnh của linh hồn và cũng là hình ảnh của chúa Ki tô.

- Hoa hồng là biểu tượng của sức mạnh và sự tu dưỡng tinh thần và

cũng là biểu tượng của sự phục sinh và sự bất tử.

109

- Hoa hồng đã trở thành biểu tượng của tình yêu và còn hơn thế, của sự dâng hiến tình yêu, của tình yêu trong trắng. Hoa hồng như là hoa của tình yêu thay cho cây sen Ai Cập và cây thủy tiên Hy Lạp; đó không phải là thứ hoa hồng

phù phiếm mà là những hoa hồng sống dai dẳng và kiêu hãnh, không thiếu gai nhưng đậm đà một ý nghĩa biểu trưng dịu dàng. [43, tr.428-430] Từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại cho đến nay, hoa hồng luôn luôn là một biểu tượng vượt thời gian cho sắc đẹp, sự thoáng qua và tình yêu. Mối liên hệ lãng mạn của hoa hồng với tình yêu được cho là bắt nguồn từ Ai Cập, nơi Cleopatra nổi tiếng trải thảm với những bông hoa hồng để quyến rũ Mark Antony. Trong thời trung cổ, những câu thơ tôn giáo dành cho các đấng tối cao Jesus Christ, Đức Trinh nữ Maria thường được gọi là “rose without thorns” – (hoa hồng không có gai) bởi cô không mắc tội lỗi nguyên thủy. Trên thực tế, năm cánh hoa hồng dại thường được gắn liền với năm niềm vui của Đức mẹ đồng trinh Mary đó là Truyền tin, Giáng sinh, Phục sinh, Thăng thiên và Giả định và gắn với năm chữ cái trong tên đầy đủ của mình. Vào giai đoạn này, với tư cách là nữ hoàng của các loài hoa, hoa hồng là một đặc quyền dành cho Đức mẹ Mary:

110

There is no rose of such virtue As is the rose that bare Jesu; Alleluia (Không có bông hồng nào có đức tính như vậy Là hoa hồng trần trụi Alleluia For this rose contained was Heaven and earth in little space; Res Miranda Vì trong đóa hồng chứa Thiên đàng và trái đất trong không gian nhỏ bé Res Miranda Từ thế kỉ 12, hình ảnh hoa hồng đã bùng nổ trên khắp châu Âu với sự truyền bá tôn sùng tôn giáo đến Đức mẹ Mary. Thời trung cổ hoa hồng biểu tượng cho tình yêu và sự hy sinh của Ki tô giáo, ý tưởng tôn giáo của hoa hồng mạnh mẽ đến nỗi nó nở rộ trong kiến trúc và được đưa vào kiến trúc các nhà thờ gothic dưới dạng cửa sổ hoa hồng. Truyền thống Ki tô giáo lấy hoa hồng làm đại diện cho trinh nữ, và văn học thế tục tôn vinh hoa hồng là biểu tượng của tình yêu và vẻ đẹp trần thế.

Tìm hiểu 36 thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh có chứa ‘rose’ (hoa hồng),

Vì vậy, nữ hoàng Canny Elizabeth I của nước Anh đã nhận thức đầy đủ về sự liên kết của hoa hồng với trinh tiết – nên coi hoa hồng như là biểu tượng, tượng trưng cho sự trong trắng của nữ hoàng và tạo ra sự liên kết giữa nữ hoàng Anh và nữ hoàng của thiên đường – Đức Trinh Nữ Maria. chúng tôi đã xác định được các nghĩa biểu trưng sau đây: a. Biểu trưng cho sự quyền quý, giàu sang Như chúng ta biết, hoa hồng có sự gắn kết sâu sắc với nữ hoàng Elizabeth I và cũng là một phần hình ảnh huy hiệu của các vị vua và hoàng hậu nước Anh. Hoa hồng thường được trồng ở các gia đình quý tộc, thượng lưu ở Anh như là biểu tượng của sự thịnh vượng, là dấu chỉ cho đẳng cấp và địa vị xã hội của họ. Có 5/36 (13,9%) thành ngữ, tục ngữ mang ý nghĩa biểu trưng này: ‘a bed of roses’ (thảm hoa hồng); ‘be all roses’ (toàn hoa hồng) hoặc ‘roses all the way’ (trải thảm hoa hồng). Muốn diễn đạt ý nghĩa phủ định điều gì đó không đơn giản, dễ dàng người ta dùng: ‘not a bed of roses’ (không phải là một thảm hoa hồng) hay ‘not all roses’ (không phải tất cả đều là màu hồng). Ở đây, sự kết hợp ngầm trên trục ngữ đoạn giữa ‘something’ với “bed of roses”, “something” với “all roses”, “something” với “roses all the way” (roses ở đây ẩn dụ cho sự toàn hảo, hoàn mỹ) (nghĩa là something is a bed of roses/ all roses / roses all the way – cái gì đó là một thảm hoa hồng / toàn là hoa hồng) tạo ra sự liên tưởng điều gì đó luôn tốt đẹp, hoàn hảo và sung túc. Để chỉ một ai đó từ nhỏ được sinh ra đã có số hưởng sự sung sướng, giàu sang và gặp mọi chuyện tốt đẹp, trong tiếng Anh có thành ngữ ‘to be born under the rose’ (được sinh ra dưới hoa hồng, nghĩa là được sinh ra có số sung sướng, thuận lợi). b. Biểu trưng cho sự thành công, thuận lợi Hoa hồng là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa của người Anh, nó chính là biểu tượng của đất nước Anh xinh đẹp. Loài hoa này biểu tượng cho sự thành công và thuận lợi có thể bắt nguồn từ lịch sử chinh phục thế giới của nước Anh.

111

Nước Anh thời Victoria (1837 – 1901) được xem như là siêu cường quốc thế giới (world’s superpower). Người ta thường ví von rằng ‘mặt trời

không bao giờ lặn trên vương quốc của Nữ Hoàng Victoria’ vì đến cuối giai đoạn trị vì của Nữ Hoàng, đế chế Anh có thuộc địa chiếm một phần năm diện tích toàn cầu, và chiếm một phần tư dân số thế giới. Vào thời điểm đó, tàu hải quân của Anh làm bá chủ các đại dương, làm đầu tàu cho sự phát triển thương mại, ngoại thương. Các thương gia Anh bận rộn buôn bán khắp nơi trên trái đất từ Ấn Độ, Trung Quốc, rồi Nam Phi, Châu Úc và cả nước Mỹ. Sau những chuyến chu du đó, họ mang về nước Anh những giống hoa hồng mới tươi đẹp từ Trung Quốc, xem đó như niềm tự hào và là một phần chiến lợi phẩm của mình. Việc trồng hoa hồng trong vườn nhà là một cách người Anh ngầm ý: Been there, done there (đã đến, đã đi). Có 4/36 (11,1%) thành ngữ, tục ngữ thể hiện nghĩa biểu trưng này. Để thể hiện sự việc tiến triển một cách thuận lợi và thành công tốt đẹp, người Anh thường sử dụng các thành ngữ: be coming up roses (đang tiến tới hoa hồng); everything’s coming up roses (tất cả mội thứ đang đi đến/tiến tới hoa hồng). Sở dĩ các câu thành ngữ trên có nghĩa biểu trưng như vậy là do nghĩa của từ “come up” (come up: 1. to reach as far as a particular point – đạt được / tiến đến một điểm cụ thể nào đó; 2. to reach an acceptable level of standard – đạt được / tiến tới một mức tiêu chuẩn có thể chấp nhận được [127, tr.298] kết hợp với “roses” trên trục ngữ đoạn mang lại. Hai câu thành ngữ này biểu trưng cho sự tiến tới thành công, tiến tới những điều tốt đẹp (to be developing in a successful way) hay diễn tả mọi việc diễn ra tốt đẹp hoặc tốt hơn mong đợi (Everything is happening as well as or better than you hoped).

112

Ngoài ra, trong tiếng Anh cũng sử dụng thành ngữ roses, roses all the way (be easy, comfortable or pleasant) (hoa hồng, hoa hồng trải khắp nơi); A path strewn with roses (lucky and easy path) (Một con đường được trải hoa hồng) để diễn tả sự dễ dàng, thành công và thuận lợi. c. Biểu trưng cho người phụ nữ đẹp Ở nhiều nền văn hóa trên thế giới, khi nói đến hoa người ta thường liên tưởng đến hình ảnh người con gái đẹp. Dân tộc Anh cũng chọn hoa hồng (rose) để biểu trưng cho người con gái đẹp bởi hoa hồng được coi là biểu tượng của những người phụ nữ đẹp – Đức Mẹ Đồng Trinh Maria hay nữ hoàng Elizabet I. Có 12/36 (33,3%) thành ngữ, tục ngữ có ý nghĩa biểu trưng này. Khi miêu tả một cô gái đẹp nhất vùng hay hoa khôi của tỉnh, người Anh

thường sử dụng thành ngữ rose of the town (hoa hồng của thành phố) (rose ở đây ẩn dụ cho người con gái đẹp) – a beautiful girl of a province or a town (nghĩa là hoa khôi của một tỉnh hay thị xã).

113

Hay khi diễn tả sự nổi bật của một cô gái (đẹp) giữa những chàng thanh niên, những người đàn ông, người Anh sử dụng there is a rose among the thorns (Có một bông hoa hồng giữa những chiếc gai). Sự kết hợp trên trục ngữ đoạn giữa “rose” với “thorns” đã tạo nên nghĩa biểu trưng này. Ở đây rose (ẩn dụ cho người con gái) tượng trưng cho cô gái và thorns (ẩn dụ cho những chàng trai) biểu tượng cho những chàng trai vây quanh cô gái. Là một loài hoa đẹp, lộng lẫy, kiêu sa, đài các, có hương thơm quyến rũ, vì thế ở mọi nền văn hóa khác nhau, hoa hồng thường biểu trưng cho cái đẹp, cho nhan sắc người phụ nữ: as sweet as a Rose (Ngọt ngào như hoa hồng); A rose by any other name would smell as sweet (saying) (Hoa hồng dù có mang tên gọi nào khác thì nó vẫn có hương thơm ngọt ngào) (trích từ vở Romeo và Juliet của Shakespear), nói lên cái đẹp vĩnh cửu của hoa hồng, của nhan sắc. Tương tự, sự kết hợp giữa “roses” với “cheeks” cùng với động từ “have” và “put” (put: To move sth into a particular place or position – Di chuyển cái gì đến một nơi hay một ví trí cụ thể [127, tr.1251] để tạo ra hướng nghĩa biểu trưng về vẻ đẹp của người thiếu nữ. Sắc màu của hoa hồng đã được lựa chọn để so sánh với vẻ đẹp của người con gái có đôi má ửng hồng, đầy sức sống – một vẻ đẹp rạng ngời, trẻ trung của người con gái: to have roses in one’s cheeks (Có những bông hồng trên đôi má); put roses in sb's cheeks, put the roses back in your cheeks (Đặt những bông hoa hồng trên đôi má của bạn, nghĩa là làm cho sức khỏe của bạn tốt hơn; làm cho bạn hồng hào khỏe mạnh lên). Ngoài ra, có một số thành ngữ khác trong tiếng Anh cũng được sử dụng để diễn tả vẻ đẹp của người con gái hay cái đẹp như: lilies and roses (Nước da trắng hồng, tinh khiết); hay as red as a rose (Đỏ thắm như bông hồng). d. Biểu trưng cho sự vui vẻ, lạc quan Có thể nói, hoa nói chung và hoa hồng nói riêng là những biểu tượng gắn với những gì tốt đẹp, vì vậy khi nói đến sự vui vẻ, lạc quan trong cuộc sống trong tiếng Anh có 3/36 (8,3%) thành ngữ chứa “hoa hồng” để diễn tả điều này: as fresh as a rose = as fair as a rose (tươi như hoa hồng) hay (đẹp

như hoa hồng). Có thể thấy, sự kết hợp trên trục ngữ đoạn của các cấu trúc so sánh gồm tính từ “fresh” đối sánh với “rose” (fresh: 8. Looking clear, bright and attractive – trông rất vui vẻ và hấp dẫn; 9. Full of energy – đầy năng lượng [127, tr.627] và “fair” với “rose” (fair: 8. (literary or old use) beautiful – xinh đẹp) [127, tr.553] đã tạo nên hướng nghĩa biểu trưng cho sự vui vẻ của hai thành ngữ này. Chúng diễn tả một người trông rất vui tươi, luôn tươi cười với người khác, trong dáng vui vẻ hạnh phúc, tươi trẻ, tràn trề sức sống, tươi như hoa.

Khi thể hiện cách nhìn lạc quan, vui vẻ về cuộc sống, người Anh thường sử dụng thành ngữ rose – coloured spectables (lăng kính màu hồng), từ rose ở đây được dùng với nghĩa màu hồng – một màu sắc biểu trưng cho niềm tin vào cuộc sống, lãng mạn và đầy sự lạc quan, vui vẻ. e. Biểu trưng cho sự hoàn hảo

Vẻ đẹp hoàn hảo của bông hồng, từ màu sắc, hương thơm, đến cách lợp cánh và vẻ mịn màng như nhung của cánh hoa đã gợi dẫn đến một hướng nghĩa biểu trưng cho sự hoàn hảo, hoàn mỹ thể hiện trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh. Hình ảnh hoa hồng cũng được sử dụng để diễn tả sự tốt đẹp trong cuộc sống, có 5/36 (13,9%) thành ngữ, tục ngữ chứa hoa hồng để diễn tả điều này: Everything in the garden is rosy (Tất cả mọi thứ trong vườn đều là hoa hồng / màu hồng) nghĩa là everything is fine (Tất cả mọi thứ đều tốt đẹp), hoặc Everything's coming up rose (Mọi điều xảy ra là tốt đẹp hoặc tốt hơn mong đợi).

114

Ngay cả khi con người gặp những hoàn cảnh khó khăn, mắc sai lầm trong cuộc sống hay người khác nghĩ không tốt về họ, nếu họ cố gắng vượt qua và sửa chữa những sai lầm thì họ sẽ giành lại được những điều tốt đẹp, vẫn có được danh tiếng tốt đẹp về bản thân. Để diễn tả những điều tốt đẹp có được sau sự nỗ lực của con người, trong tiếng Anh có những câu thành ngữ, tục ngữ có chứa “rose” (hoa hồng) để thể hiện điều đó. Thành ngữ come out of sth smelling of roses or smelling like a roses có hàm ý rằng bạn được biết đến với những điều không tốt nhưng vẫn có được mùi thơm của hoa hồng, của những điều tốt đẹp. Sự kết hợp trên trục tuyến tính của “come out” với “something” (come out: 4. (of news or the truth) to become known – trở nên được biết đến) [127, tr.297] đối xứng với sự kết hợp của “smelling” và “rose”

(smell: 1. The quality of sth that people and animals sense through their noses – chất lượng của cái gì mà người hoặc vật cảm nhận qua mũi) [127, tr.1473]. Nói cách khác, nếu bạn thất bại trong lĩnh vực nào đó, bạn vẫn có được danh tiếng tốt, thậm chí bạn có thể có liên quan đến những điều mà tạo cho mọi người có suy nghĩ tồi tệ về bạn (If you come out of something, you still have a good reputation, even though you have been involved in sth that might give a bad opinion of you). Thành ngữ to smell the roses (to appreciate what is often ignored – đánh giá cao những gì thường bị lãng quên / lảng tránh). Ví dụ trên càng chứng minh được giá trị cao đẹp của loài hoa hồng trong quan niệm của người Anh, một loài hoa đẹp, đáng trân trọng.

Ngoài những ý nghĩa biểu trưng tích cực về cái đẹp, sự tinh khiết, sự hoàn hảo, hạnh phúc hay thành công, thành ngữ chứa từ hoa hồng trong tiếng Anh còn mang một hướng nghĩa biểu trưng tiêu cực, chỉ thói xa hoa, hưởng lạc, có 1/36 (2,8%) thành ngữ diễn tả điều này: to gather roses (life’s rose) (thu lượm hoa hồng). Tự thân từ “rose” không mang nghĩa biểu trưng tiêu cực, nhưng do sự kết hợp giữa “rose” (ẩn dụ cho người phụ nữ, cô gái đẹp) với từ “gather” (gather: 5. to pick, to cut or to collect crops – ngắt, hái và thu lượm vụ mùa) [127, tr.647] đã hình thành nên hướng nghĩa phê phán những người đàn ông đi tìm kiếm các cô gái đẹp, tìm thú hưởng lạc, thưởng thức hương thơm lạc thú, hoặc con đường truy hoan sa đà. Thành ngữ chứa từ hoa hồng cũng mang một triết lý của cuộc sống: never a rose without the prick, there is no rose without thorn (Không có hoa hồng nào không có gai), every rose has its thorn, và roses have thorns (Mỗi bông hồng đều có gai của nó hay hoa hồng có gai) (rose ẩn dụ cho những điều tốt đẹp, thorn ẩn dụ cho những sự khó khăn, gai góc của cuộc đời) (This means that good things always have something bad as well; like the thorn on the stem of a rose – nghĩa là trong những điều tốt đẹp luôn có những điều xấu hay điều không tốt; giống như chiếc gai trên cành hoa hồng) để nói lên một sự thật hiển nhiên rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng dễ chịu, không phải lúc nào cũng hoàn hảo, đó là tính nhị nguyên của cuộc đời. 3.1.2.2. Nghĩa biểu trưng của “lily” (hoa loa kèn)

115

Hoa loa kèn (còn gọi là hoa bách hợp hoặc hoa huệ tây) thường nở rực rỡ nhiều màu sắc ấn tượng và có hình dạng giống như chiếc loa, chiếc kèn.

