BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC SÖ PHAÏM TP. HOÀ CHÍ MINH ----------------------------------------

Nguyeãn Tieán Duõng

TRUYEÄN NGAÉN CHIEÁN TRANH

CUÛA ERNEST HEMINGWAY

Chuyeân ngaønh: Vaên hoïc nöôùc ngoaøi Maõ soá: 60 22 30

LUAÄN VAÊN THAÏC SÓ VAÊN HOÏC

NGÖÔØI HÖÔÙNG DAÃN KHOA HOÏC TS. ÑAØO NGOÏC CHÖÔNG

Thaønh phoá Hoà Chí Minh - 2008

Lôøi caûm ôn

Toâi xin chaân thaønh caûm ôn:

Thaày giaùo höôùng daãn, Tieán só Ñaøo Ngoïc Chöông

Giaùo sö Löu Ñöùc Trung, Phoù Giaùo sö Löông Duy Trung

Caùc thaày coâ Toå Vaên hoïc nöôùc ngoaøi, caùc thaày coâ Khoa Ngöõ vaên

Phoøng Sau Ñaïi hoïc & CN Tröôøng Ñaïi hoïc Sö phaïm Tp.Hoà Chí Minh

Anh Nguyeãn Hoàng Vyõ

Gia ñình vaø baïn beø

ñaõ taän tình giuùp ñôõ, goùp yù, boå sung cho toâi hoaøn thaønh luaän vaên naøy.

Gia Lai, ngaøy 31 thaùng 8 naêm 2008

Ngöôøi vieát luaän vaên:

Nguyeãn Tieán Duõng

Lôùp Cao hoïc Vaên hoïc nöôùc ngoaøi K 16

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Một ghi chú của Gail Calwel trong một quyển sách nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh E.

Hemingway do thư viện Kennedy tổ chức ngày 10 & 11 tháng 4 năm 1999 có đoạn:

“Hemingway ở đỉnh cao của làn sóng thời đại. Đó là sự nổi loạn chống lại thứ văn xuôi thượng

lưu Anh đạo đức giả và nói quá sự thật.”

Thực vậy, sáng tác của E. Hemingway nói chung và truyện ngắn chiến tranh của ông nói

riêng đã khẳng định điều đó.

Sự nghiệp văn học của E. Hemingway được kể đến hơn tám mươi bài thơ, năm vở kịch,

mười hai tiểu thuyết và hơn một trăm truyện ngắn với nhiều đề tài khác nhau. Đó là một gia tài

văn học không nhỏ của một nhà văn gần 40 năm cầm bút và lăn lộn khắp các chiến trường. Các

nhà nghiên cứu thế giới và Việt Nam đã dành nhiều tâm huyết để tìm tịi, nghin cứu các sáng tác

của E. Hemingway trên nhiều khía cạnh khác nhau như đề tài, thi pháp, thể loại, ngôn ngữ,

nhân vật, phong cách nghệ thuật… và có nhiều công trình thành công đáng kể.

Đặc biệt, các công trình nghiên cứu về đề tài chiến tranh và truyện ngắn của E.

Hemingway được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều nhất và có nhiều phát hiện quan trọng.

Có thể nói, đề tài chiến tranh là đề tài quen thuộc và chủ đạo trong sáng tác Hemingway. Ông

được xem là một trong những nhà văn viết về chiến tranh xuất sắc nhất của thế kỉ XX cùng với

Barbusse, Erich Maria Remarque… Hơn thế nữa, Hemingway được coi là nhà văn tiên phong

của nghệ thuật viết truyện ngắn hiện đại. Thậm chí có ý kiến rằng E. Hemingway viết truyện

ngắn thành công hơn tiểu thuyết mặc dù ông đạt giải Nobel về tiểu thuyết (G. G. Marquez).

Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và xuyên suốt về

truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway. Trong khi đó mảng truyện ngắn chiến tranh của

Hemingway chiếm một phần không nhỏ trong sáng tác của ông. Tôi nghĩ rằng mảng truyện

ngắn chiến tranh của E. Hemingway là mảng sáng tác có nhiều giá trị về nội dung và nghệ thuật

mà chúng ta chưa có dịp tìm hiểu. Đó là lí do quan trọng của đề tài này.

Về mặt các ấn phẩm, số lượng truyện ngắn của E. Hemingway được dịch sang tiếng Việt

chỉ hơn 70 truyện trong tổng số hơn 100 truyện, trong đó một số truyện ngắn chiến tranh tiêu

biểu chưa được dịch. Do vậy, người viết luận văn này đã cố gắng dịch sang tiếng Việt bốn

truyện ngắn: Đêm trước trận đánh (Night Before Battle), Đêm trước đổ bộ (Night Before

Landing), Điểm đen chỗ giao lộ (Black Ass at the Crossroads), Cảnh vật muôn màu (Landscape

with Figures) mà chúng tôi cho rằng đây là những truyện ngắn chiến tranh tiêu biểu của

Hemingway. Chúng tôi hy vọng rằng những truyện ấy bổ sung vào mảng truyện ngắn chiến

tranh của E. Hemingway đã được dịch nhằm giúp cho việc nghiên cứu mảng truyện ngắn chiến

tranh của E. Hemingway toàn diện và sâu sắc hơn.

Trong luận văn này, chúng tôi tập hợp được các truyện ngắn về đề tài chiến tranh của E.

Hemingway và bước đầu xác định những đặc trưng cơ bản của truyện ngắn chiến tranh

Hemingway ở hai phương diện: không gian nghệ thuật và nhân vật với tư cách là hai đặc điểm

cơ bản xác lập đặc trưng truyện ngắn chiến tranh của Hemingway. Với những nỗ lực như thế,

hy vọng đề tài của chúng tôi sẽ góp phần phục vụ cho mảng tác phẩm của E. Hemingway trong

nhà trường, nhất là đối với cá nhân tôi.

2. Lịch sử vấn đề

Từ năm 1924, sau khi in our time ra đời, trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều nghiên

cứu về E. Hemingway, phong cách nghệ thuật và sáng tác của ông. Cho đến nay, có rất nhiều

công trình nghiên cứu về Hemingway mang giá trị thiết thực. Để phục vụ cho luận văn của

mình, chúng tôi chia các nghiên cứu về E. Hemingway theo các vấn đề sau đây:

2. 1. Về đề tài chiến tranh

Các nhà xuất bản trên thế giới đã sắp xếp tác phẩm của E. Hemingway theo đề tài chiến

tranh, gồm những ấn phẩm sau:

-Hemingway on War By Ernest Hemingway and Ernest Hemingway Edited by Sean

Hemingway and Sean Hemingway in Trade Paperback at SimonSays.

-Men at War -New York Crown Publishers, 1942.

-Hemingway's War Fiction and "The Best god-dammed God you Ever Knew".

