
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TÀO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN HÀ VIỆT
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO KHẢ NĂNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO
KHU CÔNG NGHIỆP THỤY VÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản trị Kinh Doanh
Khóa: 2009-2011
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Thanh Hồng
PHÚ THỌ, NĂM 2012

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đề ra nhiều chủ trương
đúng đắn, nhờ vậy tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Trong các
chủ trương đó, phải kể đến chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, huy động
mọi nguồn lực để phát triển đất nước, trong đó có vốn đầu tư trong nước và nước
ngoài. Khu công nghiệp (sau đây gọi tắt là KCN), Khu kinh tế ( sau đây gọi tắt là
KKT), Khu chế xuất (KCX) được hình thành là một trong những giải pháp quan
trọng để thu hút vốn đầu tư phát triển, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài để đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sau 20 năm triển khai xây dựng các
khu công nghiệp, trong cả nước đã hình thành một mạng lưới các KCN, và đã có
những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của các địa phương, các vùng
và cả nước, thể hiện vai trò đi đầu trong tiếp nhận chuyển giao công nghệ, kinh
nghiệm quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh, giải quyết việc làm và thúc đẩy sự
phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam.
Kể từ khi KCX đầu tiên của Việt Nam được thành lập năm 1991. Hiện tại, cả
nước đã có 283 (KCN) KCX được thành lập ở 58 tỉnh, thành phố, với tổng diện tích
đất tự nhiên 70.000 ha, trong đó có hơn 46.000 ha đất công nghiệp có thể cho thuê
chiếm khoảng 61% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó, với 171 KCN đã đi vào
hoạt động, với tổng diện tích đất tự nhiên 43.580 ha và 112 KCN đang trong đang
trong quá trình đền bù gải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng, với tổng diện
tích đất tự nhiên 26.420 ha.
Theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính
phủ, đến năm 2015, dự kiến thành lập mới 115 KCN và mở rộng 27 KCN với tổng
diện tích gần 32.000 ha, sau một thời gian thực hiện quyết định nêu trên một số
KCN đã thành lập và một số KCN đã được bổ sung vào quy hoạch phát triển KCN
đến năm 2020, số KCN quy hoạch thành lập đến năm 2020 là 209 KCN với tổng
diện tích 64.310 ha.
Thực tế quá trình xây dựng và phát triển các KCN,KCX Việt Nam trong 20
năm đã qua cho ta thấy những đóng góp quan trọng của KCN,KCX trong thu hút
đầu tư, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nguyễn Hà Việt Khóa học 2009
1

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
và lao động các địa phương trên cả nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Những đóng góp tích cực của KCN, KCX vào phát triển kinh tế, xã hội trong 20
năm qua đã khẳng định đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về
xây dựng và phát triển các KCN, KCX.
Tuy nhiên, sự phát triển của các KCN ở nước ta chưa thực sự vững chắc, việc
xây dựng cơ sở hạ tầng KCN chưa đồng bộ, chưa gắn chặt với yêu cầu bảo vệ môi
trường, chống ô nhiễm, vai trò thúc đẩy chuyển giao công nghệ còn yếu, liên kết
kinh tế và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN chưa cao, khả
năng tạo việc làm, thu hút lao động vẫn còn nhiều hạn chế.
Vấn đề đặt ra là làm sao để nâng cao khả năng thu hút vôn đầu tư vào KCN
hay nói cách khác là nâng cao hiệu quả của các KCN là một vấn đề mà Đảng và
Nhà nước, các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư hạ tầng KCN, các doanh nghiệp và
nhân dân trong cả nước đã và đang rất quan tâm.
Phú Thọ là một tỉnh miền núi phía tây Bắc Việt Nam, vị trí địa lý trng tâm
của vùng, là cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, cầu nối vùng Tây Bắc với
thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, có truyền thống về phát triển tiểu thủ
công nghiệp và chế biến nông sản thực phẩm. Nhằm phát triển Phú Thọ là trung tâm
phía tây bắc về kinh tế, xã hội và công nghiệp tại đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 18 và
19 đã xác định rõ mục tiêu: “Chủ động nắm thời cơ tranh thủ xây dựng các dự án
đầu tư để phát triển những cơ sở sản xuất công nghiệp mới, hình thành khu công
nghiệp tập trung và đầu tư cơ sở hạ tầng vào khu vực này để thu hút, đón nhận đầu
tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước"
Từ chủ trương trên, trong những năm qua UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành
xây dựng quy hoạch các KCN tập trung phù hợp với các điều kiện thực tế của địa
phương, đồng thời tỉnh cũng ban hành nhiều cơ chế chính sách nhằm kêu gọi và thu
hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh.
Theo báo cáo của Ban QL các KCN tỉnh Phú Thọ đến hết năm 2010 toàn tỉnh
đã có 7 KCN được Thủ tướng chính phủ phê duyệt vào danh mục các khu công
nghiệp tập trung đến năm 2015, định hướng 2020. Hiện nay đã có 01 KCN đã xây
dựng xong hạ tầng đi vào hoạt động, với 47 dự án thứ cấp, 2 KCN đang làm thủ tục
đầu tư và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch bổ sung và thành lập mới
Nguyễn Hà Việt Khóa học 2009
2