116

Nếu như hoa hồng được mệnh danh là nữ hoàng thì hoa loa kèn là ‘Vua’ của các loài hoa. Hoa loa kèn, loài hoa của sự trong sạch, tinh khôi đến thuần khiết khiến cho bất cứ ai vô tình hay hữu ý bắt gặp vẻ đẹp của những bông hoa ấy cũng đều không khỏi trầm trồ, lưu luyến. Theo truyền thuyết về các loài hoa, đằng sau vẻ đẹp kiêu sa của cây hoa loa kèn là cả một ‘bầu trời’ ý nghĩa. Nó không chỉ được mọi người biết đến là loài hoa của sự thuần khiết, trong sáng mà đó còn là đóa hoa của những cuộc hội ngộ, đoàn tụ hay đó cũng là những lời chúc ý nghĩa, chân thành của người tặng dành cho người nhận hoa vạn sự như ý, đặc biệt trong hôn nhân. Hoa loa kèn tượng trưng cho nàng Hera, vợ của thần Zeus, là nữ thần của phụ nữ và hôn nhân. Tuy nhiên, với mỗi màu sắc khác nhau, hoa loa kèn lại mang một ý nghĩa riêng biệt. Hoa loa kèn đỏ tượng trưng cho sự tự hào, kiêu hãnh nhưng vẫn giữ lại cho mình chút bẽn lẽn, thẹn thùng, hoa loa kèn cam biểu tượng của sự căm hờn, phẫn nộ của một ai đó và hoa loa kèn trắng đại diện cho sự trinh nguyên, trong sáng, nhẹ nhàng. v.v. Trong tiếng Anh, hoa loa kèn mang ý nghĩa biểu trưng quan trọng chỉ sau hoa hồng bởi trong truyền thuyết hoa loa kèn là loài hoa đã có sự gắn kết sâu sắc với các vị thần và các vị anh hùng. Trong suốt thế kỉ 12 và 13, nhiều nhà nguyện thánh mẫu dành riêng cho Đức Mẹ Đồng trinh Mary được dựng lên ở Anh. Thời gian này, hoa loa kèn là loài hoa đặc biệt của Đức Mẹ, và cũng từ thời điểm này hoa loa kèn (Lily) xuất hiện như một vật trang trí kiến trúc nổi bật. Những cha cố thuộc dòng Xitô đã coi Đức Trinh nữ như người bảo trợ của họ, đã lựa chọn các biểu tượng này cho nhà thờ của họ, và tác phẩm chạm khắc của họ về những bông hoa loa kèn nở vẫn mang vẻ đẹp thương tiếc của nó. Cả những thầy tu dòng Đôminích và cha cố dòng Xitô đều có những truyền thuyết thú vị của riêng họ để tôn trọng loài hoa linh thiêng này. Trong hầm mộ hay trên lăng mộ của các Trinh nữ Kitô giáo, ta thường bắt gặp hình ảnh những bông hoa loa kèn. Trong các bức tượng và bức tranh, Thánh Joseph cầm trong tay một đóa hoa loa kèn, và trong số các biểu tượng của Đức Trinh nữ, chúng ta có thể nhìn thấy hoa loa kèn thung lũng hay hoa huệ thung (Lily of the valley) giữa những chông gai. Ngoài ra, trong nhiều bức ảnh về bản án cuối cùng, một bông hoa loa kèn được đại diện ở bên phải và một thanh kiếm ở bên trái của thẩm phán. Người ta nói rằng loài hoa của hoàng gia và hoàng tử

Hoa loa kèn đại diện cho quyền lực và vua bởi chính cái tên của nó ‘the

này là vật trang trí trên vương miện của Vua Solomon, biểu tượng cho tình yêu với lòng từ thiện hoàn hảo, tinh khiết và ngây thơ. [43]. crown Imperial or Fritilary’ – vương miện hoàng gia: The Crown Imperial; Lilies of all kinds, The flower – de – Luce being one. (Vương miện hoàng gia; hoa loa kèn các loại, Bông Hoa của Luce chỉ có một) Có thể nói, chính màu sắc kiêu sa và rực rỡ của hoa loa kèn đã làm cho nó trở thành đại diện của vương miện và tên của nó xuất hiện trong hầu như tất cả các ngôn ngữ Châu Âu. Kết quả khảo sát cho thấy có 9/75 thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa tên gọi hoa loa kèn, có những hướng nghĩa biểu trưng sau đây: a. Biểu trưng cho cái đẹp (trong trắng, thuần khiết)

117

Chính màu sắc của hoa loa kèn nói lên ý nghĩa biểu trưng của chúng. Có 5/9 (55,5%) thành ngữ, tục ngữ mang nghĩa biểu trưng này. Thành ngữ Lily – white (almost pure white in colour: lily - white skin, normally perfect – gần như có màu trắng tinh khiết: làn da trắng, thường là hoàn hảo) hoặc thành ngữ as white as a lily (pure, untouched by corruption or imperfection, above reproach – nghĩa là tinh khiết, hoàn hảo, không thể chê, không bị ảnh hưởng bởi thói tham nhũng hay sự không hoàn hảo,) trong tiếng Anh được sử dụng để biểu trưng cho sự trong trắng, tinh khiết và hoàn hảo. Chính vì sự thuần khiết như vậy nên nếu khen loài hoa này là đẹp là việc làm thừa, không cần thiết. Trong tiếng Anh, thành ngữ gild the lily; paint the lily (hay gild refined gold) có nghĩa là làm một việc thừa; khen phò mã tốt áo được sử dụng để nói làm một việc gì vô ích, mất thời gian, tốn công vô ích, tìm cách làm cho cái đã tốt đẹp rồi trở nên tốt đẹp hơn nữa. Sự kết hợp giữa động từ “gild” và “lily” (hoa “lily” ẩn dụ cho vẻ đẹp tinh khiết, trong trắng) (Gild: 1. To make sth look bright, as if covered with gold – làm cho cái gì đó sáng hơn, như thể được mạ vàng) [127, tr.659] đã tạo nên ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ này.

Ngoài ra, hoa loa kèn được sử dụng cùng với hoa hồng trong thành ngữ lilies and roses (hoa loa kèn và hoa hồng) để biểu tượng cho nước da trắng hồng của ai đó hay một người trong trắng, tinh khiết. b. Biểu trưng cho người phụ nữ

Hoa loa kèn được biết đến trong lịch sử gắn bó mật thiết với hình ảnh của Đức Mẹ Đồng trinh nên trong tiếng Anh loài hoa này được sử dụng trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao mang ý nghĩa biểu trưng cho cái đẹp, sắc đẹp của người phụ nữ, có 3/9 (33,3%) thành ngữ, tục ngữ, ca dao để thể hiện nghĩa biểu trưng này: The lady lily, looking gently down (Hoa loa kèn quý cô, trông thật dịu dàng nữ tính). Loài hoa loa kèn trắng xinh đẹp được coi là một biểu tượng của sự thuần khiết và cái đẹp, hai đức tính tiêu biểu của Đức Mẹ Đồng trinh (Beautiful white lily is devoted to our Ladies. It is considered an emblem of purity and beauty, two traits especially characteristic of the Virgin) và:

“The lily, of all children of the spring The palest – fairest, too, where fair ones are” (Hoa loa kèn, của tất cả trẻ em trong mùa xuân Mỏng manh nhất – ngay thẳng nhất, Nơi bắt nguồn của sự thẳng thắn) Những câu ca dao này được sử dụng để nói lên phẩm chất tốt đẹp của

con người giống như vẻ đẹp thuần khiết của loài hoa này.

Ngoài ra, người Anh thường nói as fair as a lily (Tươi như hoa / hoa loa kèn hay đẹp như hoa loa kèn) để diễn tả một người luôn tươi cười với người khác, trong một tâm thế vui vẻ và hạnh phúc. c. Biểu trưng cho sự yếu đuối, nhút nhát Khi muốn nói đến sự nhút nhát (thường của phái nữ), người Anh thường dùng thành ngữ: Lily-livered (adj) (gan như hoa loa kèn) nghĩa là thiếu sự dũng cảm, nhút nhát, chỉ có 1/9 (11,1%) thành ngữ diễn tả điều này. 3.1.2.3. Nghĩa biểu trưng của daisy (hoa cúc)

118

Hoa cúc xuất hiện từ rất lâu đời và được nhiều người ưa thích bởi không chỉ có vẻ đẹp nhẹ nhàng hay mùi hương dễ chịu, mà hoa cúc còn có ý nghĩa thể hiện sự cao thượng, lạc quan, chín chắn. Theo văn hóa phương Đông, ở Trung Quốc, hoa cúc là biểu tượng của sự trường tồn, vì vậy đến nay hình bông hoa cúc vẫn được đúc trên đồng xu 1 nhân dân tệ. Còn ở đất nước

mặt trời mọc, Nhật Bản, hoa cúc là biểu tượng của sự giàu có, cao sang, quyền quý. Đặc biệt, hoa cúc thường được in trên quốc huy, huy chương. Trong khi đó, ở Việt Nam, hình ảnh hoa cúc gắn liền với sự hiếu thảo, yêu thương cha mẹ.

Kết quả khảo sát cho thấy trong tiếng Anh có 6 thành ngữ, tục ngữ

chứa từ “daisy” (hoa cúc) mang nghĩa biểu trưng như sau: a. Biểu trưng cho cái chết

119

Trong tiếng Anh, thành ngữ, tục ngữ chứa từ daisy (hoa cúc) chủ yếu biểu tượng cho cái chết, có 3/6 (50%) thành ngữ mang nghĩa biểu trưng này: picking daisies (hái hoa cúc); be pushing up the daisies (đẩy hoa cúc lên/ xô đẩy hoa cúc) (to be dead and in a grave / means dead and buried – nghĩa là chết và đã được chôn cất) và turn up one’s toes to the daisies (hướng bàn chân về phía hoa cúc) (If someone has turned up their toes to the daisies, it means that the person died – Nếu ai đó đã hướng những ngón chân của họ đến hoa cúc, có nghĩa là người đó đã chết). b. Biểu trưng cho sự vui vẻ, ngạc nhiên và nhanh nhẹn Từ “daisy” theo tiếng Anh cổ (old English) là “day’s eye” (mắt ban ngày) bởi vì hoa nở suốt thời gian ban ngày và khép lại vào buổi chiều. Trong tiếng Anh, ý nghĩa của loài hoa cúc là sự ngây thơ (innocence) và tình yêu của mẹ (mother’s love). Trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh có chứa từ “daisy” (hoa cúc) còn có thêm nghĩa biểu trưng cho sự vui tươi, khỏe mạnh và nhiều năng lượng, có 3/6 (50%) thành ngữ, tục ngữ như: as fresh as a daisy (healthy and full of energy – khỏe mạnh và đầy năng lượng hay tươi như hoa cúc/ tươi như hoa) diễn tả tâm trạng hạnh phúc và vui vẻ, khỏe mạnh của một ai đó, luôn tươi cười với người khác, tươi trẻ, tràn trề sức sống. Sự kết hợp trên trục ngữ đoạn của tính từ “fresh” với “daisy” (fresh: 8. Looking clear, bright and attractive – trông rất vui vẻ và hấp dẫn; 9. Full of energy – đầy năng lượng) [127, tr.627] đã hình thành nên nghĩa biểu trưng cho sự vui vẻ, tràn đầy năng lượng. Ngoài ra, thành ngữ to push up the daisies biểu đạt ý nghĩa làm việc gì một cách nhanh nhất có thể, ví dụ: I’ll pushing up daisies by the time that happens (Tôi sẽ làm nhanh nhất có thể vào thời điểm điều đó xảy ra); hay Oops a daisy, sự kết hợp giữa thán từ “Oops” với “daisy” đã tạo

nên nghĩa biểu trưng chỉ sự ngạc nhiên trước sự việc nào đó (An expression used to indicate surprise) 3.1.2.4. Nghĩa biểu trưng của “violet” (hoa viôlét)

Viôlét là loài hoa nhỏ có màu tím, nó bắt nguồn từ tiếng từ tiếng Pháp cổ ‘violete’. Với những cánh mỏng manh, nhẹ nhàng, thanh khiết, duyên dáng và vô cùng đáng yêu, hoa viôlét đã thu hút được nhiều ánh nhìn từ ngay lần đầu tiên. Màu xanh tím của hoa violet biểu trưng cho sự trung thành. Biểu tượng của hoa viôlét đã có từ lâu. Ở Paris nước Pháp, 50 năm trước, mọi người cài hoa viôlét là để thể hiện rằng họ là người của Đảng tự do. Hoa viôlét vàng biểu trưng cho sự hạnh phúc vùng nông thôn và hoa viôlét trắng biểu trưng cho sự ngây thơ và khiêm tốn. Chính với ý nghĩa biểu trưng cho sự ngây thơ, khiêm tốn của loài hoa viôlét mà người Anh thường miêu tả một người có tính cách nhút nhát, hay xấu hổ bằng thành ngữ a shrinking violet (a way of describing a very shy or timid person – một cách để miêu tả một người rất nhút nhát hay xấu hổ):

Trong khối ngữ liệu khảo sát, chúng tôi chỉ tìm thấy duy nhất 1 thành ngữ chỉ loài hoa violet mang ý nghĩa biểu trưng cho sự kín đáo, sâu sắc, nhút nhát của người Anh, đúng như cái màu tím xanh thâm trầm của nó. Bên cạnh đó, có 2 câu văn dân gian, ca dao nói về truyền thống và ý nghĩa của loài hoa vi ô lét: Go a-mothering, and find Violets in the lane nói đến một phong tục ngày của mẹ, người Anh thường chọn hoa vi ô lét và bánh ngọt để tặng cho các bà mẹ và Lay her i’ the earth; And from her fair and unpolluted flesh; May violets spring để nói đến vẻ đẹp giản dị của loài hoa vi ô lét không bị vẩn đục và rất ngay thẳng, là biểu trưng cho phẩm chất tốt đẹp của con người. Ngoài các loài hoa mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc trên, trong tiếng Anh cũng có những câu thành ngữ, tục ngữ chứa tên các loài khác như: hoa anh thảo (primrose) với the primrose path (way) (An easy life that is full of pleasure but that causes you harm in the end – nói đến cuộc sống xa hoa ban đầu nhưng gây ra những sự thất bại, tổn hại sau này)

120

Kết quả khảo sát cho thấy, số lượng thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh có chứa từ “flower” (hoa) không nhiều (18 thành ngữ, tục ngữ) nhưng chúng thể hiện khá nhiều nghĩa biểu trưng và số lượng các nghĩa biểu trưng của các thành ngữ, tục ngữ này là tương đương nhau. Trong số các thành ngữ, tục ngữ

có chứa tên loài hoa, thành ngữ, tục ngữ có chứa “rose” (hoa hồng) chiếm số lượng nhiều nhất (36 thành ngữ tục ngữ) và có nhiều nghĩa biểu trưng nhất. Trong đó, nghĩa biểu trưng cho người phụ nữ đẹp chiếm số lượng cao nhất (12/36 thành ngữ tục ngữ); tiếp sau là hai nghĩa biểu trưng cho sự quyền quý, giàu sang và biểu trưng cho sự tốt đẹp, toàn hảo (5/36 thành ngữ tục ngữ) và nghĩa biểu trưng có số lượng ít nhất là thói xa hoa, lạc thú (1/36 thành ngữ tục ngữ). Các thành ngữ tục ngữ có chứa “lily” (hoa loa kèn) đứng vị trí số 2 với 9 thành ngữ tục ngữ với 3 nghĩa biểu trưng, trong đó nghĩa biểu trưng cho vẻ đẹp trong trắng, tinh khiết (giống như màu trắng tinh khiết của loài hoa) chiếm số lượng nhiều nhất (5/9 thành ngữ tục ngữ). Vị trí số 3 là các thành ngữ tục ngữ chứa “daisy” (hoa cúc) với 2 nghĩa biểu trưng và cuối cùng là các thành ngữ chứa “violet”. Mặc dù hoa viôlét là một trong 3 loại hoa chính có nhiều ý nghĩa biểu trưng ở nước Anh nói riêng và Châu Âu nói chung nhưng nó lại có rất ít nghĩa biểu trưng trong thành thành ngữ, tục ngữ.

3.2. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt có chứa thành tố hoa và tên gọi các loài hoa 3.2.1. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa Ở Việt Nam, từ xa xưa, hoa luôn được coi là biểu tượng của cái đẹp, biểu tượng cho sự sống căng tràn. Dân tộc Việt Nam và mỗi cá nhân người Việt đều gửi gắm vào bông hoa những nỗi niềm, những trăn trở hay những cung bậc cảm xúc, những quan hệ ứng xử. Vì vậy, các thành ngữ, tục ngữ, ca dao nói về hoa cũng khá phong phú. Chúng tôi đã thu thập được 156 thành ngữ, tục ngữ và ca dao tiếng Việt có chứa thành tố “hoa” và tên các loài hoa, trong đó có 86/156 thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa thành tố “hoa”.