Autores: Tim Pingleton; Localización American, ISSN 1695-7814, Vol.1, …

Đây là các tuyển tập sáng tác của E. Hemingway gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, các bài

báo, bài phỏng vấn và ghi chép về chiến tranh của Ernest Hemingway do gia đình cùng các nhà

xuất bản sưu tầm, tuyển chọn. Qua việc sắp xếp các tác phẩm theo đề tài chiến tranh ở trên,

người sưu tầm, tuyển chọn bước đầu đã chú ý đến các sáng tác về đề tài chiến tranh của E.

Hemingway và đã có công tập hợp các sáng tác ấy với nhiều thể loại. Việc làm này chứng tỏ

mọi người đã chú ý đến mảng sáng tác về chiến tranh của E. Hemingway, một mảng sáng tác

mà E. Hemingway có nhiều thành công và gây nhiều ấn tượng với công chúng. Tuy vậy, cho

đến nay, chưa có ấn phẩm nào sắp xếp truyện ngắn chiến tranh của Hemingway thành tuyển

tập. Điều đó đồng nghĩa với việc nghiên cứu truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway chưa

được quan tâm thỏa đáng.

Ở Việt Nam, từ năm 1985, Lê Đình Cúc đã đề cập đến đề tài chiến tranh của E.

Hemingway qua luận án phó tiến sĩ: Tiểu thuyết về chiến tranh của Hemingway [29]. Trong

luận án của mình, Lê Đình Cúc đã khảo sát những tiểu thuyết tiêu biểu của Hemingway nhằm

làm rõ thái độ và quan niệm của E. Hemingway về chiến tranh. Lê Đình Cúc nhận định: “Cùng

đi song song với đề tài chiến tranh là đề tài tình yêu và sức sống mãnh liệt của con người” [31,

tr.9].

Trong một bài tham luận về Hemingway mang tên Âm hưởng thời đại trong

Hemingway, Lê Huy Bắc cho rằng: “Hemingway tập trung khắc họa hai diện mạo: chết trong

chiến tranh và sống trở về”, “Chiến tranh hiện diện trong tác phẩm của Hemingway trước tiên

không phải bằng bộ mặt thật với đạn bom, xe tăng pháo binh… mà nỗi ám ảnh ghê hồn” [15,

tr.24-27]. Tuy ý kiến của Lê Huy Bắc không mới và chưa tập trung nhưng đó là sự tái khẳng

định đề tài chiến tranh trong sáng tác nói chung và trong truyện

ngắn của E. Hemingway nói riêng.

2. 2. Về thể loại

Trong bài viết Hemingway ‘s English Reputation, DSR. Welland quan tâm đến hình

thức đặc biệt của in our time. Ông cho rằng tập in our time chính là ti ểu thuyết phân chia

thành các đoạn [107, tr.10-35].

Còn Philip Young, trong Ernest Hemingway, cho rằng truyện ngắn của E. Hemingway là

loại văn đơn giản, sắc cạnh và Hemingway có những truyện ngắn phác thảo (Sketch) [110].

Khái niệm sketch của Philip Young chỉ một kiểu truyện ngắn của E. Hemingway. Khái niệm

này của P. Young đã gây nhiều tranh cãi, vì bản thân khái niệm sketch không bao hàm được các

đặc điểm của truyện ngắn E. Hemingway. Sau này, Arlen J. Hansen [41], Lê Huy Bắc [12], Đào

Ngọc Chương [22] tiếp tục bàn về khái niệm sketch. Trong đó ý kiến của Arlen J. Hansen và

Đào Ngọc Chương đã lí giải khái niệm sketch với nhiều góc độ khác nhau và góp phần làm

sáng tỏ vấn đề thể loại truyện ngắn của E. Hemingway. Chúng tôi sẽ trình bày vấn đề này rõ

hơn ở Chương 1 của luận văn.

Trong bài “in our time, những nét phác thảo của một phong cách nghệ thuật” [79],

căn cứ trên tiêu chí thể loại, Trần Thị Thuận đánh giá rằng in our time gần với truyện ngắn

hơn cả và đó là những trang viết đặt nền móng nghệ thuật của E. Hemingway sau này. Ý kiến

của Trần Thị Thuận tuy chưa hoàn hảo nhưng đó là một cách xác định thể loại truyện ngắn của

E. Hemingway.

Cũng nghiên cứu về in our time, nhưng Đào Ngọc Chương đã lí giải sâu sắc hơn về vấn

đề thể loại của in our time trên cơ sở phân tích các khái niệm đoản văn, chương (chapter). Đào

Ngọc Chương xem kiểu chương xen (chapter) trong in our time như một truyện ngắn độc lập

trên cơ sở nguyên lí tảng băng trôi của E. Hemingway [23]. Theo chúng tôi, đây là nhận định

phù hợp nhất, vì nó có thể lí giải các đặc điểm truyện ngắn của E. Hemingway. Do đó, trong

quá trình tiến hành luận văn, chúng tôi đã căn cứ ý kiến của Đào Ngọc Chương để khảo sát và

xếp loại truyện ngắn của Hemingway.

Lê Huy Bắc cho rằng truyện ngắn E. Hemingway có kích thước và nhiều chủng loại khác

nhau: Truyện dong ý thức, truyện ngắn thư, truyện ngắn kịch, truyện ngắn mini, ngụ ngôn hiện

đại, truyện ngắn triết lí, truyện ngắn theo trường phái minimalism [52, tr.6].

Các nhận định trên cho thấy sự đa dạng, phong phú và phức tạp về thể loại truyện ngắn

của E. Hemingway.

2. 3. Về hiện thực

Khi nói về hiện thực trong tác phẩm văn học là nói đến thế giới hiện thực đã được tái tạo

qua thế giới chủ quan của tác giả. Thế giới ấy chính là một hiện thực khác, một hiện thực thứ

hai, dù mang hình bóng của thế giới khách quan ngoài đời. Không gian của tác phẩm văn học

cũng nằm trong thế giới ấy. Với cách hiểu như vậy, hiện thực phản ánh trong sáng tác của E.

Hemingway được nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận với nhiều khái niệm khác nhau như: không

gian, hiện thực, bối cảnh, hoàn cảnh…

Trong lời giới thiệu công trình Hemingway, A Collection of Critical Essays, Robert P.

Weeks nhận xét: không gian trong sáng tác của Hemingway là hạn hẹp và đơn giản [81, tr.10].

Theo Einkeshchein (trong Selected Stories by Enest Hemingway), hiện thực trong tác

phẩm Hemingway đề cập đến thế giới đầy tội ác và nỗi kinh hoàng [94]. Einkeshchein phân

tích quá trình chuyển biến cuộc sống của E. Hemingway từ 1924 đến cuối những năm 1930 và

cho rằng: quan điểm của Hemingway trước thực tại là căm ghét bạo lực, chống chiến tranh và

chủ nghĩa phát xít quyết liệt. Hemingway có tư tưởng ủng hộ cách mạng.