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
KCN. Từ khi các KCN trên địa bàn tỉnh đi vào hoạt động đã đóng góp tích cực vào
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, tuy nhiên bên cạnh những kết quả tích cực
các KCN của tỉnh Phú Thọ cũng như nhiều KCN khác trên cả nước vẫn còn bộc lộ
nhiều hạn chế về thu hút đầu tư vào khu công nghiệp ... Do đó đề tài: “ Phân tích
thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư
vào khu công nghiệp Thụy Vân” là một đề tài hết sức cần thiết cho tác giả trong
công tác của mình tại Ban quản lý các KCN tỉnh Phú Thọ.
2. Mục đích của đề tài.
Mục đích nghiên cứu đề tài để giải quyết một số nội dung sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về phát triển các khu công
nghiệp, xây dựng các tiêu chí đánh giá khả năng thu hút vốn đầu tư tại các KCN.
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động trong quá trình hình thành và
đầu tư các KCN của tỉnh Phú Thọ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào
KCN Thụy Vân.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở các khu công nghiệp của tỉnh Phú
Thọ nói chung, KCN Thụy Vân nói riêng và một số KCN của các tỉnh lân cận.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu sẵn có, kết hợp điều tra khảo sát tại các
KCN của tỉnh Phú Thọ, từ đó phân tích, đánh giá các số liệu thu thập được và đưa
ra các giải pháp nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào KCN Thụy Vân.
5. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài:
Việc nghiên cứu để xây dựng đề tài: “Phân tích thực trạng và đề xuất một số
giải pháp nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào khu công nghiệp Thụy
Vân” là việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, giúp cho các cơ quan quản lý
nhà nước, cơ quan hoạch định chính sách phát triển của địa phương có những thông
tin cần thiết để xây dựng chiến lược phát triển KCN Thụy Vân.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua các nội dung sau đây:
Nguyễn Hà Việt Khóa học 2009
3

Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về các KCN, các tiêu chí
đánh giá khả năng thu hút vốn đầu tư của các KCN nói chung.
Hai là, bằng các số liệu chứng minh, luận văn phân tích và làm sáng tỏ hiện
trạng đầu tư vào KCN Thụy Vân. Từ đó rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm
và giúp cho cho các cấp chính quyền, các cơ quan ban ngành của tỉnh nâng cao hiệu
quả quản lý Nhà nước đối với KCN Thụy Vân, đồng thời có chính sách phù hợp đối
với các KCN phục vụ sự phát triển bền vững của tỉnh nhà.
Ba là, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế và những nguyên
nhân trong quá trình phát triển KCN Thụy Vân, từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào các KCN đảm bảo phát triển kinh
tế - xã hội tỉnh Phú Thọ một cách bền vững.
6. Kết cấu của đề tài:
- Phần mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về Khu công nghiệp
- Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào KCN Thụy Vân
- Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư vào KCN Thụy
Vân.
- Kết luận
Nguyễn Hà Việt Khóa học 2009
4