121

Trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt, từ hoa kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác trên trục ngữ đoạn, có mối quan hệ tương tác và liên hội với các yếu tố ngữ nghĩa trên tục tuyến tính để tạo nên lớp nghĩa biểu trưng khác nhau. Còn trong ca dao, bản thân các từ chỉ hoa tự thân chúng mang tính biểu trưng trong ngữ cảnh sử dụng cụ thể. Các hình ảnh biểu trưng của hoa trong ca dao phần lớn được tạo nên do cơ chế ẩn dụ, trong đó, hoa thường được ẩn dụ cho con người, mà đa số là ẩn dụ cho người phụ nữ. Có thể khái quát ý nghĩa biểu trưng của các thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố “hoa” theo các hướng sau đây:

a. Biểu trưng cho cái đẹp

122

Cũng như nhiều cộng đồng ngôn ngữ khác, người Việt thường mượn hoa để biểu trưng cho vẻ đẹp của người phụ nữ. Xuất phát từ đặc trưng bản thể của hoa, “là hình mẫu phát triển của sự sống, của nghệ thuật tự nhiên, phi nhân tạo” [43, tr.427], với vẻ đẹp về hình dáng, màu sắc, và hương thơm quyến rũ, hoa trở thành biểu tượng của cái đẹp toàn hảo và sự trọn vẹn, vì vậy, khi nhắc đến hoa, người Việt sẽ liên tưởng đến vẻ đẹp của người phụ nữ. Vẻ đẹp mong manh, rực rỡ và mang tính thoáng qua của hoa cũng chính là một nét tương đồng với tính nữ, khiến hoa trở thành đại diện cho tính nữ trong nhiều cộng đồng văn hóa, trong đó có văn hóa Việt. Vì vậy, có thể nói người con gái luôn là bông hoa đẹp nhất, tinh túy ngọt ngào nhất trong vô số các sáng tạo của tạo hóa. Về vẻ đẹp của người phụ nữ, theo quan niệm của người Việt đó là những nét đẹp theo tiêu chuẩn thẩm mỹ truyền thống Á Đông: mũi dọc dừa, mặt trái xoan, da trắng hồng, tóc đen dài óng mượt, lông mày lá liễu…gợi lên hình ảnh những người phụ nữ hiền hậu, dịu dàng, có vẻ đẹp mặn mà, tự nhiên. Kết quả khảo sát cho thấy có 24/86 (27,9%) câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa thành tố hoa mang ý nghĩa biểu trưng cho cái đẹp. Trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt, để ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ, ông cha ta dùng các thành ngữ, tục ngữ có chứa thành tố hoa như: Mặt liễu mày hoa, Mặt hoa da phấn, Tươi như hoa; tươi như hoa nở biểu trưng cho cái đẹp cổ điển, trong đó, hoa đồng thời là biểu trưng cho cái đẹp nữ tính. Rõ ràng trên trục ngữ đoạn, các kết hợp của “hoa” với “liễu”, “hoa” với “phấn”, “hoa” với “tươi” (đều là các từ mang ý nghĩa chỉ loài cây đẹp và mềm mại, thanh tao, thường dùng để ví với cái đẹp nữ giới trong văn thơ Trung đại (liễu); chỉ chất liệu dùng để trang điểm, làm đẹp rất truyền thống của giới nữ (phấn); chỉ trạng thái rạng rỡ, viên mãn của đời hoa (tươi)) đã góp phần làm rõ ý nghĩa biểu trưng về vẻ đẹp của người phụ nữ. Với tiêu chí về cái đẹp của phương Đông, thì người phụ nữ đẹp là phải có miệng tươi. Miệng tươi, đẹp như hoa thể hiện nét đôn hậu, quyến rũ, dễ mến, dễ gần, và cũng hàm chứa chỉ dẫn về một tố chất khéo léo trong ứng xử, lời ăn tiếng nói của người phụ nữ, vì thế câu ca dao “Nhác trông tấm áo có duyên; Miệng cười hoa nở, càng nhìn càng ưa” ca ngợi cách cười, nói của một người phụ nữ đẹp. Sự kết hợp của “hoa” với

“ngọc” (Ngọc: Đá quý, thường dùng làm vật trang sức, trang trí) [62, tr.882] đã giúp làm tăng giá trị của người phụ nữ: đẹp tựa hoa, cao quý tựa ngọc: “Hoa cười, ngọc thốt”, “Hoa dung ngọc mạo”. Hai câu thành ngữ này ca ngợi nhan sắc hoàn hảo của người phụ nữ, sự kết hợp trên trục tuyến tính giữa “hoa” và “ngọc” đã tạo nên lớp nghĩa liên hội, giúp liên tưởng đến vẻ đẹp dung mạo và cốt cách toàn hảo, đẹp từ hình thức đến tư thế, tác phong của người phụ nữ. Tương tự, kết hợp giữa “hoa” với “nguyệt” (trăng), đi kèm với các định ngữ “nhường” (Nhường: để cho người khác được hưởng phần mà mình đang hưởng hoặc lẽ ra mình được hưởng) [62, tr. 938], và “thẹn” (Thẹn: 1. Tự cảm thấy bối rối, mất tự nhiên khi tiếp xúc với đám đông hay người khác giới cùng lứa tuổi; 2. Tự cảm thấy mình có điều gì đó không nên, không phải hoặc không xứng đáng) [62, tr.1192) đã giúp câu thành ngữ “Hoa nhường, nguyệt thẹn” biểu trưng cho vẻ đẹp kiêu sa, rực rỡ không gì có thể sánh của người con gái đẹp, nhan sắc rực rỡ hơn cả hoa, sáng hơn cả vầng trăng, có sức lôi cuốn mọi ánh nhìn, phàm trên đời có những thứ gì được xem là đẹp nhất, đáng chiêm ngắm nhất (hoa, trăng) cũng đều phải nhún mình, lùi bước.

Tuy nhiên, trong tiếng Việt, các thành ngữ, tục ngữ và ca dao chứa từ hoa không chỉ mang ý nghĩa biểu trưng cho vẻ đẹp, hay nét đẹp trên khuôn mặt của người phụ nữ ở trạng thái tươi tắn mà còn miêu tả khuôn mặt đẹp như hoa của người phụ nữ nhưng ở trạng thái rầu rĩ, u buồn trước những cảnh đời éo le hay những gian truân mà người con gái từng trải qua như: hoa sầu liễu rủ; ủ dột nét hoa; Ra về ủ rột nét hoa; Bước đi một bước ruột rà quặn đau. Hình ảnh “hoa’ (cái đẹp của người nữ) trong kết hợp với “sầu” (sầu.đg. (cũ; vch). Buồn sâu trong lòng (thường vì nhớ nhung, xa cách) [62, tr.1095); “hoa” trong kết hợp với ‘ủ dột” (ủ dột. t.1.(id). Bầu trời âm u, ảm đạm, gây ấn tượng buồn chán. 2. (nét mặt hoặc dáng điệu) lộ rõ vẻ buồn bã, rầu rĩ [62, tr.1386] cho thấy hình ảnh người phụ nữ âu sầu, buồn bã trước cảnh đời éo le, ngang trái, bất hạnh. Thậm chí, hình ảnh người con gái đẹp yểu mệnh cũng được thể hiện trong thành ngữ chứa đựng từ hoa như: hoa rụng hương bay. Bông hoa rụng là kết thúc một chu trình sống, phần hồn cốt của bông hoa (hương) vì thế mà cũng tan biến, hư vô.

123

Về vẻ đẹp tâm hồn và phẩm giá con người, khi đánh giá về giá trị của một loài hoa, người ta thường không chỉ dựa vào màu sắc, dáng vẻ của bông

hoa, đài hay cánh hoa; thời gian nở của hoa, mà còn chú trọng đến mùi hương của loài hoa ấy. Hoa đẹp, sang, quý là loài hoa hội tụ đủ sắc và hương. Có loài hoa rực rỡ sắc màu nhưng không có hương thơm thì cũng không được xếp hạng; có loài hoa cánh đẹp, màu sắc rực rỡ nhưng mùi hương hắc, nồng, hoặc hôi thì cũng mất giá trị; có loài hoa, tuy màu sắc trang nhã, giản dị nhưng có mùi hương thơm ngát, làm ngây ngất lòng người thì mãi mãi vẫn được người đời tôn vinh. Vì vậy mà hoa quỳnh dẫu có nở về đêm, và khoảnh khắc mà bông hoa hé nở cũng chỉ tính bằng giờ, bằng phút, nhưng vẻ đẹp thanh tao, đài các với màu trắng tinh khiết, hương thơm nồng nàn quyến rũ của hoa vẫn khiến biết bao người, bao tao nhân mặc khách phải thức đêm, chong đèn thưởng hoa: Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên. Hoa đi vào thi ca, nhạc họa, được tôn vinh, và thậm chí trở thành cái tên ưa chuộng của giới nữ. Khi hoa trở thành biểu trưng cho vẻ đẹp tâm hồn hay phẩm giá của con người, đặc biệt là người phụ nữ, thì đặc trưng về mùi hương của hoa được ông cha ta lựa chọn để đánh giá và biểu trưng cho phẩm hạnh của con người. Để ca ngợi phẩm giá cao quý của con người, tục ngữ có câu Người ta là hoa đất, hay người như hoa ở đâu thơm đấy. Sở dĩ câu tục ngữ trên có nghĩa biểu trưng này là do sự kết hợp giữa “hoa” và người” đã cho phép đặt dấu bằng trong câu tục ngữ: “hoa” = “người”; kết hợp giữa “người” với “hoa” và “thơm” (Thơm t.: 1. Có mùi như hương của hoa, dễ chịu, làm cho thích ngửi; trái với thối; 2. (tiếng tăm) tốt, được người đời nhắc đến, ca ngợi [62, tr. 1224] cho phép suy ra “hoa thơm” = đẹp, quý; “người” + “thơm” = “cốt cách cao đẹp”. Còn trong câu thành ngữ: hoa thơm đánh cả cụm hoa thơm dùng để chỉ người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp và cả câu thành ngữ có nghĩa bóng ám chỉ đến những anh chàng tốt số lấy hai hay ba chị em ruột một nhà về làm vợ.

124

Ngoài ra, trong kho tàng ca dao Việt Nam, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những câu ca có chứa từ hoa để ca ngợi phẩm giá tốt đẹp của con người, ca tụng ảnh hưởng của cái đẹp, cái tốt đến môi trường xung quanh, nói lên giá trị cao quý của con người như: Hoa thơm thơm nức cả rừng; Hoa thơm thơm lạ thơm lùng, Thơm cây đến rễ người trồng cũng thơm; Hoa thơm trồng dựa cành rào, Gió nam gió bắc, hướng nào cũng thơm; hay Em như hoa thơm mà mọc góc rừng, Thơm cay ai biết, ngát lừng ai hay. Trong các câu ca dao này, “hoa thơm” được dùng với ý nghĩa ẩn dụ cho người phụ nữ, dựa trên nét

tương đồng về bề ngoài (đẹp), mùi hương (danh tiếng), thân phận thụ động (hoa thụ động chờ ong bướm đến thụ phấn; phụ nữ sinh ra là để cho giới đàn ông tìm đến, tán tỉnh, yêu đương), giai đoạn sắc hương chóng vánh (đời hoa ngắn ngủi, chóng tàn; đời người con gái có thì, xuân sắc qua mau). Các kết hợp trên trục ngữ đoạn “em” với “hoa” (em = hoa), “em” với “thơm”, “cay”, “ngát lừng” (là các đặc trưng giá trị của “hoa” = giá trị của “em”) đã tạo nên hướng nghĩa biểu trưng cho cái đẹp của người phụ nữ trong các câu ca dao trên.

Về vẻ đẹp trinh tiết, trong trắng, để ca ngợi người con gái còn nguyên trinh tiết, ông bà ta liên tưởng đến một bông hoa còn nguyên đài nhụy, chưa hé mở lớp cánh nhung, vẫn còn gói gọn hương thơm trong những lớp cánh mỏng manh. Hương thơm ở đây chính là phần giá trị nhất của đời hoa, cũng như trinh tiết là thứ làm nên giá trị, phẩm hạnh, cốt cách của người con gái mới lớn. Xuất phát từ ý nghĩa của từ “phong” (Phong. d. Gói, bọc vuông vắn, thường bằng giấy gấp lại và dán kín [62, tr.1003), một bông hoa còn “phong nhị” có nghĩa là chưa hé mở cánh, còn giữ nguyên mùi hương trinh nguyên; hoặc ý nghĩa của từ “đương” (Đương. ph. Đang) [62, tr.465) cho biết một bông hoa “đương nhụy” là còn đang ở độ e ấp, sắp hé nở, còn giữ nguyên vẻ đẹp chưa phô bày, các kết hợp trên trục ngữ đoạn “hoa” + “thơm”, “hoa” + “phong nhị/nhụy”, “hoa” + “đương nhụy/nụ” đã giúp tạo nên hướng nghĩa biểu trưng cho cái đẹp trinh nguyên của các thiếu nữ mới lớn, còn e ấp, chứa vẻ đẹp kín đáo đang chờ được đánh thức, phô trương với đời: Hoa thơm phong nhị; Hoa xuân phong nhụy; Hoa xuân đương nhụy đều mang ý nghĩa biểu trưng này. Tương tự, Hoa còn đang nụ; Hoa còn ngậm nụ hay Hoa còn phong nhụy.

Trong ca dao, hoa còn có nghĩa biểu trưng là ngon, là đẹp khi hình ảnh hoa được so sánh với bát cơm hay miếng trầu: “Bát cơm em nấu như hoa; Bát canh em nấu như là mật ong” hay “Miếng trầu như trúc như thông; Như hoa mới nở, như rồng mới thêu”.

125

Vì xem hoa biểu trưng cho cái đẹp của giới nữ, trong văn hóa của người Việt, các bậc cha mẹ thường đặt tên cho các cô con gái bằng tên của các loài hoa, để gửi gắm ước mong con cái của họ có dung mạo tươi đẹp như hoa, có phẩm chất (thơm) như hoa, và cuộc đời sau này cũng được người đời nâng niu, chăm chút, ái mộ như hoa. Các loài hoa tiêu biểu thường được

người Việt dùng để đặt tên cho con gái đều là các loài hoa đẹp, có nhiều ý nghĩa biểu trưng tích cực như: Đào, Mai, Sen, Hồng, Lan, Quỳnh, Cúc. v.v. b. Biểu trưng cho người phụ nữ

Chúng tôi tìm được 9/86 (10,4%) thành ngữ, tục ngữ thể hiện nghĩa biểu trưng cho người phụ nữ. Bởi trong văn học dân gian, hoa thường được sử dụng theo ẩn dụ chỉ giới nữ, và hương thơm của hoa thường được sử dụng theo ẩn dụ biểu trưng cho vẻ đẹp nội tâm, cốt cách của người phụ nữ, nên trong các thành ngữ, tục ngữ có chứa thành tố hoa, khi các kết hợp trên trục ngữ đoạn thay đổi, lập tức sẽ làm thay đổi hướng nghĩa biểu trưng của cả thành ngữ, tục ngữ. Trên trục tuyến tính, khi hoa kết hợp với các tính từ chỉ trạng thái hư nát như “tàn” (Tàn. Đt.1. (hoa) ở trạng thái héo khô dần, biểu hiện sắp kết thúc sự tồn tại. 2. (lửa) ở trạng thái yếu dần, biểu hiện sắp tắt [62, tr. 1137), hay “rữa” (Rữa. t. Nát nhủn ra đến mức dễ rời ra, dễ rã ra đến khi đụng đến, do chín quá hoặc quá thối [62, tr. 1076); hoặc “hoa” kết hợp với các từ “thải” (Thải. đt. Loại bỏ đi những cái không cần thiết, không có tác dụng [62, tr.1164); “thừa” (Thừa.t. 1. Có hoặc đạt số lượng trên mức cần thiết; trái với thiếu; 2. Còn lại sau khi đã dùng đủ rồi; 3. Có một cách vô ích, không cần thiết [62, tr.1244) trong các thành ngữ Hoa tàn nhụy rữa; Hoa thải hương thừa đã tạo nên hướng nghĩa biểu trưng tiêu cực, chỉ người con gái thất tiết, không có phẩm hạnh, có lối sống buông thả, dễ dãi, không biết gìn giữ, trân quý trinh tiết của mình, để tự đánh mất giá trị của bản thân trong con mắt của người đời, tự biến mình thành thứ thừa thãi, vô giá trị. Thậm chí, nó như một lời kết tội, phán xét đanh thép của xã hội dành cho những cô gái thất tiết. Tương tự, theo logic, cái giá trị nhất của đời hoa là “nhị/nhụy”, trên trục ngữ đoạn, khi “nhị” kết hợp với “mất” (Mất. đt. 1. Không có, không thấy, không tồn tại; 2. Không còn thuộc về mình nữa [62, tr. 801] trong câu tục ngữ “Hoa mất nhị, lấy gì mà thơm” đã góp phần tạo nên hướng nghĩa biểu trưng phê phán, phủ nhận người con gái không còn trinh tiết, trở nên vô giá trị trong con mắt người đời, cũng giống như bông hoa mất nhị, không còn mùi hương nên không có ai muốn ngắm và thưởng hoa.

126

Phàm ở trên đời, cái gì ăn mãi cũng chán, ngắm mãi cũng không còn nhã hứng, và quen thuộc quá thì trở nên nhàm. Khi ví người con gái như bông hoa, người ta cũng dùng hình ảnh “Liễu chán, hoa chê”, “Liễu ngõ hoa

tường” để biểu trưng cho những mảnh đời của các cô gái giang hồ, bán thân làm trò mua vui, sống một đời ô nhục, qua tay đủ loại đàn ông, ê chề và tủi nhục không còn giá trị; hoặc chỉ những cô gái lẳng lơ, sống dễ dãi, buông thả trong quan hệ tình dục. Sở dĩ các câu thành ngữ trên có nghĩa biểu trưng này là do bản thân nghĩa của các từ “chán” (chán. đg.1. ở trạng thái không còn thèm muốn, không thiết nữa vì đã quá thỏa mãn; 2. ở trạng thái không những không thấy thích thú mà còn muốn tránh, vì phải tiếp xúc kéo dài với cái mình không ưa [62, tr.181), “chê” (chê. đg. Tỏ ra không thích, không vừa ý vì cho là kém, xấu) [62, tr.202], “tường” (tường. đg (vch; id) Biết rõ, hiểu rõ) kết hợp với “hoa”, “liễu” trên trục ngữ đoạn mang lại. Khi người đàn ông đã “no xôi chán chè”, “con ong đã tỏ đường đi lối về” rồi thì lại có xu hướng rời bỏ “bông hoa” này để tìm đến hút nhụy “bông hoa” khác. Vậy là đời người con gái ấy cũng là thứ bỏ đi mà thôi.