Còn Ivan Kashkeen lại nhìn nhận: Hemingway nhìn thấy hiện thực vỡ vụn (trong Of

Greatest Importtance: The Prose of Enest Hemingway) [100, tr.160-172]. Và Philip Young

thì hình dung thế giới của Hemingway qua “khe hở của một bức tường”, “Thế giới của

Hemingway là thế giới trong đó mọi thứ không sinh hoa, kết quả mà là một thế giới nổ tung,

gãy vỡ, không hình thành, luôn bị gặm mòn” [110, tr.216].

Trong khi đó Leon Edel cho rằng: Thế giới trong Hemingway là thế giới của những hành

động hời hợt, một sự phản ánh thô thiển, cách nhìn thế giới của E. Hemingway là “loại nghệ sĩ

của không gian nhỏ bé với cái nhìn giới hạn” [93, tr.20].

Các nhà nghiên cứu Thuỵ Điển lại có ý kiến: Thế giới trong tác phẩm E. Hemingway

không có sự thương cảm [88, tr.151-164]. Nhà nghiên cứu Đức, Helmut Papajewski, nhận

xét: bên dưới cái hạn hẹp của thế giới truyện ngắn E. Hemingway là “mối quan tâm thường trực

về số phận bi kịch của con người” [107, tr.75].

Lê Huy Bắc cho rằng: “Thế giới của Hemingway không chỉ là thế giới của những căng

thẳng, đổ vỡ mà còn là thế giới của nhiều cạm bẫy” [15, tr.38]. Đặc biệt Lê Huy Bắc chú ý đến

yếu tố không gian tác động đến tính cách của nhân vật: “Hemingway xây dựng không gian này

là để khắc họa nên tính cách chủ đạo chung cho các nhân vật, tính cách anh hùng. Chính môi

trường sống đầy bạo lực và quan niệm sống hào hùng trên đã tạo nên kiểu nhân vật riêng biệt

của Hemingway” [15, tr.36].

Hoàng Nhân lại chú ý cách miêu tả không gian chiến tranh trong tác phẩm của E.

Hemingway: “Tác giả đã mô tả sinh động những cảnh đổ nát, hoang tàn trong chiến tranh.”

[70, tr.202]. Hoàng Nhân nhận xét thêm: “Thế giới miêu tả của Cézanne và Hemingway có vẻ

chật hẹp, không bao quát được sự tinh tế có tính chất cổ điển.” [70, tr.224]. Ý kiến của Hoàng

Nhân khẳng định một lần nữa ý kiến của Robert P. Weeks đã nêu ở trên.

2. 4. Về nhân vật

Hầu hết các nhà nghiên cứu đã nêu được các kiểu nhân vật hoặc đề cập đến vấn đề con

người trong tác phẩm E. Hemingway:

-Nhân vật trong hoàn cảnh bi đát, khắc nghiệt:

Ray B. West và Philip Young đều quan tâm đến sự tồn tại khó khăn của các nhân vật

trong hoàn cảnh khắc nghiệt [81, tr.11].

André Maurois cho rằng trong cái thế giới đầy bất trắc của chiến tranh và cái chết thường

xuyên hiện diện, trong tình trạng đầy kích động và luôn dự cảm những nguy hiểm, nhân vật của

E. Hemingway có hai cách giải quyết hoặc bằng cách tìm quên trong uống rượu và làm tình đến

đờ đẫn giác quan hoặc sống bằng cách sống khắc kỉ, chấp nhận kéo dài cuộc báo tử [22, tr.35]

John Killinger miêu tả tình cảnh bi đát của những người lính trở về sau chiến tranh [101].

E. Johnson, trong Giã từ hòa bình riêng lẻ, đặt vấn đề: con người thoát ly và con người nhập

cuộc. Einkeshchein lại nói đến con người với tâm hồn tàn phế [94]. Còn Helmut Papajewski và

một số nhà nghiên cứu Pháp, Thụy Điển cho rằng đó là những con người trống rỗng, buồn bã

đến cực độ [107, tr. 75-80].

-Con người với nỗi cô đơn:

Khi đề cập đến E. Hemingway, Drobishevshii có nhận xét: truyện của ông mang sắc thái

“bi kịch của sự cô đơn” [81, tr.12]. Cùng với ý kiến ấy, Jonh Killinger cho rằng Hemingway

luôn đề cập đến con người cô đơn [101]. Còn Helmut Papajewski nhận định: trong tác phẩm

của Hemingway luôn có sự sợ hãi, sự cô độc tận cùng của cá nhân, đến nỗi tình yêu đối lứa

cũng không thể hóa giải nổi [107, tr.81-88].

Hoàng Nhân và Lê Huy Bắc chú ý đến hình ảnh nhân vật người lính trở về trong truyện

ngắn E. Hemingway dở điên dở dại, bấn loạn và “lánh đời”, mang trong lòng những vết thương

âm ỉ [15, tr.27, 29].

- Con người với cái chết:

Cái chết trong tác phẩm E. Hemingway được các nhà nghiên quan tâm nhiều nhất.

Malcolm Cowley nhận xét: không một nhà văn nào trong thời đại chúng ta lại có thể cho ta

nhìn thấy nhiều xác chết như thế [92, tr.40]. Còn Jonh Killinger cho rằng cái chết là hình tượng

thường trực trong tác phẩm của Hemingway, thậm chí đó chính là một thứ chìa khóa lí giải

những bí mật của thế giới E. Hemingway [101]. Philip Young trong Ernest Hemingway lại nói

đến cái chết và sự biến hình [111]. Còn Thorsten Jonsson dành nguyên một chương Sự gần gũi

với cái chết để nói đến cái chết khi viết về E. Hemingway [99]. Trong Tiêu chuẩn của cái chết,

L. Kistein cho rằng cái chết là nỗi ám ảnh và danh dự của con người. Ivan Kashkeen không tin

rằng E. Hemingway bị cái chết ám ảnh nên hạn chế tầm nhìn [100, tr.172].

Ở một góc độ khác, John Killinger và Maxwell Geimar khám phá cái chết, cái tôi hiện

sinh, cái hư vô nằm ngay ở đề tài chiến tranh trong tác phẩm E. Hemingway [22, tr.27, 36].

Phát hiện trên khẳng định thêm quan niệm của E. Hemingway về các khía cạnh của chiến tranh:

cái chết, cái hư vô, sự vô lí… Và tất cả điều này được phản ánh rất rõ trong truyện ngắn mà

chúng tôi sẽ đề cập ở các chương sau.

Lê Huy Bắc lại nhắc đến những cái chết vô nghĩa, những “cái chết bất đắc kì tử” [15,

tr.27] của các nhân vật trong tác phẩm E. Hemingway. Tuy nhiên, Lê Huy Bắc cũng đánh giá

rất chủ quan khi kết luận: “Hemingway thường đề cập đến cái chết nhưng những cái chết ấy

luôn mang âm hưởng của sử thi, không một chút bi lụy, nhẹ nhàng như cái chết của chính

ông…” [15, tr.39].

-Con người với sức sống của tâm hồn:

Các nhà văn thế giới và Việt Nam đều chú ý đến cuộc sống tâm hồn của nhân vật.

Trong The Dumb Ox in Love and War, Wyndham Lewis cho rằng nhân vật của

Hemingway là loài súc vật ăn đậu hũ ở cửa lò sát sinh [103, tr.76]. Còn Sean O’ Faolain, trong

Ernest Hemingway, lại nhận định: nhân vật của E. Hemingway không có đầu óc, quá khứ,

truyền thống, kí ức [106, tr.112]. Và trong Hemingway: Gauge of Moral, Edmund Wilson thì

nhận xét: con người trong tác phẩm Hemingway như những vi khuẩn sống trong

nước dưới dạng đơn bào [109, tr.214].

Các nhà nghiên cứu Việt Nam thì đánh giá nhân vật trong sáng tác của E. Hemingway

lạc quan hơn. Hoàng Nhân viết: “tình yêu cuộc sống đưa đến khả năng phát hiện ra những sự

đơn giản thế giới tâm hồn của con người, xa lạ với những ước lệ thông thường“ [70, tr.201]. Lê

Huy Bắc cho rằng: “Hemingway đã xây dựng được những chiến binh dũng cảm, xem cái chết

tựa lông hồng, khi đã xác định cho mình lý tưởng, một nguyên tắc sống” [15, tr.27]. Nguyễn

Hải Hà lại có ý kiến: “Các nhân vật yêu mến của ông đều vượt lên sự cô đơn, chán chường,

hoài nghi, khắc phục chấn thương tâm hồn trong một thời đại bão táp để trở thành người khắc

kỉ kiên cường” [15, tr.8].

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra nhân vật của E. Hemingway dù ở trạng thái tích cực

hay tiêu cực nhưng ở họ có khả năng chịu đựng thử thách và giàu khát vọng sống, khát vọng tự

do.

-Những nhân vật mang dấu ấn tác giả:

Trong hai công trình Ernest Hemingway và Ernest Hemingway: nhà văn như là một

nghệ sĩ (Hemingway: The Writer as Artist), Philip Young quan tâm đến nhân vật-Hemingway

(Hemingway hero), là nhân vật có quan hệ với cuộc đời tác giả [22, tr.33]. Philip Young lại chú

ý đến nhân vật Nick trong các truyện ngắn của E. Hemingway. Nhân vật Nick được miêu tả

theo một quá trình từ tuổi thơ đến trưởng thành. Còn Ivan Kaskeen chú ý đến nhân vật hóa

thân, mang dáng dấp tác giả trong sáng tác của E. Hemingway trong Ernest Hemingway-bi

kịch của tay thợ lành nghề [22, tr.32]. Có thể nói Nick là nhân vật trung tâm và là hóa thân

của tác giả

trong liên truyện, mang dấu ấn của tác giả nhiều nhất.

Sau khi nghiên cứu các sáng tác của Hemingway, Hoàng Nhân nhận xét: sáng tác của E.

Hemingway rất phong phú về đề tài song “Dù viết đề tài gì, tác giả chỉ nói về mình, những cảm

xúc và suy tư của mình trước cuộc sống đã từng trải” [70, tr.223]. Nhận xét của Hoàng Nhân đã

chú ý đến cảm nghĩ, tư tưởng chủ quan của tác giả trong tác phẩm của E. Hemingway. Có lẽ

Hoàng Nhân muốn nhấn mạnh sự trải nghiệm của E. Hemingway thể hiện trong tác phẩm. Còn

Nguyễn Hải Hà nhận xét thẳng thừng: “Nhiều nhân vật trung tâm là hóa thân của tác giả, đậm

nét tự truyện tinh thần nhưng sáng tác của Hemingway lại là câu chuyện ve thân phận con

người” [15, tr.8].

2. 5. Về cách viết truyện ngắn

Các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước như: Carlos Baker, H. E. Bates, James

Fenton, Hoàng Nhân, Nguyễn Hải Hà, Lê Huy Bắc, Đào ngọc Chương… đều chú ý đến đặc

điểm nổi bật của nghệ thuật viết nói chung và truyện ngắn nói riêng của E. Hemingway như

nguyên lí tảng băng trôi, bút pháp độc thoại, đối thoại, cách sử dụng ngôn ngữ… Nguyễn Hải

Hà cho rằng: “Crédo (tín điều) thẩm mỹ của Hemingway gói gọn trong nguyên lý tảng băng

trôi, Hemingway chủ trương đãi cát tìm vàng, đưa văn học xích gần cuộc sống, dân chủ hóa

văn học, đề cao cái đẹp giản dị bằng sự ngắn gọn, văn phong điện tín” [15, tr.8]. Hoàng Nhân

lại nhận định: “Ông xây dựng nhân vật bằng cách xóa sạch để làm lại ngay từ đầu, để uốn nắn

lại hình ảnh” [70, tr.227], …

Hầu hết các công trình trên đã đề cập đến các yếu tố nghệ thuật

trong sáng tác của E. Hemingway như: thi pháp, thể loại, thi pháp nhân vật, nhân vật trung tâm,

độc thoại nội tâm, nguyên lý tảng băng trôi, đề tài chiến tranh… Trong đó chúng tôi quan tâm

nhất là các công trình sau đây, những công trình có liên quan đến luận văn này:

-Tiểu thuyết về chiến tranh của Hemingway (Luận án phó tiến sĩ của Lê Đình Cúc,

1985). Qua những tiểu thuyết tiêu biểu của E. Hemingway, Lê Đình Cúc đã phân tích, lí giải

được quan niệm, thái độ của E. Hemingway đối với chiến tranh. Tuy công trình trên còn nhiều

cần bàn song đó là công trình công phu sớm nhất tại Việt Nam nghiên cứu về đề tài chiến tranh

trong sáng tác của Hemingway.

-Đặc trưng thể loại truyện ngắn qua truyện ngắn của Hemingway (Luận án Tiến sĩ

của Trần Thị Thuận năm 2000). Thông qua nhân vật chủ đạo Nick Adam, Trần Thị Thuận khái

quát lên đặc điểm thể loại truyện ngắn của E. Hemingway. Cách làm của Trần Thị Thuận cũng

là một hướng nghiên cứu về E. Hemingway nhưng cách làm ấy chưa thuyết phục. Vì nhân vật

Nick chỉ chiếm số lượng 45/102 truyện ngắn của E. Hemingway [81, tr.33]. Như vậy căn cứ

hoàn toàn vào nhân vật Nick Adam để khái quát đặc điểm thể loại truyện ngắn của E.

Hemingway là chưa thỏa đáng.

-Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Ernest Hemingway (Chuyên

luận của Đào Ngọc Chương, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2003). Đào Ngọc

Chương căn cứ trên lý thuyết thi pháp học để khảo sát các sáng tác của E. Hemingway trong

phạm vi thi pháp tác giả. Cách làm ấy đã đi sâu và lí giải được nhiều vấn đề trong sáng tác của

Hemingway như: nguyên lí tảng băng trôi, thi pháp tiểu thuyết, thi pháp nhân vật …

Nhìn chung các công trình của thế giới và Việt Nam đã có nhiều đóng góp về E.