127

Một hướng biểu trưng khác nữa của các thành ngữ có chứa thành tố hoa là để chỉ một thứ nghề thấp kém, mạt hạng trong xã hội: nghề bán dâm hoặc nghề kinh doanh mại dâm: Buôn nguyệt bán hoa; Buôn phấn bán hương. Bản thân từ hoa không mang ý nghĩa biểu trưng tiêu cực, song sự kết hợp giữa hoa (ẩn dụ cho người phụ nữ) với những từ “buôn”, “bán” (những hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa bằng tiền tệ hoặc đổi chác) đã tạo nên hướng nghĩa biểu trưng cho nghề mua bán thân xác phụ nữ. Kết hợp của “phấn” và “hương” (hai thứ quý giá, có giá trị tôn vinh đời hoa - ẩn dụ cho người phụ nữ) với “buôn”, “bán” cũng tạo nên hướng nghĩa biểu trưng cho nghề trao đổi thân xác. Đây là một thứ nghề được xem là mạt hạng, đáng khinh trong xã hội. Trong một số thành ngữ khác, trên trục ngữ đoạn, khi “hoa” kết hợp với “bẻ” (bẻ. đg. 1. Gập lại làm cho gẫy; 2. Gập lại làm cho đổi sang hướng khác) [62, tr. 83]; “hoa” kết hợp với “say” (say.đg. 1. ở trạng thái bị ngây ngất, choáng váng, nôn nao do tác dụng của rượu hay, thuốc hay những yếu tố có tác dụng kích thích nào đó; 2. Yêu thích đến mức bị cuốn hút hoàn toàn, không còn nhớ gì, biết gì đến những cái khác) [62, tr.1089] đã tạo nên hướng nghĩa phê phán các đấng mày râu say hoa đắm nguyệt, đam mê tửu sắc, sẵn sàng bẻ hoa, dang tay phá nát đời hoa (thiếu nữ): Nước trẻ, bẻ hoa; “Mang bầu tới quán rượu dâu; Say hoa đắm nguyệt quên câu ân tình”.

128

c. Biểu trưng sự giàu sang, thành công Hoa là biểu trưng cho cái đẹp và những điều tốt đẹp nhất vì vậy hoa không chỉ có ý nghĩa biểu trưng cho vẻ đẹp hình thể, tâm hồn của người phụ nữ hay vẻ đẹp phẩm giá của con người mà hoa còn biểu trưng cho sự sung túc, giàu sang và vui vẻ, thành công của con người. Có 7/86 (8,1%) câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao mang nghĩa biểu trưng này. Từ ngàn xưa, trong mỗi dịp lễ hay những sự kiện quan trọng hoa đều xuất hiện để tôn thêm vẻ đẹp và sự sang trọng của gia chủ. Ví dụ, trong câu thành ngữ Vinh hoa phú quý; phú quý vinh hoa; nét nghĩa giàu sang không phải nằm ở bản thân từ hoa mà do sự kết hợp của nó với các từ khác trong ngữ đoạn: vinh hoa phú quý (vinh.t. Được dư luận xã hội đánh giá cao và rất kính trọng [62, tr.1427]; “phú quý” (phú quý. t. Giàu có và sang trọng) [62, tr.1012) mang lại. Con người giàu sang, phú quý cũng thường đi kèm với phong thái lịch lãm, sang trọng: Phong nhã hào hoa. Thêm vào đó, thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt có chứa thành tố hoa cũng được sử dụng để biểu trưng cho sự thành công của con người hay một công việc nào đó. Nó được diễn tả như những gì diễn ra trong quá trình hình thành và phát triển của loài hoa, trải qua bao ngày tháng chăm sóc khó khăn vất vả, từ lúc gieo trồng cho đến ngày đơm hoa, kết trái. Người Việt thường dùng các thành ngữ có chứa thành tố hoa để diễn tả một sự việc phát triển lên một cách tốt đẹp như: Khai hoa kết quả; Sinh hoa, kết quả; Đơm hoa, kết trái. (ví dụ: Trải qua bao nhiêu khó khăn đến nay công việc làm ăn của anh ta cũng khai hoa, kết quả). Việc kiến tạo nên hướng nghĩa biểu trưng này là do ý nghĩa của các từ ngữ kết hợp với thành tố hoa trên trục ngữ đoạn tạo thành. “Hoa” kết hợp với “khai” (khai.đg. 1. Mở cho thông lối thoát, bằng cách gạt bỏ những vật chắn cản trở; 2. Mở ra, làm cho bắt đầu tồn tại hoặc hoạt động) [62, tr.633]; “hoa” kết hợp với “sinh” (sinh. đg.1. Đẻ ra (nói về người); 2. Tạo ra, làm nảy nở) [62, tr. 1100]; và “đơm” (đơm.đg. Nảy sinh ra từ trong cơ thể thực vật; như đâm) [62, tr.455]. Do sự kết hợp các ý nghĩa liên hội, các thành ngữ trên mang nghĩa biểu trưng cho thành quả, hay sự thành công của con người. Ngoài nghĩa biểu trưng cho sự thành công, tốt đẹp, thành ngữ “đơm hoa, kết trái” trong tiếng Việt cũng thường xuyên được sử dụng để nói đến

kết quả của một tình yêu đẹp, sau thời gian dài yêu nhau, hai người đã đi đến hôn nhân. Nghĩa biểu trưng này hoàn toàn không xuất hiện trong tiếng Anh. d. Biểu trưng cho tình yêu Khi nói đến tình yêu, bất cứ ai trong chúng ta cũng dâng trào rất nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Trong tình yêu các cung bậc cảm xúc này thường thay đổi nhanh chóng: lúc mới yêu thì rụt rè, e ấp, rồi say mê, đắm đuối trong tình yêu, nhưng rồi có lúc lại dỗi hờn, ghen tuông, lúc thương yêu, nhớ nhung, sau đó lại đau khổ, thất vọng v.v. Thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt đã khéo léo sử dụng hình ảnh hoa và nhờ hoa nói lên những điều thầm kín theo một cách tế nhị và kín đáo, có 10/86 (11,6%) câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa thành tố hoa thể hiện ý nghĩa này. Nói đến tình yêu phải bao gồm hai người (thường là khác giới), trong tục ngữ, ca dao tiếng Việt, hình ảnh hoa và bướm sánh đôi thường được dùng theo lối ẩn dụ để biểu trưng cho lứa đôi quấn quýt: hoa đâu bướm đấy. Trong ngữ cảnh này, hoa (cái đẹp) vốn được ẩn dụ cho nữ và “bướm” với đặc tính hay bay lượn, vờn đuổi tìm những bông hoa đẹp, được ẩn dụ cho nam giới. Cặp từ “đâu – đấy” trên trục ngữ đoạn giúp tạo nên nét nghĩa song hành, hoa và bướm luôn quấn quýt bên nhau như một cặp bài trùng, không tách rời. Tuy nhiên, khi “hoa” và “bướm” kết hợp với động từ “lìa” (lìa. đg. Rời ra khỏi cái mà mình vốn gắn chặt vào) [62, tr. 730] đã giúp câu ca dao Ai làm cho bướm lìa hoa, Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng hướng đến ý nghĩa chỉ sự ngăn cách, chìa lìa trong tình yêu đôi lứa. Khi “hoa” kết hợp với “tầm” (tầm. (cũ) Tìm) [62, tr.1149], “hoa” kết hợp với “tìm” (tìm.đg. cố làm sao cho thấy ra được, cho có được (cái biết là có ở đâu đó)) đã tạo nên hướng nghĩa chỉ chuyện tình yêu nam nữ, chuyện hò hẹn yêu đương, các đấng mày râu phải dày công để tìm kiếm ý trung nhân của đời mình: Tầm hoa, vấn nguyệt; Vì hoa nên phải tìm hoa, Vì tình nên phải vào ra với tình.

129

Theo logic, “cây” và “hoa” là có cùng một cơ thể sống, từ đó gợi liên tưởng đến những con người trong cùng một gia đình, gia tộc (cùng gốc rễ), vì thế, câu tục ngữ yêu cây mới nhớ đến hoa muốn nói rằng vì yêu người nào đó nên tình cảm lan cả đến những người thân của người ấy. Hay để nói đến nỗi vương vấn của tình xưa nghĩa cũ, của cố nhân dành cho nhau, người Việt có câu thành ngữ Hoa xưa ong cũ, trong đó kết hợp “hoa – ong” tạo thành một

cặp như “hoa – bướm”, được ẩn dụ chỉ hai người khác giới. Kết hợp trên trục ngữ đoạn “hoa” với “xưa” (xưa.t.1. (hoặc d.). Thuộc về thời đã qua từ rất lâu rồi; trái với nay. 2. Đã có từ trước, từ lâu) [62, tr. 1486]; “ong” với “cũ” (cũ. t.1. Được dùng đã lâu và không còn nguyên như trước nữa. 2. Thuộc về thời đã qua, nay không còn nữa hoặc không thích hợp nữa. 3. Vốn có từ lâu hoặc quen biết từ trước, về mặt phân biệt với cái mới hoặc mới quen biết gần đây] [62, tr.291] đã tạo nên hình ảnh một cặp nam nữ có mối quan hệ xưa cũ, với nỗi niềm lưu luyến đã một thời dành cho nhau, rất khó phôi pha. Khi nói về tình yêu lứa đôi dang dở hai người yêu nhau không đến được với nhau, người Việt cũng dùng hình ảnh hoa tàn, hoa héo để thể hiện mối tình đã tàn héo theo kiểu ẩn dụ ý niệm (CON NGƯỜI LÀ THỰC VẬT HAY CÂY CỐI): Có sao Hôm mà chẳng có sao Mai, Hai đàng hai đứa, tình phai hoa tàn; Ai xui tôi đến chốn này, Trồng hoa hoa héo, trồng cây cây tàn. Xuất phát từ ý nghĩa của “héo” và “tàn” (trạng thái tàn lụi, phôi pha, kết thúc của đời cây/ hoa), kết hợp “hoa héo”, “hoa tàn” trong câu ca dao đã tạo nên hướng nghĩa biểu trưng cho một tình yêu không có đích, dang dở, không trọn vẹn, đầy ám ảnh day dứt.

130

Khi lên án, phê phán tính cách không chung thủy trong tình yêu, tác giả dân gian lại mượn lối chơi chữ từ hiện tượng đồng nghĩa “nguyệt” = “trăng” để phê phán về thói trăng hoa trong tình yêu: Trăng rằng trăng chẳng nguyệt hoa, Sao trăng chứa Cuội trong nhà hỡi trăng; và Anh đánh thì tôi đau đòn, Tính tôi hoa nguyệt mười con chẳng chừa; Vui thú hoa nguyệt. Thành ngữ Nguyệt nọ, hoa kia để chỉ những người đàn ông không chung tình, không đứng đắn, yêu một lúc nhiều người phụ nữ (cặp từ chỉ xuất “nọ - kia” hàm chỉ hành động song song, vừa chỗ “nọ” lại đồng thời ở chỗ “kia”, vừa vui thú bên “nguyệt” lại hò hẹn bên “hoa”, là cách bắt cá hai tay trong tình yêu nam nữ. e. Biểu trưng cho thân phận người phụ nữ Chúng ta đều hiểu rằng, hoa là sự kết tinh của những gì đẹp nhất trong thiên nhiên, hoa có nhiều màu sắc và đậm hương thơm. Tuy nhiên, theo quy luật của tự nhiên, vòng đời của hoa rất ngắn ngủi, sớm nở tối tàn theo quy luật tự nhiên, hoa được xem là biểu tượng cho thân phận người phụ nữ, chúng tôi tìm được 25/86 (29%) câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao mang nghĩa biểu trưng này. Như vừa nêu trên - đây là lối biểu trưng theo ẩn dụ ý niệm CON NGƯỜI

LÀ THỰC VẬT /CÂY CỐI. Diễn tiến vòng đời của hoa từ khi là nụ, là búp, đến lúc nở hoa cho đến khi tàn úa, rữa và hết hương thơm giống như trạng thái đối lập trong đời người phụ nữ. Người phụ nữ lúc thanh xuân thì mơn mởn, tươi hồng, tràn trề nhựa sống nhưng khi xuân qua đông tới, hoa héo, nhị tàn và nhan sắc phôi pha theo thời gian, hay những người phụ nữ chân yếu, tay mềm, hồng nhan bạc mệnh bị cuộc đời vùi dập.

Dựa trên những nét tương đồng của một giai đoạn sinh trưởng và phát triển của hoa với giai đoạn phát triển cả về thể chất và tâm hồn của người con gái mà trong tục ngữ, ca dạo, người Việt thường dùng hình ảnh hoa để ẩn dụ cho giới nữ. Hoa nở có thì; Thương ta thì nói với ta, Khi trăng đang tỏ, khi hoa đang thì mang nghĩa chỉ người con gái có thì, giai đoạn xuân sắc của người thiếu nữ thoáng qua, chóng vánh như giai đoạn nở rộ của đời hoa. Ý nghĩa biểu trưng này do sự kết hợp giữa “hoa” với “thì” trên trục ngữ đoạn mang lại (thì.d. Thời kì cơ thể phát triển mạnh, bắt đầu có khả năng sinh sản; 2. Thời điểm tốt nhất, có điều kiện thuận lợi nhất để hoạt động thu được kết quả) [62, tr.1199]. Hay kết hợp trên ngữ đoạn “hoa” + “tàn” góp phần tạo nên hướng nghĩa chỉ cái đẹp thoáng qua, nhất thời của đời người con gái: Thôi thôi buông áo em ra, Để em đi bán kẻo hoa em tàn; Hoa tàn vì bởi mẹ cha, Khi búp không bán để tàn ai mua.

131

Cũng vẫn là kết hợp của “hoa” với “thì”, nhưng khi “thì” kết hợp với “lỡ” (lỡ. đg.1.Làm xảy ra, do sơ suất, điều không hay khiến phải luyến tiếc, làm ân hận; 2. Để cho điều kiện khách quan làm việc gì qua mất một cách đáng tiếc) [62, tr.754], thì câu tục ngữ “hoa nở lỡ thì” lại mang hướng nghĩa chỉ sự luyến tiếc bởi người con gái không may mắn trong nhân duyên, gặp cảnh lỡ làng, éo le. Tương tự, kết hợp của “hoa” với “mùa” (mùa.d. phần của năm, phân chia theo những đặc điểm về thiên văn thành những khoảng thời gian xấp xỉ bằng nhau) [62, tr.834); “hoa” với “lứa” (lứa. d. 2. Độ sinh trưởng vừa đạt yêu cầu để có thể thu hoạch hàng loạt (nói về sản phẩm trồng trọt); 3. Lớp người cũng một cỡ tuổi với nhau) [62, tr.769].cũng góp phần tạo nên hướng nghĩa chỉ giai đoạn đẹp nhất, sung mãn nhất của đời người:“hoa có mùa, người có lứa”. Khi đến thời kì đẹp nhất mà người con gái không kết hôn, để việc hôn nhân lỡ làng là một điều vô cùng đáng tiếc.

Phụ nữ được xem là đối tượng chân yếu tay mềm, dễ bị dòng đời xô đẩy, đặc biệt là những người phụ nữ đẹp bởi người Việt chúng ta thường quan niệm “hồng nhan bạc mệnh”. Cũng là “hoa” (người phụ nữ), nhưng khi “hoa” kết hợp với các động từ chỉ trạng thái bấp bênh, nổi nênh như “trôi” (trôi.đg. di chuyển một cách tự nhiên theo dòng nước) [62, tr.1330], như “giạt” (giạt. (x) dạt. đg. Bị xô đẩy đi nơi khác một cách tự nhiên do một tác động nào đó) [62, tr.321] thì khi đó, hướng nghĩa biểu trưng của tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa lại chỉ số phận hẩm hiu, cảnh đời bấp bênh, may rủi, éo le, hay cảnh đời gian truân trôi nổi, lênh đênh của người phụ nữ: hoa trôi bèo giạt; trôi hoa giạt bèo; hoa trôi nước chảy; nước trôi hoa rụng và rất nhiều câu ca dao: Thân nàng như thể hoa trôi, Ra tay tế độ muôn đời chẳng quên; Trách cho căn số phận nghèo, Hoa trôi nước chảy, bọt bèo cũng trôi; Dù ai sang cả mặc ai, Thân này nước chảy hoa trôi xá gì; Ra đường nhặt cánh hoa rơi, Hai tay bưng lấy, cũ người mới ta v.v.

132

Ở trên đời, hoa là biểu trưng cho cái đẹp, vốn là để cho người đời nâng niu, thưởng ngoạn. Người phụ nữ được ví như hoa cũng là phận mỏng manh liễu yếu đào tơ, sinh ra là để được phái mạnh yêu thương, che chở. Nhưng những người phụ nữ có số phận hẩm hiu, không may mắn, gặp phải những kẻ vũ phu, thô bạo, bị đối xử tệ bạc, khi đó ông bà ta cũng dùng hình ảnh bông hoa bị dập vùi để phản ánh thân phận người phụ nữ: : Vùi liễu dập hoa; Đường này anh vẫn đi qua, Sao anh bứt nhị hái hoa cho đành. Trên trục ngữ đoạn, “hoa” trong kết hợp với động từ “vùi dập” (được tách xen) (vùi dập. đg. Vùi và dập (nói khái quát) thường dùng để ví hành động đè nén, chèn ép một cách thô bạo khiến cho không phát triển được) [62, tr.1445]; “hoa” trong kết hợp với các động từ chỉ hành vi cố ý phá hỏng như “bứt” (bứt. đg. Làm cho đứt lìa khỏi bằng cách giật mạnh) [62, Tr.135]; “hái” (hái.đg. Dùng tay làm cho hoa, quả, lá, cành đứt lìa khỏi cây để lấy về) [62, tr. 542] đã tạo nên hướng nghĩa biểu trưng chỉ những hành động, những cách ứng xử thô bạo, bội bạc, chà đạp, vùi dập người phụ nữ của những gã đàn ông không đứng đắn, không có ý định nghiêm túc trong tình yêu. Tương tự, khi nói Ngọc nát hoa tàn là nói đến người phụ nữ đẹp (như ngọc) bị vùi dập, mất hết hạnh phúc. Sự kết hợp giữa “ngọc” với “nát’ (nát.t. ở trạng thái rời ra thành những mảnh nhỏ vụn hoặc bị giập tới mức không còn hình thù gì nữa) [62, tr. 848] giữa “hoa”

với “tàn” (tàn.đg. 1. (hoa) ở trạng thái héo khô dần, biểu hiện sắp kết thúc sự tồn tại. 2. (lửa) ở trạng thái yếu dần, biểu hiện sắp tắt) [62, tr.1137] trong bài ca dao cho thấy cảnh người phụ nữ bị chà đạp, vùi dập, là nạn nhân của những gã đàn ông trăng hoa. Câu thành ngữ Xót liễu vì hoa cũng thể hiện sự thương xót người phụ nữ trong cảnh khổ đau, bất hạnh. Theo khảo sát của chúng tôi, những câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao có chứa từ hoa trong tiếng Việt mang ý nghĩa biểu trưng cho thân phận gian truân, hẩm hiu của người phụ nữ chiếm tỉ lệ nhiều nhất (27/86 chiếm 31,4%). Chỉ có một câu ca dao duy nhất miêu tả thân phận người con gái, thân phận cao sang, quý phái: Thân em nào hạt nào hoa; Nhẫn vàng xà tích xe nhà nghênh ngang.