Hemingway ở nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau như: thể loại, nhân vật, phong cách

nghệ thuật, đề tài… Trong đó có những công trình đề cập đến đề tài chiến tranh, hiện thực

chiến tranh mà E. Hemingway mô tả, vấn đề con người trong tác phẩm của Hemingway như:

nỗi sợ hãi, cô đơn, sự ám ảnh, cái chết… Tất cả những công trình ấy đã có những gợi ý cho đề

tài của tôi đang thực hiện. Tuy nhiên, các công trên chưa có những nhận định chuyên sâu về

truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway hoặc có nhận định về truyện ngắn chiến tranh

nhưng chưa trọn vẹn, nhất quán. Đặc biệt, chưa có công trình nào đặt vấn đề trực tiếp về việc

nghiên cứu mảng truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway như một chỉnh thể nghệ thuật,

theo một nguyên tắc nghệ thuật xuyên suốt. Chính vì lí do ấy, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu

đề tài: Truyện ngắn chiến tranh của E.Hemingway .

3. Đối tượng nghiên cứu

3. 1. Về ấn phẩm

Trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu chính là các truyện ngắn về chiến tranh của E.

Hemingway. Chúng tôi khảo sát các ấn phẩm sau đây:

-Truyện cực ngắn của E. Hemingway (Đào Ngọc Chương và Nguyễn Thị Huyền Linh

dịch-Nhà xuất bản Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2001).

-Truyện ngắn (Ernest Hemingway, Lê Huy Bắc chủ biên và giới thiệu, Nhà xuất bản

Văn học, 2004).

-The Collected Stories (Ernest Hemingway-Edited and introduced by

Fames Fenton-United Kingdom - Everyman’s Library).

-Ernest Hemingway: The Collected Stories (Ernest Hemingway-Fames Fenton-

Everyman’s Library-Random House, May 25, 1995).

-The Complete Short Stories of Ernest Hemingway (Ernest Hemingway-Charles

Scribner’s Sons, New York, 1987).

-In Our Time (Ernest Hemingway, Copyright 1925, Charles Sribner’s, New York).

3. 2. Về phương diện nghiên cứu

Với luận văn này, chúng tôi cố gắng làm rõ đặc điểm truyện ngắn chiến tranh của E.

Hemingway qua các khía cạnh sau:

-Làm nổi bật được cách nhìn của E. Hemingway về hiện thực chiến tranh qua các kiểu

không gian như: Không gian tàn phá, hủy diệt, chết chóc, Không gian di tản, rút lui, Không

gian trú ẩn.

-Tìm hiểu về con người trong chiến tranh trong truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway

với vấn đề nhân bản, tồn sinh, thái độ của tác giả về con người trong chiến tranh qua một số

kiểu nhân vật mà người viết đã cố gắng tìm hiểu và mạnh dạn đặt tên: Những người tham chiến,

Những người lính trở về, Đoàn người di tản, Nhân vật xác chết.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đầu tiên chúng tôi khảo sát tất cả các truyện ngắn của E. Hemingway để tìm ra các dấu

hiệu của truyện ngắn chiến tranh và xếp loại thành mảng truyện ngắn chiến tranh. Trong quá

trình nghiên cứu, chúng tôi đã khảo sát 102 truyện ngắn (gồm truyện ngắn và các thể loại tương

đương được coi là truyện ngắn-Phụ lục 1) và căn cứ các dấu hiệu về đề tài, tình tiết, nội dung,

nhân vật… của truyện, chúng tôi đã thống kê được 41 truyện có những dấu hiệu được xem là

truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway (Phụ lục 2).

Sau đó, chúng tôi tìm, đặt tên và nhận định về các kiểu không gian, các kiểu nhân vật

trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway.

Trên cơ sở các quan điểm đã có về sáng tác, về truyện ngắn của E. Hemingway nói

chung, chúng tôi cố gắng tìm ra sự sáng tạo của E. Hemingway trong nghệ thuật truyện ngắn

chiến tranh của ông. Chúng tôi hy vọng từ những tìm tòi đó sẽ phát hiện đặc trưng cơ bản

truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway.

Dù khả năng của cá nhân có hạn nhưng chúng tôi đã cố gắng dịch thêm bốn truyện ngắn

về đề tài chiến tranh của E. Hemingway mà các ấn phẩm đã xuất bản về truyện ngắn của E.

Hemingway chưa có để bổ sung về số lượng của mảng truyện này. Chúng tôi cũng hy vọng

công việc ấy sẽ đóng góp một phần nhỏ về việc tìm hiểu E. Hemingway.

Trên quy trình ấy, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp tiếp

cận thi pháp, Phương pháp nghiên cứu tác giả, Phương pháp nghiên cứu lịch sử, xã hội và chú ý

đến hiện tượng liên văn bản trong sáng tác của E. Hemingway. Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng

các phương pháp khác như: Phương pháp thống kê, Phương pháp so sánh văn học, Phương

pháp tiếp cận hệ thống… trong quá trình tiến hành luận văn.

5. Phạm vi nghiên cứu

Qua luận văn này, chúng tôi mong muốn sẽ khái quát được đặc

trưng của truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway. Nhưng do khuôn khổ của một luận văn,

khả năng cá nhân và thời gian có hạn nên chúng tôi không thể nghiên cứu, khảo sát truyện ngắn

chiến tranh của E. Hemingway đầy đủ trên các bình diện như: đề tài, ngôn ngữ, kết cấu và các

bình diện thi pháp khác. Chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về kiểu không gian và kiểu nhân

vật trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway.

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: Truyện ngắn và truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway

1. 1. Truyện ngắn

Khi hỏi về định nghĩa truyện ngắn, nhà văn, nhà hoạt động chính trị tiến bộ, giáo sư

người Đôminicana, Juan Bosch (sinh năm 1909), cho rằng: “Định nghĩa thế nào là một truyện

ngắn rất khó, dễ chừng một nhà phê bình văn học xuất chúng cũng chưa chắc đã làm nổi”.

Thực vậy, từ trước đến nay có rất nhiều định nghĩa về truyện ngắn:

Từ điển văn học (NXB KHXH, Hà Nội 1984, Tập 2) và Từ điển thuật ngữ văn học

định nghĩa: “Đó là một hình thức tự sự nhỏ”, “Mô tả một khía cạnh nào đó của cuộc sống, ít

nhân vật và sự kiện. Yếu tố quan trọng nhất là cô đúc, có dung lượng lớn và cách hành văn

nhiều ẩn ý” [40, tr.370]. Định nghĩa của các từ điển ở trên không sai, nó phù hợp với truyện

ngắn truyền thống nhưng chưa khái quát đặc trưng chủ yếu của truyện ngắn nói chung, nhất là

truyện ngắn hiện đại.

Nhà văn Mỹ, William Saroyan (sinh 1908), cho rằng: “Truyện ngắn, đó là một cái gì

không cùng”, “Đó thật là một cái gì khơi mãi không hết… Tôi thấy không nên ràng buộc truyện

ngắn vào các quy tắc nào hết.” [69, tr.103]. Nhà văn Tô Hoài nhận định: “truyện ngắn là một

thể loại có tính chiến đấu mạnh”, “truyện ngắn chính là cách cưa lấy một khúc đời” và

“truyện ngắn đòi hỏi hoàn thiện” [69, tr.8-9].

Trong bài nói chuyện với học viên Trường viết văn Nguyễn Du vào tháng 12 năm 1995,

Nguyên Ngọc đã phân tích khái niệm văn xuôi hư cấu để đưa ra khái niệm truyện ngắn. Theo

ông, truyện ngắn và tiểu thuyết đều là văn xuôi hư cấu (là cái khác với văn xuôi tư liệu như bút

kí, phóng sự…), “truyện ngắn ngắn vì nó là tác phẩm nghệ thuật chưng cất, chứ không phải là

nguyên liệu thô” [1, tr.8-27]. Nguyên Ngọc còn đối chiếu các thuật ngữ để làm nổi bật khái

niệm truyện ngắn như: conte (truyện hoang tưởng-tiếng Pháp), récit (truyện kể lại, truyện ngắn-

tiếng Pháp), nouvelle (truyện ngắn-tiếng Pháp), roman (tiểu thuyết-tiếng Pháp), novel (tiểu

thuyết-tiếng Anh)… Cách giải thích của Nguyên Ngọc đã xác định được khái niệm cơ bản của

truyện ngắn và giúp cho người ta bước đầu hình dung diện mạo truyện ngắn. Trong chuyên luận

của mình [22], Đào Ngọc Chương đã lí giải các khái niệm trên rõ ràng hơn và so sánh các khái

niệm ấy với truyện ngắn, tiểu thuyết Mỹ trong truyền thống và hiện đại để rút ra nhưng đặc

trưng về thể loại trong sáng tác của Hemingway.

Nhà văn Nguyễn Kiên lại tìm hiểu đặc trưng truyện ngắn qua mối liên hệ với tiểu thuyết:

“Tác động qua lại giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là điều hiển nhiên, chí ít thì nó cũng đã dẫn

đến sự tìm tòi, có chủ định hẳn hoi hoặc là ngẫu hứng, về sự trộn lẫn hoặc đan xen các thủ

pháp nghệ thuật” [1, tr.68]. Nguyễn Kiên đã dẫn các truyện trong in our time để chứng minh

cho mối liên hệ đó.

Một số người lại xem nội dung là tiêu chí cơ bản để khái quát nên đặc điểm truyện

ngắn. Nhà văn Nga Alexandr Fadeev (1901-1956) quan niệm: “Truyện ngắn có ý nghĩa lớn của

những hình thức nhỏ và về mặt nội dung cũng như về tư tưởng, truyện ngắn không có gì khác

tiểu thuyết. Nó cũng phải nói tới những gì cần thiết cho nó, chỉ có điều nó ngắn, nên khó hơn.

Truyện ngắn đòi hỏi sự nghiêm khắc, sự chính xác trong hình thức” [Báo Văn học Liên Xô,

22/12/1971]. Nhà văn Trung Quốc Giả Bình Ao cũng nhấn mạnh yếu tố nội dung nhưng phải

độc đáo: “Từ nội dung đến hình thức, bạn tìm được hai chữ độc đáo, bạn sẽ đứng vững” [76,

tr.379].

Có nhà văn bỏ qua bố cục của truyện ngắn. Trong tác phẩm Gorki bàn về văn học (NXB

Văn học, Hà Nội, 1970), M. Gorki nói: “Tôi không bao giờ soạn bố cục, bố cục tự nó hình

thành trong quá trình làm việc; chính các nhân vật soạn ra. Mỗi nhân vật đều có logic hành

động.” Cách viết của M. Gorki đã làm tiền đề cho truyện ngắn hiện đại sau này.

Nhiều người lại tìm khái niệm truyện ngắn qua việc so sánh với thơ. Nhà văn Ireland

Frank O’Connor (1903-1966) cho rằng: “Truyện ngắn rất gần với thơ ở chỗ phải ngắn, súc

tích” [69, tr.110]. Phạm Thị Hoài xem truyện ngắn là đứa con của thơ và văn xuôi: “Truyện

ngắn dường như là đứa con tất yếu của mẹ THƠ và cha là VĂN XUÔI, nó là thơ viết bằng văn

xuôi, bên ngoài mang tình cha mà bên trong mang tính mẹ” [1, tr.112]. Cách so sánh trên cũng

nêu được nét cơ bản của truyện ngắn song nó vẫn còn chung chung.

Gần đây, người ta chú trọng đến cấu trúc của truyện ngắn. Trong một buổi nói chuyện

ngày 15/6/2007, tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tiến sĩ - nhà văn Mỹ, Charles Waugh, cho

rằng: “Giờ đây, cấu trúc của truyện ngắn trở nên hết sức quan trọng. Người viết truyện

ngắn phải đặc

biệt đầu tư vào cấu truc.”

Nhìn chung các ý kiến nêu trên đều trình bày được một số đặc trưng cơ bản của truyện

ngắn. Trong đó ý kiến của Nguyên Ngọc [1, tr.8-27] và Đào Ngọc Chương [ 22, tr.83-98] đi sâu

phân tích các thuật ngữ để tìm ra khái niệm truyện ngắn là thuyết phục nhất. Tuy vậy, nhiều ý

kiến chỉ là những kinh nghiệm, kĩ thuật viết truyện của những nhà văn tên tuổi dành cho những

nhà văn trẻ. Hoặc một số ý kiến chỉ nêu được các đặc trưng của truyện ngắn truyền thống chứ

không nêu được khái niệm về truyện ngắn nói chung. Với nội hàm khái niệm truyện ngắn như

vậy, chúng ta chưa thể khao sát truyện ngắn của Hemingway một cách toàn diện. Vì truyện

ngắn hiện đại nói chung và truyện ngắn Mỹ, truyện ngắn Hemingway nói riêng có nhiều điều

cần bàn.

Truyện ngắn Mỹ có một lịch sử phát triển lâu dài.

Từ thuở lập quốc cho đến thế kỉ XIX, Người Mỹ chia văn xuôi thành hai dạng: fiction

(văn xuôi hư cấu) và non-fiction (văn xuôi không hư cấu). Trong đó fiction chia thành novel

(tiểu thuyết) và short story (truyện ngắn) [12, tr.5-9].