Ngoài ra, một số câu ca dao chứa từ hoa còn có nghĩa biểu trưng khác (5/86 = 5,8%) như sự gắn kết của vợ chồng: Đôi ta như con một nhà, Như áo một mắc, như hoa một chùm nét nghĩa liên hội được tạo nên bởi sự liên tưởng giữa “áo một mắc”, “hoa một chùm” với những người trong cùng một gia đình, nghĩa tình chồng vợ); Người Việt đã mượn hoa để nói về cuộc đời của con người, sự thăng trầm, biến đổi của con người: Người đời khác nữa là hoa, Sớm còn tối mất, nở ra lại tàn; (nét nghĩa liên hội được tạo nên bởi hình ảnh ẩn dụ “hoa” = “người”, và bởi sự kết hợp giữa hoa với trạng thái tồn tại của đời “sớm còn, tối mất”, vừa nở đã tàn… cho thấy đời hoa mong manh, chóng tàn lụi, kiếp người mong manh, vô thường biểu trưng cho người phụ nữ đang mang thai, sắp đến kì sinh nở: “hoa mùa nhị nở”; “Kể từ hoa nở liền tay; Bao giờ mẹ đó con đây mới mừng”; “Vợ anh lại nghén thai; Bông hoa kia nở nhụy biết lấy ai cậy nhờ”. Hoa chủ yếu mang nghĩa biểu trưng cho phái đẹp, người con gái đẹp, song trong câu ca dao sau hình ảnh của hoa được sử dụng để diễn tả vẻ đẹp trai trẻ của nam giới: “Trai ba mươi tuổi như hoa; Gái ba mươi tuổi về già mà thôi”.

133

3.2.2. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt có chứa tên gọi các loài hoa Trong tiếng Việt không chỉ có từ hoa mà cả “tên các loài hoa” cũng xuất hiện trong loại hình văn học dân gian như thành ngữ, tục ngữ và đặc biệt xuất hiện rất nhiều trong ca dao để biểu đạt những ý nghĩa biểu trưng nhất định. Tuy nhiên, hai cộng đồng người Việt và Anh thuộc hai nền văn hóa xuất

phát có nhiều quan niệm khác biệt, đó là văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây, cộng thêm sự khác biệt về yếu tố khí hậu, địa lý, thổ nhưỡng nên mỗi châu lục có những loài hoa tiêu biểu, vì vậy, việc lựa chọn loài hoa mang tính biểu trưng của mỗi dân tộc cũng khác biệt khá lớn. Nếu như ở Anh, các loài hoa mang nhiều ý nghĩa biểu trưng trong thành ngữ, tục ngữ là hoa hồng, hoa loa kèn, hoa cúc và hoa viôlét thì người Việt lại sử dụng các loài hoa mang đậm văn hóa phương Đông trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao như hoa sen, hoa đào và hoa hồng để làm biểu tượng. Luận án đã khảo sát ngữ liệu và thu được 70 câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa tên các loài hoa, trong đó tần số xuất hiện nhiều nhất đó là hoa đào (28/70 chiếm 40%), hoa sen (25/70 chiếm 35,7%), và hoa hồng (17/70 chiếm 24,3%). 3.2.2.1. Nghĩa biểu trưng của hoa đào

Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, hoa đào có một số ý nghĩa

+ Hoa đào biểu tượng cho mùa xuân + Hoa đào biểu tượng cho hình ảnh của sự đổi mới và sinh sản dồi dào.

+ Hoa đào tượng trưng cho sự trong trắng và thủy chung theo quan

134

Trong thế giới muôn vàn các loài hoa, có thể nói hoa đào là loài hoa đẹp và các bộ phận của cây đào từ hoa, cành, quả, lá đào…đều có giá trị đối với đời sống thực tế. Hoa đào mang biểu tượng xuyên văn hóa (cross-cultural symbol), chủ yếu ở các quốc gia phương Đông như Trung Quốc, Nhật và Việt Nam. Hoa đào tuy mang màu sắc đẹp nhưng những cánh đào thật mỏng manh, thời gian hoa nở đến lúc hoa tàn rất ngắn ngủi, mùa hoa nở cũng chóng vánh kéo dài khoảng 3 tuần. Tuy thế, hoa đào vẫn có vẻ hấp dẫn riêng, rất nồng nàn, quyến rũ. Ở hai nền văn hóa tiêu biểu phương Đông là Nhật Bản và Trung Quốc, hoa đào mang nhiều ý nghĩa biểu trưng hơn trong văn hóa Việt Nam nhưng thông qua sự giao thoa văn hóa với hai quốc gia này nên hoa đào trở nên giàu ý nghĩa và gần gũi với người dân Việt Nam. biểu trưng sau đây: Ở Trung Quốc hoa đào được sử dụng là biểu tượng cho lễ cưới. niệm của người Nhật Bản. Đối với người Việt Nam, hoa đào và vườn đào được coi là biểu tượng chủ đạo còn các bộ phận khác như cây đào, quả đào hay lá đào ít được đề cập

đến. Chúng tôi đã xác định được 28/70 câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa từ hoa đào (trong đó, chủ yếu hình ảnh hoa đào xuất hiện trong ca dao). Vì vậy, ý nghĩa biểu trưng của câu ca dao chứa hoa đào chính là do nghĩa biểu trưng của hoa đào trong ngữ cảnh mang lại qua phương thức ẩn dụ, chứ không quá lệ thuộc vào mối quan hệ kết hợp trên trục ngữ đoạn như trong thành ngữ, tục ngữ. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy hình ảnh hoa đào mang các biểu trưng khác nhau: a. Hoa đào biểu trưng cho mùa xuân

135

Trong văn hóa người Việt, khi nhắc đến hoa đào chúng ta liên tưởng đến mùa xuân và ngày tết đoàn viên. Hoa đào mang biểu trưng sâu sắc trong văn hóa người Việt bởi mỗi khi tết đến xuân về họ lại có thú chơi hoa đào rất thanh tao, lịch lãm, vừa đơn giản nhưng cũng khá cầu kì trong khâu lựa chọn cho mỗi nhà một cành đào đẹp nhất có thế đẹp cả về dáng và gốc, có cả hoa và nụ, có cả cành và lộc… Theo quan niệm của người Việt, hoa đào có màu hồng không chỉ biểu tượng cho ‘hỉ tín’ vui vẻ hạnh phúc mà khi đem hoa đào về cắm trong những ngày tết còn có thể trừ được ma quỷ quấy phá. Hoa đào là biểu tượng cho tiết xuân Việt Nam, đặc biệt là của miền Bắc. Hoa đào là loài hoa tinh khiết, quý trong các loài hoa, tượng trưng cho sức sống kì diệu của thế giới các loài hoa giữa trời xuân, phù hợp với không khí ấm cúng của gia đình hạnh phúc. Hoa đào và mùa xuân có mối quan hệ khăng khít, xoắn xuýt bên nhau không thể tách rời. Có biết bao nhà thơ đã khắc họa hình ảnh hoa đào trong thơ trước rung động của mùa xuân, nhưng trong ca dao, hoa đào biểu trưng cho mùa xuân xuất hiện rất ít, chúng tôi chỉ tìm được 1/28 (3,6%) câu ca dao thể hiện nghĩa biểu trưng này: “Rằng đây thu cúc xuân đào; Mơ xe mận lại gió chào trăng thu”. b. Hoa đào biểu trưng cho người phụ nữ Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên như hòa cùng làm một, luôn khăng khít gắn bó với nhau, trong đó mối quan hệ giữa người thiếu nữ và hoa được xem là biểu tượng của vẻ đẹp thánh thiện và hoàn mỹ. Ở nhiều nền văn hóa trên thế giới, hoa được coi là biểu trưng của người phụ nữ và vẻ đẹp của họ. Ở nền văn hóa Việt Nam, khi liên tưởng đến vẻ đẹp của người con gái, các tác giả dân gian không chỉ thể hiện một sự cảm nhận tinh tế khác nhau về vẻ đẹp của các loài hoa mà còn khắc họa vẻ đẹp người phụ nữ trong sự tương

quan với hoa đào, đôi khi là búp đào. Từ đào trong nghĩa “hoa đào” xuất hiện rất nhiều trong các câu ca dao nói về người thiếu nữ, có 14/28 (50%) câu ca dao mang nghĩa biểu trưng này, chẳng hạn như: Hoa đào héo nhụy anh thương, Anh mong bẻ lá che sương cho đào; Em như hoa mận hoa đào, Cái gì là ngãi tương giao hỡi nàng; Thân thiếp như cánh hoa đào, Đang tươi đang tốt thiếp trao cho chàng… Hình ảnh hoa đào, cánh hoa đào trong các câu ca dao trên đều được dùng với tư cách ẩn dụ, hoặc so sánh với người con gái. Nhiều câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa từ chỉ hoa đào xuất hiện rất nhiều lần để chỉ người con gái trẻ đẹp và ý nghĩa này gần như được cố định hóa, trở thành nghĩa biểu trưng cơ bản của chúng. Chẳng hạn, để nói về người con gái trẻ đẹp, mảnh mai, yếu ớt chúng ta thường bắt gặp các cụm từ như: sen ngó, đào tơ; đào tơ, sen ngó; đào hồng; Liễu yếu đào tơ; Đào tơ sen ngó xanh xanh, Ngọc lành phải giá, gái lành đẹp duyên; Lời đen bạc thiếp thưa qua chàng rõ, Đoái phận hèn liễu yếu đào tơ. Hình ảnh búp đào, nụ đào chớm nở đầy e ấp, óng ánh như vẻ đẹp tự nhiên căng đầy sức sống của thiếu nữ xuân sắc hấp dẫn bao người: Đi ngang thấy búp hoa đào; Muốn vào mà bẻ sợ rào lắm gai. c. Hoa đào biểu trưng cho phẩm giá của người phụ nữ Hoa đào không chỉ biểu trưng cho người phụ nữ hay vẻ đẹp của họ mà còn mang nghĩa biểu trưng cho phẩm giá của người con gái, có 8/28 (28,6%) câu ca dao thể hiện điều này. Tuy nhiên, theo khảo sát thì các câu ca dao sử dụng hình ảnh hoa đào để nói về phẩm giá của phụ nữ chủ yếu mang nghĩa tiêu cực. Hình ảnh màu sắc của hoa đào (thắm, phai) được dùng nhiều để ẩn dụ chỉ lòng dạ của người phụ nữ hay thay đổi, không son sắt, một lòng một dạ trong tình yêu: Hoa đào kia chưa thắm đã phai, Thoảng thoảng hoa lài nó lại thơm lâu; Anh thương hoa mận hoa đào, Còn bên hoa cúc lọt vào tay ai?; Đào kia chưa thắm đã phai; Thoang thoảng hoa nhài mà lại thơm lâu; Rút dây xin chớ động rừng, Đào kia đã thắm xin đừng có phai hay “Đào có thắm thì đào lại phai, Bồ nâu dãi nắng thì mài chẳng đi.

136

Khi nói đến người phụ nữ không chung thủy, nói tới thói lẳng lơ của người con gái, người Việt thường dùng hai từ mận, đào để biểu thị ý nghĩa này: Anh nguyền thưởng bậu một dao, Răn người lòng mận dạ đào líu lăng; Tiếc bấy công anh lao lúng, lo vun bón cây tùng; Mảng săm soi trên ngon,

dưới gốc sùng chẳng có hay; Anh nguyền đưa đó một dao phay; Răn lòng những gái mận đào đang tâm”… Và để chê người không đứng đắn, yêu đương lung tung, trong tiếng Việt có thành ngữ: Sớm mận tối đào. d. Hoa đào biểu trưng cho số phận người phụ nữ

Hình ảnh hoa nói chung và hình ảnh hoa đào nói riêng thường biểu trưng cho cái đẹp, người con gái đẹp, yếu đuối mong manh trước cuộc đời. Trong tiếng Việt, chúng tôi tìm được 5/28 (17,8%) câu ca dao chứa từ hoa đào để nói đến cảnh gian truân, trôi nổi, bấp bênh của người phụ nữ: “Gớm ghê thay cái số bông huê đào; Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi”. Người phụ nữ khi còn sắc đẹp thì được yêu thương, che chở nhưng khi hoa tàn nhụy hết thì bị ruồng rẫy: “Bấy lâu nay nguyệt tỏ với đào; Búp hoa tàn hết nhụy, chàng tính sao bây giờ”. Hay để ám chỉ người con gái lỡ thì, hình ảnh hoa đào nở muộn, lỗi mùa được đưa vào thành ngữ: “Hoa đào tháng 3”. 3.2.2.2. Nghĩa biểu trưng của hoa sen

Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

137

Có thể nói sen là loài cây, loài hoa đẹp nhất nở ở những vùng nước tù đọng. Vẻ đẹp của hoa sen vượt xa so với các loài hoa trong đầm, trong hồ như hoa súng, hoa rau muống tím biếc. Hoa sen có hai màu chủ đạo hồng và trắng nở bung xòe ra, nhị hoa màu vàng tươi, tỏa hương thơm ngào ngạt vì vậy hoa sen thường được người dân dùng để ướp chè. Biểu tượng hoa tôn giáo quan trọng nhất của phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam là hoa sen, gắn liền với Đức Phật. Hoa sen biểu tượng cho sự thật, sự hoàn hảo và sự bất tử, nó được thể hiện bằng nhiều cách trong hình ảnh của đức Phật hay trong các tài liệu nói về đức Phật. Vì vậy theo quan niệm của Phật giáo, hoa sen là một loài hoa đẹp, màu sắc trong trắng của hoa sen bừng nở trinh nguyên trên bùn nhơ biểu trưng cho sự thuần khiết, không bị vấy bẩn bởi bụi trần: Theo nghĩa tổng quát thì hoa sen biểu trưng cho sự trong trắng, tính kiên định (thân cây cứng rắn), sự thịnh vượng (cây mọc sum suê), hậu duệ đông đúc (hạt nhiều), vợ chồng đề huề (hai hoa trên một thân), thời quá khứ,

Theo kết quả khảo sát, tiếng Việt có 25/70 câu ca dao có chứa tên gọi

hiện tại và tương lai (ta bắt gặp cùng một lúc 3 trạng thái của cây hoa sen: nụ, hoa nở, hạt). [41] hoa sen với các nghĩa biểu trưng như sau: a. Hoa sen biểu trưng cho phẩm giá của con người Hoa sen mọc lên từ bùn nhưng nó rực rỡ và thơm ngát vì thế hương hoa “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nói đến hoa sen, người ta thường liên tưởng đến phẩm giá tâm hồn tốt đẹp của con người, có 4/25 (16%) câu ca dao thể hiện ý nghĩa này: Hoa sen mọc bãi cát lầm; Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen. Dù sống trong môi trường bùn lầy, tanh hôi, song sen vẫn vươn lên để nở hoa và tỏa hương thơm ngát. Vì vậy, hoa sen được dùng ẩn dụ để biểu trưng cho con người dù ở hoàn cảnh sống tăm tối, ô trọc, nhiều cạm bẫy song vẫn giữ được cốt cách và tâm hồn thanh cao.

138

Đối với người Việt Nam, hoa sen luôn được coi là biểu tượng cho vẻ đẹp cao quý về phẩm giá, sự trong sạch, thanh cao, thẳng thắn vươn lên của con người. Cụ thể, hoa sen mang hàm ý biểu trưng cho một nhân cách vĩ đại, vị lãnh tụ kính yêu, người con ưu tú và vị cha già của dân tộc Việt Nam – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người Việt gắn biểu tượng hoa sen với con người của Bác: Tháp mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ. Hoa sen mọc giữa bùn lầy, giữa bao loài cây cỏ khác nhưng hoa sen không bị phai nhạt, luôn giữ được màu sắc từ khi nở cho đến lúc tàn, ít bị phai màu, điều này thể hiện sự vững chãi của khí tiết, ý chí con người: Hoa sen hoa khéo giữ màu; Nắng nồng không nhạt mưa dầu không phai”. Sự kết hợp giữa “nắng – mưa” đã hàm chỉ điều kiện sống của sen (con người) khắc nghiệt, hay thay đổi; sự kết hợp của “nhạt - phai” đặt trong ý phủ định cho thấy dù phải sống trong điều kiện khắc nghiệt như thế nào thì Sen vẫn giữ nguyên hương sắc; cũng như con người, cho dù sống trong bất kì điều kiện nào cũng vẫn giữ vững nhân cách, phẩm chất tốt đẹp, không bị mua chuộc, sa ngã. b. Hoa đào biểu trưng cho người thiếu nữ Vẻ đẹp của người thiếu nữ được thể hiện trên gương mặt thanh tú, nước da hồng hào và tươi trẻ, vẻ đẹp này thường được ví với hoa sen, nhất là khi bông sen còn chưa hé nở, còn ở nguyên dạng búp nụ, giống như vẻ e ấp của cô gái ở tuổi đôi mươi. Nói cách khác, hình ảnh hoa sen, búp sen được ẩn dụ

nói về vẻ đẹp của người thiếu nữ. Luận án tìm được 19/25 (76%) câu ca dao mang nghĩa biểu trưng này: Búp sen lai láng giữa hồ; Anh đưa tay ra bẻ sợ trong chùa có sư. Hay hình ảnh sen ngó khiến chúng ta liên tưởng đến vẻ đẹp e ấp, trinh nguyên của người con gái đẹp: Sen ngó đào tơ; Đào tơ, sen ngó; Đào tơ sen ngó xanh xanh, Ngọc lành còn đợi, giá lành đẹp duyên. Vẻ đẹp rạng rỡ tươi cười của người con gái được ví như búp hoa sen nở và mặt trời mới mọc: Ngó lên lỗ miệng em cười, Như búp hoa sen nở, như mặt trời mới lên. Trong ca dao, khi nói đến tình yêu đôi lứa, hình ảnh cặp biểu trưng Hồ - Sen (Hồ biểu tượng cho người nam giới và Sen biểu trưng cho người phụ nữ) không thể tách rời nhau được mà luôn khăng khít gắn bó, đó là một khung cảnh giao duyên thơ mộng và lãng mạn của bao chàng trai – cô gái đã mượn để ngỏ lời giao duyên: Bấy lâu còn lạ chưa quen, Hỏi hồ đã có hoa Sen chưa hồ; Chàng ơi cho thiếp làm quen, Kẻo thiếp lơ lửng như sen giữa hồ và Hoa sen lai láng giữa hồ, Giơ tay muốn bẻ sợ chùa có sư. Khi sen phải xa hồ vì một lý do nào đó thì cảnh tượng thật xót xa, buồn tẻ: Sen xa hồ sen khô tàn tạ. 3.2.2.3. Nghĩa biểu trưng của hoa hồng