Trong Lược sử truyện ngắn [42], Arlen J. Hansen (1936-1993), giáo sư văn chương Anh

tại đại học Pacific (California) cho rằng: Ở thế kỉ XIX sự xuất hiện phổ biến của hai khái niệm

sketch (đoản tác) và tale (chuyện kể) làm cho văn xuôi thế giới có những biến đổi. Chỉ riêng ở

Mỹ cũng có hàng trăm cuốn sách tự xưng là tuyển tập các đoản tác: Sketch Book (Tập đoản tác)

của Washington Irving, Suburban Sketches (Những đoản tác ngoại ô) của William Dean

Howells, Tales of Grostesque and Arabesque (Những chuyện kể hoang đường và kì quái) của

E. Poe, Piazza Tales (Những truyện kể chốn quảng trường) của Hermann Melville. Hai thuật

ngữ này tạo nên hai thái cực mà từ đó truyện ngắn phát triển. Chuyện kể xuất hiện lâu đời hơn

đoản tác. Về hình thức, chuyện kể là văn nói còn đoản tác là văn viết. Về cơ bản, mỗi truyện kể

là một phương tiện qua đó nền văn hóa nói về chính mình và nhờ thế giữ gìn được những giá trị

và khẳng định bản sắc của mình; Thế hệ già nói với thế hệ trẻ thông qua những truyện kể;

Truyện kể có khi cường điệu, nói thái quá. Còn đoản tác dựa trên sự kiện và mang tính báo chí,

nên có nhiều phân tích và miêu tả hơn, ít tự sự và kịch tính hơn so với truyện kể. Đặc biệt, bản

chất của đoản tác có tính gợi mở. Và trong thế kỉ XIX, truyện ngắn đã biến thiên từ loại truyện

kể đầy tưởng tượng đến loại đoản tác mô tả chính xác thực tế. Có khi chúng kết hợp cả hai hình

thức này tạo thành một kiểu truyện ngắn mang diện mạo mới. Cha đẻ của truyện ngắn loại này

là các nhà văn N. Gogol, N. Hawthortone, E. Hoffmann, E. Poe… [42]

Cho đến những năm 30 của thế kỉ XX, những ấn phẩm quá cỡ của W. Faulkner và E.

Hemingway làm cho độc giả khó phân biệt chúng là truyện ngắn hay tiểu thuyết. Và các thuật

ngữ fiction hay story, short story, sketch được dùng để gọi tên các tác phẩm của các nhà văn

này.

Có thể nói, truyện ngắn được xem là thể loại quen thuộc và phổ biến ở Mỹ. Nó là tinh

thần của người Mỹ nên đặc điểm của nó cũng khác với các truyện ngắn khác trên thế giới.

Parrington một nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Mỹ nhận xét: “Truyện ngắn thường được coi là

thể tài trong đó thể hiện rõ nhất tinh thần dân tộc Mỹ tức là ý hướng sùng bái hiệu quả, cố hết

sức loại bỏ những gì dư thừa và một số khao khát thường xuyên là đi tìm một thứ kĩ thuật sao

cho đáng gọi là hoàn thiện” [1, tr.55].

Cùng với ý kiến trên, Vương Trí Nhàn cũng nhận xét về đặc điểm và quá trình phát triển

của truyện ngắn Mỹ:

Nhiều hơn là những truyện ngắn tâm lí, truyện ngắn sử dụng những phương tiện có khả

năng tăng cường một thứ cốt truyện bên trong chứ không phải những biến đổi bên ngoài mà ai

cũng nhận ra được… Sở dĩ truyện ngắn có những thay đổi như trên, là do những vấn đề gốc,

những mối quan hệ cá nhân và hoàn cảnh, hành động và thời gian… đang được nhìn nhận

không giống như văn học truyền thống. [69, tr.192-194].

Qua cách dẫn giải, phân tích dài dòng ở trên, chúng tôi muốn nói rằng truyện ngắn là một

thể loại văn học đặc biệt và phức tạp. Chúng tôi không thể đưa ra một khái niệm truyện ngắn

đầy đủ mà chỉ nêu một số đặc điểm sau đây như một giới thuyết về truyện ngắn và cũng chỉ

nhằm phục vụ trong giới hạn của luận văn này:

Truyện ngắn là thể loại văn xuôi hư cấu, có quan hệ chặt chẽ với tiểu thuyết. Truyện

ngắn được viết ngắn gọn, cô đọng, súc tích, giàu ý nghĩa, có khả năng phản ánh đa dạng các

mặt của cuộc sống. Nội dung của truyện ngắn phong phú, hình thức của truyện ngắn linh hoạt,

biến hóa muôn hình muôn vẻ.

Với cách hiểu truyện ngắn như vậy, chúng tôi hy vọng có thể tiếp cận với truyện ngắn

của Hemingway.

1. 2. Truyện ngắn E. Hemingway

Có nhiều ý kiến khác nhau về truyện ngắn của E. Heminway.

Nhà văn Anh Storm Jameson cho rằng truyện ngắn E. Hemingway “có quá ít cái để nói”

[81, tr.30]. Leon Edel chỉ xem E. Hemingway là “nhà văn hạng hai” [93, tr.20]. Trong khi đó,

Sean O’Faolain lại đánh giá cao về truyện ngắn của Hemingway: “ngôn ngữ điện tín được gửi

từ mặt trận với giá cao cho mỗi chữ” [106, tr.145]. Nhà văn Truman Capote (sinh 1924), hai

lần được giải O’ Henry, lại công nhận nghệ thuật viết truyện ngắn của E. Hemingway qua cách

so sánh với các nhà văn khác: “Henri James (1843-1916) là một bậc thầy về sử dụng dấu chấm

phẩy, còn người biết xuống dòng không thể chê trách là E. Hemingway” [69, tr.107].

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đánh giá và tiếp nhận truyện ngắn của E.

Hemingway với nhiều chiều hướng. Nhiều công trình của Lê Đình Cúc, Lê Huy Bắc, Đào Ngọc

Chương, Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân, Huy Liên, Trần Thị Thuận… đã nghiên cứu truyện ngắn

của Hemingway trên các bình diện khác nhau. Nhiều ý kiến nhận định rằng sáng tác nói chung

và truyện ngắn của E. Hemingway dựa trên nguyên lí tảng băng trôi. Lê Huy Bắc cho rằng: “tự

thân chúng (truyện ngắn) là những thế giới nghệ thuật riêng biệt, sinh động trong hướng quy tụ

theo nguyên lý tảng băng trôi” [52, tr.5]. Đào Ngọc Chương cũng đã chỉ ra những biểu hiện của

nguyên lí ấy:

Đó là hiện tượng khoảng trắng trong đối thoại và độc thoại; hiện tượng lắp ghép, lặp lại,

phiến đoạn trong kết cấu ở nhiều cấp độ; hiện tượng phi cốt truyện hay cốt truyện bên trong

của cốt truyện; hiện tượng liên văn bản trong cách đọc văn bản tác phẩm; hiện tượng đa

giọng một cách đặc biệt trong ngôn ngữ; hiện tượng chất thơ trong lời văn… [26, tr.5]

Nhìn chung các công trình đã có nhiều phát hiện về giá trị nội dung, nghệ thuật truyện

ngắn của E. Hemingway. Tuy nhiên, ý kiến của Lê Huy Bắc và Trần Thị Thuận làm chúng tôi

còn nhiều băn khoăn. Lê Huy Bắc đánh giá truyện ngắn E. Hemingway với các đặc điểm như:

Số lượng nhân vật ít, đối thoại nhiều, sử dụng nhiều hình ảnh tượng trưng, thời gian vật lí, độc

thoại nội tâm, sự phát triển từ truyện ngắn đến tiểu thuyết… [54, tr.105-110].