Hoa hồng được mệnh danh là nữ hoàng của các loài hoa với nhiều sắc màu, mùi hương quyến rũ nức lòng người. Những lớp cánh hoa hồng nở tung khoe sắc làm thổn thức trái tim biết bao nhà thơ xưa và nay. Hoa hồng tuy đẹp nhưng mau tàn, chóng phai màu. Vòng đời của hoa hồng thường ngắn ngủi “sớm nở tối tàn”. Hoa hồng mặc dù không phải là loài hoa quan trọng của người phương

Đông được dùng để biểu trưng như hoa đào hay hoa sen nhưng đối với văn

hóa Việt Nam hoa hồng cũng có sự gắn kết chặt chẽ trong cuộc sống của

người Việt. Giống như người Anh, hoa hồng cũng mang một số hình ảnh biểu

trưng sâu sắc đối với người Việt, đặc biệt là trong tình yêu. Đối với người Hy

Lạp cổ đại, người La Mã hay bất kì một dân tộc nào trên thế giới, hoa hồng

luôn là biểu tượng vượt thời gian của tình yêu. Trong ngày lễ tình nhân

“Valentine”, các cặp đôi yêu nhau không thể thiếu được hoa hồng và sô cô la

dành tặng cho nhau. Hoa hồng biểu trưng cho lời tỏ tình hay một tình yêu

lãng mạn, còn sô cô la tượng trưng cho sự ngọt ngào trong tình yêu. Luận án

139

có tìm được một số hướng biểu trưng của hoa hồng như sau:

140

a. Hoa hồng biểu trưng cho người thiếu nữ Thông qua biện pháp ẩn dụ, hoa hồng được dùng biểu trưng cho người thiếu nữ. Vẻ đẹp của người thiếu nữ được liên tưởng thông qua các bộ phận của hoa hồng như cánh hoa, búp hoa, cành hoa hay màu sắc của hoa. Kết quả khảo sát cho thấy có 11/17 (64,7) câu ca dao chứa hoa hồng mang nghĩa biểu trưng cho người thiếu nữ. Cô gái trong câu ca dao sau tự ý thức được vẻ đẹp thanh xuân chỉ đến một lần trong đời và ví mình như búp hoa hồng: Em như cái búp hoa hồng, Anh như ngòi bút họa đồ trong tranh; Em như cái búp hoa hồng, Anh giơ tay muốn bẻ về bồng nâng niu. Hay vẻ đẹp tươi trẻ của người con gái được ví như những cánh hoa hồng gặp nắng và miệng cười chúm chím, khuôn mặt tươi vui như vẻ đẹp của hoa hồng: Cái cánh hoa hồng, Càng nắng càng tươi; Em gặp anh đây chúm chím miệng cười, Cơn sầu giải hết, mặt tươi hoa hường (hồng). Trong một câu ca dao khác, do kết hợp trên trục ngữ đoạn giữa “hoa hồng” với các trạng thái còn – mất của sắc hương trong thời gian tính bằng thời khắc “sáng – chiều” đã gợi nên hướng nghĩa tiêu cực, chỉ sự mong manh, chóng tàn, chóng qua của nhan sắc, hay chỉ đặc tính thoáng qua của sắc đẹp. Hoa hồng trông thật mỹ miều; Khoe hương buổi sáng, buổi chiều còn đâu. Đôi khi hình ảnh hoa hồng được sử dụng trong ca dao để biểu trưng cho người phụ nữ đang mang thai, sắp đến kỳ sinh nở: Cha già mẹ yếu, vợ lại có thai, Nhỡ bông hoa hường (hồng) nở nhụy, biết ai cậy nhờ. b. Hoa hồng biểu trưng cho tình yêu Luận án tìm được 4/17 (23,5%) câu ca dao thể hiện nghĩa biểu trưng này. Hoa hồng tuy đẹp mỹ miều nhưng lại có rất nhiều gai: hồng nào mà chẳng có gai được ví với tình yêu của người con gái đẹp sẽ không đơn giản để có thể chinh phục được. Lời ca dao sau nhắc nhở khéo các chàng trai chớ nên vội vàng kẻo lao vào chốn chông gai: thân em như thể hoa hường (hồng); anh xem cho có ý kẻo mắc đường chông gai. c. Hoa hồng biểu trưng cho số phận người phụ nữ Luận án khảo sát được 2/17 (11,7%) thành ngữ, tục ngữ, ca dao thể hiện nghĩa biểu trưng này. Hình ảnh cánh hoa hồng mỏng manh, mềm mại và yếu ớt được ví với người con gái đẹp mảnh mai, cần được chăm sóc, yêu thương và che chở. Nhưng trong cuộc sống đầy trớ trêu, cánh hoa hồng

(tượng trưng cho người con gái) đẹp mĩ miều ấy lại được đặt cạnh một cách không tương xứng với những thứ uế tạp và bẩn thỉu, nghe thật đau đớn và xót xa: Thân em như cánh hoa hồng, Lấy phải thằng chồng như cứt bò khô. Sự đối lập giữa hai thái cực: đẹp – xấu, thơm – thối, thanh tao – bẩn thỉu của “hoa hồng” với “cứt bò khô” đã góp phần làm rõ cảnh ngộ ngang trái, trớ trêu của phận người thiếu nữ, rơi vào cảnh đôi đũa lệch, không có hạnh phúc. Trong các ngữ cảnh khác, sự kết hợp giữa “hoa hồng” với trạng thái “rụng” (rụng. đg. Rời ra, lìa ra và rơi xuống. Từ điển Hoàng Phê, tr.1074); giữa “hoa hồng” với “rời” (rời. I. đg. 1. Di chuyển khỏi chỗ. 2. Tách lìa khỏi. II.t. ở trạng thái từng bộ phận, từng đơn vị được tách riêng ra, độc lập với nhau. [62, tr. 1071) đã giúp hình thành hướng nghĩa biểu trưng chỉ cảnh người phụ nữ đẹp bị đối xử, vùi dập tàn tệ: Hồng rụng, thắm rời. Kết quả khảo sát trên cho thấy trong tiếng Việt, các câu thành ngữ, tục

ngữ, ca dao có thành tố hoa chiếm số lượng khá lớn (86/156 câu) với khá

nhiều nghĩa biểu trưng. Trong đó, nghĩa biểu trưng cho số phận người phụ nữ

chiếm số lượng nhiều nhất (27/86) và tiếp sau là nghĩa biểu trưng cho cái đẹp

(26/86). Thứ 3 là nghĩa biểu trưng cho tình yêu (10/86) và chiếm số lượng ít

nhất là biểu trưng cho sự thành công. Trong các câu thành ngữ tục ngữ và ca

dao chứa tên loài hoa (70 câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao), các thành ngữ,

tục ngữ và câu ca dao chứa hoa đào chiếm số lượng nhiều nhất (28/70), thứ 2

là hoa sen (25/70) và cuối cùng là hoa hồng (17/70). Trong các câu thành

ngữ, tục ngữ và ca dao chứa tên gọi hoa đào, hoa sen và hoa hồng, các nghĩa

biểu trưng cho tình yêu lứa đôi, cho tình cảm vợ chồng và biểu trưng cho vẻ

đẹp của người con gái hay phụ nữ đều chiếm số lượng nhiều nhất.

3.3. Đối chiếu nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa từ

hoa và tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

Từ kết quả phân tích trên, chúng tôi lập bảng đối chiếu các nghĩa biểu

trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa thành tố hoa và tên gọi các loài hoa

141

trong tiếng Anh và tiếng Việt ở bảng 3.1 sau:

Bảng 3.1: Bảng đối chiếu nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa thành tố hoa” và tên các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

Tiếng

Tiếng

STT

Hướng nghĩa biểu trưng

Thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Anh %

Việt %

Biểu trưng cho cái đẹp

27,8

27,9

Biểu trưng cho tình yêu

11,1

11,6

Biểu trưng cho người phụ nữ

27,8

10,4

1

chứa thành tố hoa

Biểu trưng cho số phận người phụ nữ

0

29

Biểu trưng cho sự khai mở, thành

11,1

8,1

công

Biểu trưng cho sự giàu sang

0

8,1

Các nghĩa biểu trưng khác

22,2

5,8

13,9

0

Biểu trưng cho sự quyền quý, giàu sang

2

chứa

tên các

Hoa hồng

loài hoa

Biểu trưng cho sự thành công, thuận

11,1

0

lợi

Biểu trưng cho người phụ nữ

33,3

64,7

Biểu trưng cho sự vui vẻ, lạc quan

8,3

0

Biểu trưng cho sự hoàn hảo

13,9

0

Biểu trưng cho tình yêu

0

23,5

Biểu trưng cho số phận người phụ nữ

0

11,7

Hoa loa

Biểu trưng cho cái đẹp

55,5

0

kèn

Biểu trưng cho người phụ nữ

33,3

0

Biểu trưng cho yếu đuối, nhút nhát

11,1

0

Hoa cúc Biểu trưng cho cái chết

50

0

Biểu trưng cho sự vui vẻ, ngạc nhiên

50

0

Biểu trưng cho mùa xuân

0

3,6

Biểu trưng cho người phụ nữ

0

50

Hoa đào

0

28,6

Biểu trưng cho phẩm giá người phụ nữ

Biểu trưng cho số phận người phụ nữ

0

17,8

Hoa sen Biểu trưng cho phẩm giá con người

0

16

Biểu trưng cho người phụ nữ

0

84

142

3.3.1. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa thành tố

“flower” trong tiếng Anh và “hoa” trong tiếng Việt

Các nghĩa biểu trưng của từ ‘hoa’ (flower) trong thành ngữ tục ngữ và

ca dao tiếng Anh khá tương đồng về mặt số lượng so với tiếng Việt. Nếu như

trong tiếng Anh, các thành ngữ, tục ngữ chứa thành tố hoa hướng đến 4 nghĩa

biểu trưng: biểu trưng cho cái đẹp; biểu trưng cho tình yêu; biểu trưng cho

người phụ nữ và biểu trưng cho sự khai mở, bắt đầu thì trong tiếng Việt có 6

hướng nghĩa biểu trưng: biểu trưng cho cái đẹp; biểu trưng cho tình yêu; biểu

trưng cho người phụ nữ; biểu trưng cho số phận người phụ nữ; biểu trưng

cho sự khai mở, thành công và biểu trưng cho sự giàu sang. Như vậy, người

Anh và người Việt có quan niệm, tư duy giống nhau ở hướng biểu trưng coi

hoa là biểu tượng cho những gì tốt đẹp nhất, nhưng người Anh nhấn mạnh

đến vẻ đẹp của tuổi thanh xuân nói chung và những con người tốt đẹp nhất,

còn người Việt chủ yếu nhấn mạnh đến vẻ đẹp thể chất, vẻ đẹp tâm hồn hay

vẻ đẹp trinh tiết của người phụ nữ.

Đối với hướng nghĩa biểu trưng cho sự khai mở, thành công, trong cả

hai ngôn ngữ đều có những thành ngữ, tục ngữ chứa thành tố hoa để biểu

trưng cho điều này. Người Anh dùng 2 cụm từ phổ biến ‘to flower = to come

into flower’ hoặc ‘to be in (into) flower’ và người Việt có 2 cụm từ tương

đương ‘khai hoa, kết trái’ hay ‘đơm hoa, kết quả’. Người Anh và người Việt

đều sử dụng từ “hoa” trong thành ngữ để biểu trưng cho người phụ nữ và biểu

trưng cho tình yêu, tuy nhiên người Anh hướng đến tình yêu nhân loại, yêu tổ

quốc còn người Việt hướng nhiều đến tình yêu lứa đôi, nam nữ.

Trong tiếng Anh, hướng nghĩa biểu trưng chiếm tỉ lệ nhiều nhất là biểu

trưng cho người phụ nữ còn trong tiếng Việt hai hướng nghĩa biểu trưng

chiếm tỉ lệ cao nhất là biểu trưng cho cái đẹp và biểu trưng cho số phận

người phụ nữ.

Thành ngữ, tục ngữ chứa từ “flower” (hoa) trong tiếng Anh không có

143

nghĩa biểu trưng tiêu cực về số phận của người phụ nữ (số phận gian truân,

trôi nổi, bị phụ bạc hay không còn trinh tiết người phụ nữ) như trong tiếng

Việt. Sự khác biệt này phản ánh sự khác biệt lớn về tư duy và quan niệm của

hai cộng đồng người thuộc hai nền văn hóa Anh - Việt. Văn hóa phương Tây

nói chung và văn hóa Anh nói riêng, có hai đối tượng được ưu tiên trong xã

hội là phụ nữ và trẻ em nên họ luôn được trân trọng và được bảo vệ quyền lợi.

Vì thế, phụ nữ ở Anh giành được sự bình quyền với nam giới từ rất sớm và họ

không sống một cách cam chịu như phụ nữ Việt Nam. Khi nói đến sự trinh

tiết thì hai nền văn hóa cũng có sự khác biệt lớn, người Anh có quan niệm

rộng lượng hơn về quan hệ nam nữ và sự trinh tiết, khác hẳn với quan niệm

phong kiến của người Việt, đó là sự trinh tiết của người con gái luôn được đặt

lên hàng đầu và nó là thứ để đánh giá phẩm hạnh của một người phụ nữ. Cho

đến thời điểm hiện nay thì quan niệm về vấn đề này của người Việt đã thoáng

hơn nhưng dường như nó vẫn chưa đạt được mức độ bao dung như người Anh.

3.3.2. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa tên các loài

hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt

Đối với các thành ngữ, tục ngữ, ca dao có chứa tên gọi các loài hoa,

chúng ta nhận thấy người Anh và Việt sử dụng các loài hoa khác nhau, những

loài hoa gắn liền với lịch sự phát triển của mỗi quốc gia và mang tính biểu

trưng sâu sắc. Nếu như người Anh sử dụng nhiều hoa hồng, hoa loa kèn, hoa

cúc hay hoa vi ô lét trong thành ngữ, tục ngữ thì người Việt lại lựa chọn hoa

đào, hoa sen và hoa hồng. Sự khác biệt trong việc lựa chọn các loài hoa còn

do sự khác biệt về yếu tố địa văn hóa hay điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù

hợp để trồng các loài hoa đó. Trong các loài hoa trên, chỉ có loài hoa hồng

được cả người Anh và Việt sử dụng trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao để biểu

đạt ý nghĩa biểu trưng.

Thành ngữ tục ngữ, ca dao chứa tên các loài hoa trong tiếng Anh và

tiếng Việt có nhiều nghĩa biểu trưng khác nhau. Nếu những câu thành ngữ,

tục ngữ tiếng Anh có chứa tên các loài hoa mang các nghĩa biểu trưng hướng

144

đến sự quyền quý, giàu sang, thịnh vượng; sự thành công, thuận lợi; niềm

hạnh phúc, lạc quan; sự tốt đẹp, toàn hảo; sự ngây thơ nhút nhát; hay biểu

trưng cho cái chết, thì tiếng Việt lại chủ yếu hướng đến các nghĩa biểu trưng

cho mùa xuân và tình yêu hay số phận người phụ nữ. Hơn nữa, trong thành

ngữ, tục ngữ, ca dao tiếng Việt chứa tên các loài hoa đào, hoa sen và hoa

hồng đều có chung hai nghĩa biểu trưng cho tình yêu lứa đôi, hay số phận

người phụ nữ. Như vậy, có thể thấy các thành ngữ tục ngữ, ca dao tiếng

Việt có chứa tên các loài hoa chủ yếu hướng đến nghĩa biểu trưng về người

phụ nữ.

Một sự khác biệt nữa là trong quan niệm chung của người Việt, hoa cúc

thường được sử dụng trong các ngày cúng giỗ người đã mất và các đám tang

nhưng trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao thì hoàn toàn không thấy tên gọi

hoa cúc xuất hiện với nghĩa biểu trưng này, còn trong tiếng Anh thì tên gọi

daisy (hoa cúc) được sử dụng trong thành ngữ mang ý nghĩa biểu trưng này.

Như vậy, một sự vật khi được sử dụng để biểu trưng thì tên gọi của nó có thể

có nghĩa biểu trưng, song cũng có thể không có nghĩa biểu trưng trong ngôn

ngữ (ví dụ: chim bồ câu biểu trưng cho hòa bình, song tên gọi chim bồ câu

145

không có ý nghĩa biểu trưng “hòa bình”).

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

Chương này dành cho việc nghiên cứu nghĩa biểu trưng của các từ ngữ

chỉ hoa trong các thành ngữ, tục ngữ, ca dao của tiếng Anh và tiếng Việt. Từ

việc miêu tả phân tích, nghĩa biểu trưng của các thành ngữ, tục ngữ, ca dao

chứa thành tố “hoa” (flower) và tên gọi các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng

Việt, có thể đưa ra một số nhận xét sau:

Nghĩa biểu trưng của các câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao chứa thành tố

“hoa” (flower) trong tiếng Anh và tiếng Việt có số lượng khá tương đồng.

Trong các nghĩa biểu trưng, người Anh và người Việt có tư duy giống nhau ở

4 nghĩa biểu trưng: hoa có ý nghĩa biểu trưng cho cái đẹp; sự thành công,

khai mở; biểu trưng cho người phụ nữ; và biểu trưng cho tình yêu, nhưng các ý

nghĩa biểu trưng này mang sắc thái khác nhau. Nghĩa biểu trưng của thành ngữ,

tục ngữ chứa từ “flower” trong tiếng Anh chủ yếu mang sắc thái tích cực, còn

trong tiếng Việt có cả nghĩa biểu trưng mang sắc thái tích cực và tiêu cực.

Số lượng từ ngữ chỉ các loài hoa cụ thể trong tiếng Anh và tiếng Việt

tuy nhiều nhưng chỉ có một số tên gọi các loài hoa xuất hiện trong kho tàng

thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong tiếng Anh và tiếng Việt có giá trị biểu trưng.

Đó là tên gọi các loài hoa: hoa hồng, hoa loa kèn, hoa cúc, hoa violet trong

thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh; hoa đào, hoa sen, hoa hồng trong thành ngữ,

tục ngữ và ca dao tiếng Việt.

Có sự khác biệt khá lớn trong việc sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, ca

dao chứa tên gọi các loài hoa cụ thể trong tiếng Anh và tiếng Việt. Tên gọi

các loài hoa xuất hiện nhiều trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh gồm hoa

hồng, hoa loa kèn, hoa cúc và hoa violet nhưng trong thành ngữ, tục ngữ, ca

dao tiếng Việt là các tên gọi hoa đào, hoa sen, hoa hồng. Sở dĩ có sự khác

biệt như vậy là do điều kiện khí hậu, thời tiết và thổ nhưỡng ở hai nước phù

hợp đối với những loài hoa nhất định.

Những tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng hoa và tên gọi các

loài hoa cụ thể để biểu biểu hiện ý nghĩa biểu trưng trong thành ngữ, tục ngữ,

ca dao tiếng Anh và tiếng Việt đã thể hiện rõ những tương đồng trong tư duy,

nhận thức thế giới khách quan, đồng thời phản ánh những khác biệt về môi

146

trường sống, đặc trưng văn hóa của hai cộng đồng người Anh và Việt.

KẾT LUẬN

Nghiên cứu “Đối chiếu từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt”

cho phép rút ra một số kết luận như sau:

1. Về khả năng cấu tạo từ ngữ chỉ hoa: Ngôn ngữ là một hiện tượng xã

hội đặc biệt, trong đó các đơn vị từ vựng không ngừng được bổ sung làm giàu

vốn từ của các ngôn ngữ để phục vụ nhu cầu diễn đạt những khái niệm mới,

những nhu cầu giao tiếp mới mà xã hội đặt ra. Về mặt loại hình học, tiếng

Anh thuộc ngôn ngữ biến hình, tổng hợp tính có pha phân tích tính còn tiếng

Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính. Do sự khác biệt này mà

phương thức cấu tạo từ của tiếng Anh và tiếng Việt không giống nhau. Cụ

thể, do đặc điểm đơn lập nên số lượng vỏ âm tiết tiếng Việt bị hạn chế vì thế

số lượng từ đơn cũng bị giới hạn. Tiếng Việt chủ yếu dùng phương thức ghép

để tạo ra số lượng từ ngữ mới, đáp ứng nhu cầu giao tiếp nên số lượng từ

ghép chiếm số lượng lớn nhất. Ngược lại, số lượng từ ngữ lớn nhất trong

trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ hoa trong tiếng Anh là từ đơn. Ngoài ra, tiếng

Anh có từ phái sinh mà tiếng Việt không có.

2. Về đặc điểm định danh: Các dấu hiệu đặc trưng được chọn để định

danh các loài hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt khá tương đồng. Những đặc

trưng làm cơ sở cho việc định danh các loài hoa có tính chất phổ quát trong

hai ngôn ngữ gồm: hình thức, màu sắc, kích cỡ, vai trò, môi trường sống, mùi

hương và nguồn gốc xuất xứ. Hai đặc trưng được cả người Anh và người Việt

chú ý trước tiên khi định danh các loài hoa là hình thức và màu sắc. Về sự

khác biệt trong sự định danh các loài hoa, người Anh chọn đặc trưng người lai

tạo hoặc nhân vật có liên quan để định danh rất nhiều loài hoa như tên nhà

thực vật học, nhà tự nhiên học, tên người anh hùng, hoặc tên các vị thánh có

gắn với các loài hoa hay tên tác giả và họa sĩ vẽ hoặc giới thiệu về loài hoa

nào đó, còn người Việt không lựa chọn đặc trưng này.

3. Về đặc điểm ngữ nghĩa: Qua phân tích các nghĩa vị từ lời định nghĩa

147

trong từ điển giải thích của những từ ngữ chỉ các loài hoa trong tiếng Anh và

tiếng Việt, chúng ta có cái nhìn khái quát về đặc điểm ngữ nghĩa của các từ

ngữ này trong hai ngôn ngữ. Về cơ bản, người Anh và người Việt đều có quan

niệm, tư duy giống nhau trong việc lựa chọn các nghĩa vị để định nghĩa tên

hoa, 2 nghĩa vị được hai cộng đồng ngôn ngữ Anh và Việt chọn nhiều nhất là

nghĩa vị chỉ loại và màu sắc của hoa. Và trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, các

đặc trưng khu biệt của các loài hoa đã được chọn để đưa vào định danh dưới

hình thái bên trong của tên gọi cũng chính là các nghĩa vị khu biệt được nêu

trong lời định nghĩa từ điển của các từ ngữ thuộc trường từ vựng chỉ hoa trong

hai ngôn ngữ. Trong tiếng Anh, có 11 đặc trưng/dấu hiệu khu biệt làm thành

nghĩa vị thì có đến 8 đặc trưng/dấu hiệu được chọn để định danh các loài hoa;

còn trong tiếng Việt có 12 đặc trưng/dấu hiệu khu biệt làm thành nghĩa vị thì

có tới 10 đặc trưng/dấu hiệu được chọn để định danh. Tuy nhiên, có một

điểm khác biệt giữa hai ngôn ngữ về đặc điểm ngữ nghĩa đó là trong tiếng

Việt có xuất hiện nghĩa vị “quan hệ họ hàng với các loài hoa khác” nhưng

trong các lời định nghĩa tên các loài hoa trong tiếng Anh không có nghĩa vị

này. Điều này là do nhóm tác giả biên soạn từ điển giải thích tiếng Việt mà

chúng tôi chọn làm ngữ liệu đã giải thích các từ chỉ hoa theo cách định nghĩa

khái niệm khoa học trong thực vật học.

4. Về nghĩa biểu trưng của hoa và tên loài hoa trong kho tàng thành

ngữ, tục ngữ và ca dao của hai ngôn ngữ, luận án khảo sát các câu thành ngữ,

tục ngữ và ca dao có chứa thành tố hoa/flower và tên gọi các loài hoa trong

tiếng Anh và tiếng Việt. Kết quả thu được 75 câu thành ngữ, tục ngữ tiếng

Anh và 156 câu thành ngữ, tục ngữ và ca dao tiếng Việt chứa thành tố hoa và

tên các loài hoa. Kết quả khảo sát cho thấy các câu thành ngữ, tục ngữ và ca

dao chứa thành tố hoa (flower) trong tiếng Anh và tiếng Việt có số lượng

nghĩa biểu trưng tương đồng với nhau. Cả hai ngôn ngữ đều cùng có nghĩa

biểu trưng cho sự thành công, khai mở. Người Anh có hai thành ngữ để biểu

hiện ý nghĩa này là “to flower = to come into flower” và “to be in (into)

148

flower” tương ứng với hai thành ngữ trong tiếng Việt là “khai hoa, kết trái”

và "đơm hoa, kết trái”. Tuy nhiên, ngoài nghĩa biểu trưng cho sự thành công,

thịnh vượng, trong tiếng Việt hai thành ngữ này còn được sử dụng để nói về

kết quả tốt đẹp của một tình yêu - đó là đi đến hôn nhân. Bên cạnh đó, các câu

thành ngữ, tục ngữ và ca dao chứa yếu tố hoa (flower) trong tiếng Anh và

tiếng Việt còn có sự tương đồng về hai nghĩa biểu trưng khác - đó là nghĩa

biểu trưng cho những điều tốt đẹp hay vẻ đẹp của con người và nghĩa biểu

trưng cho tình yêu. Nhưng nếu như người Anh nhấn mạnh đến vẻ đẹp của tuổi

thanh xuân, của con người tốt đẹp nhất và tình yêu tổ quốc, yêu hòa bình, thì

người Việt lại hướng đến vẻ đẹp thể chất, vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ và

tình yêu lứa đôi, nam nữ. Hơn nữa, các thành ngữ, tục ngữ chứa thành tố hoa

(flower) trong tiếng Anh chủ yếu mang nghĩa biểu trưng với sắc thái tích cực,

còn trong tiếng Việt xuất hiện nhiều thành ngữ, tục ngữ và câu ca dao mang

nghĩa biểu trưng với sắc thái tiêu cực về hình ảnh số phận truân chuyên của

người phụ nữ, sự trinh tiết hay thái độ, lối sống không tốt của người đàn ông

đối với phụ nữ.

Việc sử dụng các loài hoa ở hai công đồng người nói tiếng Anh và

tiếng Việt để biểu trưng cho con người cùng những phẩm chất, trạng thái tinh

thần hoặc số phận của con người trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao thể hiện

cách tư duy chung - đó chính là cách tư duy theo ẩn dụ ý niệm: CON NGƯỜI

LÀ THỰC VẬT hay CÂY CỐI. Tuy nhiên, do sự khác biệt khá rõ rệt giữa

hai nền văn hóa Anh – Việt, văn hóa Anh là loại hình văn hóa du mục còn văn

hóa Việt Nam là loại hình văn hóa nông nghiệp, cùng với những điều kiện về

khí hậu và thổ nhưỡng của mỗi nước nên các loài hoa được chọn sử dụng

trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao cũng như nghĩa biểu trưng của tên gọi của

chúng có nhiều điểm dị biệt. Mỗi dân tộc đã lựa chọn những loài hoa gắn liền

với lịch sử phát triển và truyền thống văn hóa và phù hợp với điều kiện khí

hậu, địa lý, thổ nhưỡng của mình. Người Anh chọn các loài hoa hồng, hoa loa

kèn, hoa cúc và hoa vi ô lét - những loài hoa có sự liên quan sâu sắc đến lịch

149

sử phát triển, tôn giáo hay phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng của họ, còn

người Việt chọn hoa đào, hoa sen và hoa hồng - những loài hoa có sự gắn liền

với quá trình phát triển của văn hóa phương đông nói chung và văn hóa Việt

Nam nói riêng cũng như phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới hay thổ

nhưỡng của Việt Nam. Dựa trên quan điểm phổ quát về hoa trên thế giới: hoa

là biểu tượng của bản thể thụ động, là hình ảnh của đức tính tâm hồn, của sự

toàn hảo tinh thần, là biểu tượng của tình yêu và sự hài hòa, thành ngữ, tục

ngữ và ca dao chứa tên gọi các loài hoa trong hai ngôn ngữ đều có nghĩa biểu

trưng cho phẩm chất tốt đẹp của con người và nghĩa biểu trưng cho vẻ đẹp

của người phụ nữ. Tuy nhiên, do có sự khác biệt lớn về văn hóa, lịch sử phát

triển, phong tục, tập quán nên trong tiếng Anh các nghĩa biểu trưng chủ yếu

hướng đến sự quyền quý, giàu sang, thịnh vượng; sự thành công, thuận lợi;

niềm hạnh phúc, lạc quan, còn tiếng Việt lại hướng tới các nghĩa biểu cho

mùa xuân, cho người phụ nữ, tình yêu đôi lứa hay số phận của người phụ nữ.

5. Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo: Do hạn

chế về mặt thời gian và số trang của luận án, chúng tôi mới chỉ tập trung

nghiên cứu được đặc điểm cấu tạo, định danh, ngữ nghĩa và nghĩa biểu trưng

của các từ ngữ chỉ hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Luận án chưa đi nghiên

cứu sâu để khai thác đặc điểm ngữ pháp, nghĩa từ nguyên, sự chuyển trường

của các từ ngữ chỉ hoa trong hai ngôn ngữ. Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục có

cơ hội để nghiên cứu thêm về các từ ngữ này để hình thành được bức tranh

150

toàn cảnh về hệ thống từ ngữ chỉ hoa trong hai ngôn ngữ Anh và Việt.

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Nguyễn Thị Thủy Chung (2017), “Đặc điểm cấu tạo của một số từ chỉ hoa

trong tiếng Anh”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 3, tr. 14 – 22.

2. Nguyễn Thị Thủy Chung (2019), “A survey of meaning predictability

levels for naming units: A case study of English flower - name

compounds”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5, tr. 30 – 38.

3. Nguyễn Thị Thủy Chung (2020), “Đôi nét về đặc điểm định danh của từ

ngữ chỉ tên hoa trong tiếng Anh”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư,

số 1, tr. 2 – 10.

4. Nguyễn Thị Thủy Chung (2020), “Nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tục

ngữ có chứa thành tố flower và hoa trong tiếng Anh và tiếng Việt”, Tạp

151

chí Ngôn ngữ và đời sống, số 4, tr. 54 – 62.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

1. Diệp Quang Ban (2010), “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (sơ thảo)”,

Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

2. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (2013), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb

Giáo Dục Việt Nam,6.

3. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng, từ ghép, đoản ngữ,

Nxb ĐHQG Hà Nội,148.

4. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

5. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb.

Giáo dục, Hà Nội.

6. Đỗ Hữu Châu (1997), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc

Gia Hà Nội.

7. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

8. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

9. Đỗ Hữu Châu (2000), "Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ", Tạp chí Ngôn

ngữ, số 10.

10. Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu Tuyển tập, T1, Từ vựng – ngữ nghĩa,

Nxb Giáo dục.

11. Đỗ Hữu Châu (2007), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng việt, Nxb. Đại học Quốc

gia Hà Nội.

12. Võ Văn Chi (2003), Từ điển thực vật thông dụng, tập 1, Nxb. Khoa học

và Kỹ thuật, Hà Nội.

13. Vũ Linh Chi (2015), “Đặc điểm về trường từ vựng tang ma và hôn nhân

trong tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)”. Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ

học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội.

14. Nguyễn Văn Chiến (2004), Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt

152

(Nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

15. Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến (2008), Cơ sở

ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

16. Việt Chương (2003), Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb.

Tổng hợp Đồng Nai.

17. Nguyễn Đức Dân (1986), “Ngữ nghĩa của thành ngữ và tục ngữ - sự vận

dụng”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3.

18. Dirt Geeraerts (2010), Các lý thuyết ngữ nghĩa học từ vựng (Phạm Văn

Lam dịch), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

19. Lê Thị Kim Dung (2019), Ngữ nghĩa của các từ chỉ hoa trong tiếng Hán

(liên hệ với tiếng Việt), Luận án Tiến Sĩ Ngôn ngữ học, trường Đại học

Khoa học Xã hội Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

20. Phạm Đức Dương (2007), Bức tranh ngôn ngữ - văn hóa tộc người ở Việt

Nam và Đông Nam Á, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

21. Hữu Đạt (2000), Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, Nxb. Văn

hóa – Thông tin, Hà Nội.

22. Trịnh Bá Đĩnh, (2018). Từ kí hiệu đến biểu tượng. Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội.

23. Nguyễn Văn Độ (2004), Tìm hiểu mối liên hệ ngôn ngữ - văn hóa, Nxb.

Đại học Quốc gia Hà Nội.

24. Đinh Văn Đức (2013), Ngôn ngữ và tư duy – một tiếp cận, Nxb. Đại học

Quốc gia Hà Nội.

25. Nguyễn Thiện Giáp, (1999), Từ vựng học tiếng Việt. Nxb. Giáo dục Hà Nội.

26. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2004), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb. Giáo

dục Hà Nội.

27. Nguyễn Thiện Giáp (2010), 777 khái niệm ngôn ngữ học, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội.

28. Nguyễn Thiện Giáp (2011), Vấn đề từ trong tiếng Việt, Nxb GD Việt

153

Nam, Hà Nội,

29. Nguyễn Thiện Giáp (2014), “Phân biệt nghĩa và ý nghĩa trong ngôn ngữ

học hiện đại”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Nước ngoài,

Tập 30, Số 3 (2014) 1-13.

30. Nguyễn Thiện Giáp (2014), Nghĩa học Việt ngữ, Nxb. Giáo dục Việt Nam.

31. Nguyễn Thiện Giáp (2015), Từ và từ vựng học tiếng Việt, Nxb. Đại học

Quốc gia Hà Nội.

32. Đinh Hồng Hải (2014), Nghiên cứu biểu tượng – một số hướng tiếp cận lý

thuyết, Nxb Thế giới Hà Nội.

33. Hoàng Văn Hành (1982), “Về cấu trúc nghĩa của tính từ tiếng Việt (trong

sự so sánh với tiếng Nga)”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3.

34. Hoàng Văn Hành (1988), về cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh bậc 2

trong các ngôn ngữ đơn lập/ những vấn đề ngôn ngữ các dân tộc ở Việt

nam và khu vực Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

35. Hoàng Văn Hành (2002), Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, Nxb. Khoa học

xã hội, Hà Nội.

36. Hoàng Văn Hành (2010), Tuyển tập ngôn ngữ học, Nxb. Khoa học xã hội

Hà Nội.

37. Bích Hạnh (2009), Biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

38. Phan Thị Thúy Hằng (2007), Trường từ vựng tên gọi các loài cây trong ca

dao người Việt, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Vinh.

39. Bùi Mạnh Hùng, (2008), Ngôn ngữ học đối chiếu, Nxb. Giáo dục,

TPHCM.

40. Đỗ Việt Hùng (2013), Ngữ nghĩa học, từ bình diện hệ thống đến hoạt

động, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

41. Nguyễn Quốc Hùng (2001), “Một vài đặc điểm đáng lưu ý về tư duy ngôn

ngữ ở người Anh”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 8.

42. Nguyễn Thị Thanh Hường (2014), Trường từ vựng ngữ nghĩa về hoa và

154

mẹ trong thơ Dương Kiều Minh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Vinh.

43. Jean Chevalier & Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa

thế giới, (Nhiều dịch giả), Nxb. Đà Nẵng.

44. John Lyons (2009), Ngữ nghĩa học dẫn luận (Nguyễn Văn Hiệp dịch),

Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

45. Nguyễn Văn Khang (2007), Từ ngoại lai trong tiếng Việt, Nxb. Giáo dục,

Hà Nội.

46. Nguyễn Thúy Khanh (1994), “Đặc điểm định danh của trường tên gọi

động vật tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt”, Tạp chí Văn hóa

dân gian, số 2.

47. Nguyễn Thúy Khanh (1996), “Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi

động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga)”, Luận án phó

tiến sĩ khoa học ngữ văn, Viện Ngôn ngữ học.

48. Đinh Trọng Lạc (cb), Nguyễn Thái Hòa (2001), Phong cách học tiếng

Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

49. Nguyễn Lai (1996), Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, Nxb.

Giáo dục, Hà Nội.

50. Hồ Lê (1973), “Về sự phân loại từ ghép song song trong tiếng Việt Hiện

đại”, Ngôn ngữ, số 1, tr.104.

51. Đỗ Thị Kim Liên (2006), “Trường ngữ nghĩa về cây lúa và các sản phẩm

từ lúa phản ánh đặc trưng văn hóa lúa nước trong tục ngữ Việt”, Tạp chí

Văn hóa dân gian, số 4.

52. Lê Quang Long (chủ biên) (2008), Từ điển tranh về các loài hoa, Nxb.

Giáo dục, Hà Nội.

53. Nguyễn Lực, Lương Văn Đang (2009), Thành ngữ tiếng Việt, Nxb. Khoa

học xã hội, Hà Nội.

54. Hoàng Mai (2008), Ngôn ngữ các loài hoa, Nxb. Lao động – Trung tâm

văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.

55. Trịnh Thị Mai (2008), Tiếp cận bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận qua

155

các trường từ vựng ngữ nghĩa, Kỷ yếu Ngữ học trẻ.

56. Hà Quang Năng, “Bản sắc văn hóa của người Việt qua các hình thể ngôn

từ ẩn dụ trong ca dao Việt Nam”, in trong Ngôn ngữ - Văn hóa – Giao

tiếp, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội.

57. Lê Thị Thanh Nga (2008), Đặc điểm lớp từ ngữ thuộc trường nghĩa chỉ

vật dụng – biểu tượng tình yêu trong ca dao tình yêu lứa đôi, Luận văn

thạc sĩ, trường Đại học Vinh.

58. Ngôn ngữ văn hóa & xã hội (2006), Nxb. Thế giới, Hà Nội.

59. Nguyễn Văn Nở (2009), Biểu trưng trong tục ngữ người Việt, Nxb. Đại

học Quốc gia Hà Nội.

60. Vũ Ngọc Phan (2004), Tục ngữ - Ca dao – Dân Ca Việt Nam, Nxb. Văn

học, Hà Nội.

61. Hoàng Phê (1989), Lôgic – Ngôn ngữ học, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

62. Hoàng Phê (chủ biên) (2010), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách

khoa, Hà Nội.

63. Nguyễn Quang (2002), Giao tiếp và giao tiếp giao văn hóa, Nxb. Đại học

Quốc gia Hà Nội.

64. Robert Lado (2003), Ngôn ngữ học qua các nền văn hóa, (Hoàng Văn

Vân dịch), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

65. Trần Văn Sáng (2007), “Biểu trưng mùa xuân trong thơ ca”, Tạp chí Ngôn

ngữ và Đời sống, số 6, tr.32.

66. F. de Saussure (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Nxb. Khoa

học xã hội, Hà Nội.

67. Nguyễn Kim Thản (1963), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 1. Nxb.

Khoa học, Hà Nội.

68. Nguyễn Văn Thạo (2015), “Trường nghĩa ‘lửa’ và ‘nước’ trong tiếng Việt”,

Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội.

69. Lý Toàn Thắng (1983), “Vấn đề ngôn ngữ và tư duy”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2.

70. Lý Toàn Thắng (1999), "Giới thiệu giả thuyết: Tính tương đối ngôn ngữ"

156

của Sapir - Whorf", Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, tr. 23 - 31.

71. Trần Ngọc Thêm (1999), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TP. Hồ

Chí Minh.

72. Lê Quang Thiêm (2004), Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội.

73. Lê Quang Thiêm (2008), Ngữ nghĩa học (tập bài giảng), Nxb. Giáo dục,

Hà Nội.

74. Lê Quang Thiêm (2008), Sự phát triển nghĩa từ vựng tiếng Việt từ 1945

đến 2005, Nxb ĐHQG Hà Nội.

75. Cao Thị Thu (1995), Đặc điểm định danh và ngữ nghĩa trường từ vựng

tên gọi thực vật trong tiếng Việt, Luận văn cử nhân, Trường Đại học

tổng hợp Hà Nội.

76. Nguyễn Đức Tồn (1988), Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi bộ

phận cơ thể người (trên tư liệu tiếng Việt và tiếng Nga) : Luận án Phó

tiến sĩ khoa học ngữ văn, M.,Viện Ngôn ngữ học, Viện HLKH Liên Xô,

(Bằng tiếng Nga)

77. Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn

ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với các dân tộc khác), Nxb.

Đại học Quốc gia Hà Nội.

78. Nguyễn Đức Tồn (2015), Đặc trưng văn hóa dân tộc của Ngôn ngữ và tư

duy, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

79. Phan Thị Huyền Trang (2007), “Khả năng liên tưởng nghĩa của từ hoa

trong truyện Kiều”. Tạp chí Ngôn ngữ, số 11 / 2017.

80. Nguyễn Văn Tu (1978), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb DDH và

THCN

81. Hoàng Tuệ (1987), “Tín hiệu và biểu trưng”, In trong "Hoàng Tuệ tuyển

tập ngôn ngữ học", Nxb. Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr.1228 -

1234.

82. Hoàng Tiến Tựu (1999), Văn học dân gian Việt Nam, tập hai, Nxb. Giáo

157

dục, Hà Nội.

83. Viện Ngôn ngữ học và Trung tâm Từ điển học (2008), Hoàng Phê –

Tuyển tập Ngôn ngữ học, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà

Nội – Đà Nẵng.

84. Trần Quốc Vượng (2002), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo Dục, Hà

Nội.

85. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1997), Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ

học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

TÀI LIỆU TIẾNG ANH

86. Berlin, B. & Kay, P. (1969). Basic Color Terms: Their Universality and

Evolution. (ISBN 1-57586-162-3).

87. Bloomfield, L. (1933/2001), Languages, Beijing: Foreign Language

Teaching and Research Press.

88. Boas, F. (1911). Handbook of American Indian Languages, Washington

D.C.

89. Buhler, K. (1934). Theory of Language: The representational function of

language. John Benjamins Publishing Company.

90. Cirlot, J.E. (1971). Dictionary of Symbols, Routledge and kegan Paul Ltd.

91. Cowie, A.P., Mackin, R., & McCaig, I. R. (1993). Oxford Dictionary of

English Idioms. Oxford: Oxford University Press.

92. Crow, J. & Quigley, J. R. (1985. A semantic field approach to passive

vocabulary acquisition for reading comprehention, TESOL, volume 19,

pp. 497 – 513.

93. Dang, N.G. (2018). Idioms in English and Vietnamese. Vietnam National

University Press, Hanoi.

94. Dell, H. (1964), Language in culture and society, Harper and Row.

95. Farzad, S. & Gary, B. (2007). Applied Cultural Linguistics, John

Benjamins Publishing Company, Amsterdam/Philadelphia.

96. Fisiak, J. (ed) (1990). Further Insights into Contrastive Analysis.

158

Amsterdam – Philadelphia: John Benjamins.

97. Frownfelter, A. (2010). Flower Symbolism as Female Sexual Metaphor,

Senior Honors Theses, Eastern Michigan University.

98. Geeraerts, D., et all. (1994), The structure of lexical variation: Meaning,

Naming and Context, Mouton de Gruyter, Berlin; New York.

99. Geertz, C. (1973). Myth, Symbol, and Culture, New York: W.W. Norton

and Company, Inc.

100. Ghangong, G. (2010). The application of the semantic field theory in

college English vocabulary instruction, Chinese journal of applied

linguistics, volume 33, pp. 50 – 62.

101. Greanbeau, S. (1973). A University Grammar of English. Longman

Group UK Limited.

102. Grzegorz, A. (2007). The tradition of field theory and the study of lexical

semantic change, Zeszyt, volume 47, pp. 187 - 205:191].

103. Humboldt, W.V. (1999). On Language. On the Diversity of Human

Language Construction and its Influence on the Mental Development of

the Human Species, Cambridge University Press, 2nd re. edition.

104. Huss et all. (2017). The meaning of Flowers: A Cultural and Perceptual

Exploration of Ornamental Flowers. TOPSYJ-10-140: 140-153.

(https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/legalcode)

105. Ipsen, G. (1932). Der neue Sprachbegriff, “Zeitschrift fur Deutschkund”,

Leipzig – Berlin.

106. James, C. (1986). Contrastive analysis, Longman Singapore publishers

Ltd.

107. Jones, H. et all. (2005). An Environmental Approach to Positive

Emotion: Flowers. Evolutionary Psychology – ISSN 1474-7049 –

Volume 3.

108. Kay, P. (1977). Review work: Semantic Fields and Lexical Structure by

159

Adrienne Lehrer, journal article, vol. 53. No 2, pp. 469 – 474).

109. Khosravizadeh, P.& Mollaei, S. (2011). Incidental Vocabulary Learning:

A Semantic Field Approach, Brain. Broad Research in Artificial

Intelligence and Neuroscience, Volum 2, Issue 3, September.

110. Kirkby, M. (2011). A Victorian Flower Dictionary: The Language of

Flowers Companion, Ballantine Books – New York.

111. Kittay, E.F. (1987). Metaphor: Its Cognitive Force and Linguistic

Structure, Clarendon Press, Oxford.

112. Kittay, E.F. (1989), Metaphor: Its Cognitive Force and Linguistic

Structure, Clarendon Press. Oxford.

113. Kovecses, Z. (2000). Metaphors: A practical Introduction, Oxford

University Press.

114. Kovecses, Z. (2005). Metaphors in Culture: Universality and Variation,

Cambridge University Press.

115. Kramsch, C. (1980). Language and Culture, Oxford University Press.

116. Lakoff, G. & Johnson, M. (1980). Metaphors we live by, University of

Chicago Press, Chicago.

117. Larsen, E.W. & Roots, B.I. (2005). Flower Guide for Holiday Weekends,

National Research Council of Canada.

118. Laufer, B. (1990). “Words You Know: How They Affect the Words You

Learn. In:

119. Lehmann, W. (1962). Lingustics: An introduction, New York: University

of Taxas.

120. Lehrer, A. (1985). The influence of semantic fields on semantic change.

In: J. Fisiak (ed.), Historical Semantic, Historical word formation.

BERLIN: Walter de Gruyter and Co. pp. 283 – 296).

121. Lehrer & Kittay (chủ biên). (1992). Frames, Fields, and Contrasts,

Lawrence Erlbaum Associates.

122. Longman Dictionary of Language Teaching and Applied Linguistics

160

(1992). England: Longman.

123. Longman (1999). American Idioms Dictionary, Pearson Education

Limited.

124. Lyons, J. (1977). Semantics. Cambridge: Cambridge University Press.

125. Mansouri, A.N.H. (2012). Semantic Fields in English and Arabic:

Problems in Translation (được in trong cuốn Building Bridges:

Integrating Languagues, Linguistics, Literature and Translation in

Pedagogy and Research của Najma Al Zidjaly, Sultan Qaboos

University, Oman, published by the Cambridge Scholars Publishing.

126. Mei, Jiaju, Zhu, Y., Gao, Y. & Yin, H. (1987). Semantic field and

semantic system. Foreign Language, 49, 18 – 23.

127. Oxford Advanced Learner’s Dictionary, New 9th Edition, Oxford

University Press, 2015

128. Oxford Idioms Dictionary for Learners of English, Oxford University

Press, 2012.

129. Pham, H. & Harald Baayen, R. (2013), Semantic relations and

compound transparency: A regression study in CARIN theory,

PSIHOLOGIJA, Vol. 46 (4), 455-478.

130. Pink, A. (2008), Dictionary of flowers and plants for gardening, This

Vintage Treasure Complimentary Ebook Provided by Teresa Thomas

Bohannon.

131. Sapir, E. (1921). Language: An Introduction to the Study of Speech,

Harcourt, Brace.

132. Schmitt, N. (1999). The relationship between TOEFL vocabulary items

and meaning, association, collocation and word class knowledge,

Language testing, volume 16, pp. 189 – 216.

133. Seidl, J. & McMordie, W. (1988). English idioms. London: OUP,12-13

134. Shoben, E. (1991). Predicating and nonpredicating combinations. In

Schwanenflugel, P., editor, The psychology of word meanings, page 117-

161

135. Lawrence Erlbaum Associates, Inc, Hillsdale.

135. Štekauer, P. (2005). Meaning predictability in word formation: novel,

context-free naming units. Amsterdam/Philadelphia: John Benjamins.

136. Stern, G. (1931), Meaning and change of meaning (with special

reference to English language), Bloommington, Indiana, University

Press.

137. Talmy, L. (2000a), Toward a Cognitive Semantics: Vol. I Concept

Structuring System. Cambridge, MA: The MIT Press.

138. Talmy, L. (2000b), Toward a Cognitive Semantics: Vol. II: Typology

and process in Concept Structuring. Cambridge, MA: The MIT Press.

139. Weinreich, U. (1971). Explorations in semantics theory, Janua

Linguarum, pp.317.

140. Weisgerber (1950). Vom Weltbild der deutschen Sprache, 60 – 96.

141. Whorf, B., Carrol, John, B., ed. (1956). Language, Thought, and Reality:

Selected Writings of Benjamin Lee Whorf, MIT Press.

142. Zhou, W. (1997). A research on English Semantic Field. Shandong

Foreign Languages Journal, 68, 21 – 23].

143. Zhou, W. (2001). A new research on English Semantic Field. Journal of

Beijing International Studies University, 102, 30 – 35]

144. Гак Б.Г (1971), Семантическая структура слова как компанент

семантической структуры высказывания // Семантическая

структура слова. Психолингвистические исследования. М., Наука.

145. Колшанский Г.В (1977), Языковая номинация. Общие вопросы. М.,

Наука.

162

146. Реформатский А.А (1960), Введение в языкознание. М., Учпедгиз.

NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN

A. NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT CÁC TỪ NGỮ CHỈ HOA TRONG

TIẾNG ANH

1. Pink, A. (2008), Dictionary of flowers and plants for gardening, This

Vintage Treasure Complimentary Ebook Provided by Teresa Thomas

Bohannon.

2. Hilderic Friend, F.l.s. Flower and flower lore, volum 1 by the REV.

3. Kirkby, M. (2011). A Victorian Flower Dictionary: The Language of

Flowers Companion, Ballantine Books – New York.

4. Oxford Advanced Learner’s Dictionary, New 9th Edition, Oxford

University Press, 2015

5. Mạng từ trong tiếng Anh (wordnet)

B. NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT CÁC TỪ NGỮ CHỈ HOA TRONG

TIẾNG VIỆT

6. Võ Văn Chi (2003), Từ điển thực vật thông dụng, tập 1, Nxb. Khoa học và

Kỹ thuật, Hà Nội.

7. Thiên Kim (2017), Sổ tay người làm vườn: 365 loài hoa cảnh, Nxb Mỹ

Thuật.

8. Lê Quang Long (chủ biên) (2008), Từ điển tranh về các loài hoa, Nxb.

Giáo dục, Hà Nội.

9. Hoàng Mai (2008), Ngôn ngữ các loài hoa, Nxb. Lao động – TTVHNN

Đông Tây.

10. Hoàng Phê (chủ biên) (2010), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách

khoa, Hà Nội.

C. ĐƯỜNG LINK NGUỒN NGỮ LIỆU

11. https://idioms.thefreedictionary.com

12. https://www.etymonline.com

13. https://saigonhoa.com/

163

14. https://vitc.edu.vn/tudiennn/home/about

15. https://www.countryfile.com/wildlife/how-to-identify/a-beginners-guide-

to-native-british-wildflowers/;

16. https://www.macmillandictionary.com/dictionary/british/flower_1

D. NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TIẾNG ANH

17. Cowie, A.P., Mackin, R., & McCaig, I. R. (1993). Oxford Dictionary of

English Idioms. Oxford: Oxford University Press.

18. Dang, N.G. (2018). Idioms in English and Vietnamese. Vietnam National

University Press, Hanoi.

19. Longman (1999). American Idioms Dictionary, Pearson Education

Limited.

20. Oxford Idioms Dictionary for Learners of English, Oxford University

Press, 2012.

21. Bùi Phụng (2003), Thành ngữ Anh - Việt Idioms. Nxb Văn hóa Thông

Tin.

22. Oxford Idioms - Dictionary for learners of English (2017). Oxford

University Press.

23. Seidl, J & McMordie, W. (1988). English idioms. London: OUP,12-13

24. Lê Thành, Trịnh Thu Hương - Trung Dũng (2010). Dictionary of English

- Vietnamese idioms (Từ điển thành ngữ Anh - Việt), Nxb Khoa học và

Kỹ thuật

E. NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ, CA DAO

TIẾNG VIỆT

25. Việt Chương (2003), Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb.

Tổng hợp Đồng Nai.

26. Dang Nguyen Giang (2018). Idioms in English and Vietnamese. Vietnam

National University Press, Hanoi.

27. Nguyễn Xuân Kính – Phan Đăng Nhật (chủ biên) (1995), Kho tàng ca dao

164

Người Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

28. Nguyễn Lân. (2012). Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam. Nxb Văn

Hóa Thông Tin.

29. Nguyễn Lực, Lương Văn Đang (2009), Thành ngữ tiếng Việt, Nxb. Khoa

học xã hội, Hà Nội.

30 Vũ Ngọc Phan (2004), Tục ngữ - Ca dao – Dân Ca Việt Nam, Nxb. Văn

học, Hà Nội.

31 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1997), Từ điển giải thích thuật ngữ Ngôn ngữ

165

học, Nxb Giáo dục.