Trần Thị Thuận cũng nhận định: “Hiện thực truyện ngắn Hemingway được xây dựng trên

cơ sở truyện ngắn và các chương xen”, “giữa các chương và truyện ngắn có sự tác động qua

lại” [81, tr.30]. Đặc biệt, Trần Thị Thuận chọn nhân vật Nick Adam làm cơ sở chủ đạo để khái

quát lên đặc điểm thể loại truyện ngắn của E. Hemingway.

Các nhận định trên đã khái quát được những đặc điểm cơ bản truyện ngắn Hemingway:

ngắn gọn, cô đọng, hình thức đặc biệt, ngôn ngữ điện tín… Song theo chúng tôi vẫn có điều

chưa ổn. Chẳng hạn ý kiến của Lê Huy Bắc tuy phát hiện truyện ngắn E. Hemingway mạnh về

đối thoại nhưng nhìn chung vẫn còn sơ sài và chưa phản ánh đặc điểm cơ bản của truyện ngắn

E. Hemingway. Vì truyện ngắn nào cũng ít nhân vật chứ không riêng gì truyện ngắn E.

Hemingway. Còn hình ảnh tượng trưng và độc thoại nội tâm chưa phải là đặc trưng chủ yếu của

truyện ngắn mà ở tiểu thuyết của ông. Ý kiến của Trần Thị Thuận cũng chưa thuyết phục. Vì

các chương xen chỉ có trong in our time và số lượng rất ít so với toàn bộ truyện ngắn (18

chương/102 truyện) nên không thể căn cứ vào các chương xen để xây dựng truyện ngắn E.

Hemingway. Mặc dù Trần Thị Thuận đã cố gắng chứng minh, phân tích, lí giải nhân vật Nick

Adam nhằm khái quát lên truyện ngắn E. Hemingway nhưng cách làm đó không ổn vì trước sau

gì nhân vật này chỉ là nhân vật liên truyện. Nhân vật Nick Adam chỉ là một trong nhiều yếu tố

để xác định truyện ngắn E. Hemingway chứ không thể là căn cứ chủ yếu để xác định thể loại

truyện ngắn của E. Hemingway.

Như vậy, việc khảo sát truyện ngắn E. Hemingway nói chung và truyện ngắn chiến tranh

của ông nói riêng còn nhiều điều phức tạp. Chúng ta cần phải khảo sát toàn diện, sâu sắc hơn

nữa. Qua nghiên cứu nhiều ý kiến đánh giá về truyện ngắn của E. Hemingway, chúng tôi xem ý

kiến của giáo sư Arlen J. Hansen là tương đối phù hợp:

Những truyện ngắn của Hemingway thường có thể đạt sức hấp dẫn nhờ khai thác những

biểu tượng tâm linh cổ truyền (nước, cá, những vết thương ở bụng), nhưng chúng liên quan mật

thiết với đoản tác (sketch) hơn truyện kể (tale). Như thế, Hemingway đôi lúc đã có có thể trình

bày những câu chuyện dựa vào sự thật của ông như những bài báo. Ngược lại, truyện ngắn của

những nhà văn cùng thời với ông như William Faulkner giống truyện kể (tale) hơn [42].

Đây là điểm mấu chốt để xác định đặc điểm truyện ngắn của E. Hemingway mà trước

đây mọi người nhìn nhận với nhiều chiều khác nhau. Theo chúng tôi, E. Hemingway chịu ảnh

hưởng rất nhiều văn học truyền thống của Mỹ, đặc biệt là hình thức đoản tác (sketch) của thế kỉ

XIX như đã nói ở Mục 1.1. Nói cách khác, hình thức đoản tác rất phù hợp với phong cách thể

hiện của E. Hemingway và rất phù hợp trong xu hướng văn học hiện đại. Hình thức này được

E. Hemingway sáng tạo một cách độc đáo tạo thành một kiểu truyện ngắn mới, mang đậm

phong cách E. Hemingway. Và điều ấy được chứng minh qua cách viết truyện ngắn của

Hemingway: “Nhà văn biết thật rõ truyện ngắn sẽ viết. Nhưng có trường hợp đã bắt tay vào

công việc rồi, tự anh vẫn không biết là mọi chuyện kết cục sẽ ra sao. Trong quá trình phát triển

hành động, mọi việc bỗng thay đổi. Chính điều đó, tạo nên vận động và đến lượt mình, vận

động làm nên truyện ngắn “ [69, tr.94].

Như vậy, cách viết của E. Hemingway mang nặng hình thức đoản tác hơn là truyện ngắn

thông thường. Khái niệm đoản tác (sketch) được hiểu là một thể loại văn học chứ không đơn

thuần là một kiểu truyện ngắn (truyện ngắn phác thảo) như các tài liệu trước đây đã viết. Theo

chúng tôi, khái niệm đoản tác (sketch) vừa chỉ một thể loại văn học (đoản tác) vừa chỉ một kiểu

truyện ngắn của E. Hemingway (truyện ngắn phác thảo). Vì những truyện ngắn của E.

Hemingway hầu như dựa vào các sự kiện lịch sử, xã hội, chiến tranh… Các truyện ngắn ấy

mang tính báo chí, phân tích nhiều hơn là miêu tả, ít tính tự sự… giống như thể loại đoản tác đã

trình bày. Do đó từ trước đến nay lấy khái niệm truyện ngắn truyền thống để đánh giá truyện

ngắn E. Hemingway là chưa thỏa đáng.

Bên cạnh đó, phải kể đến loại truyện cực ngắn mà chúng ta thấy xuất hiện trong in our

time. Đây là loại truyện mà E. Hemingway viết rất thành công và ông được coi như người tiên

phong của loại truyện này. Cụ thể là khi viết về truyện cực ngắn, người ta lấy truyện cực ngắn

của E. Hemingway làm dẫn chứng (Giới thiệu truyện thình lình của Đinh Từ Bích Thúy,

www. damau.org, 22/01/2007).

Truyện cực ngắn là một kiểu truyện đặc biệt ngắn gọn, linh hoạt, độc đáo, giàu tính kịch

rất thịnh hành trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Đặng Anh Đào viết: “Một chất liệu cần thiết

cho những truyện cực ngắn, là kịch tính. Bởi lẽ, tính chất giảm thiểu đến mức trơ trụi của một

truyện ngắn đòi hỏi độ căng của kịch” [1, tr.93]. Chúng tôi cho rằng cách viết cực kì cô đọng,

giàu kịch tính, giảm thiểu đến mức trơ trụi của truyện cực ngắn đã ảnh hưởng rất nhiều trong

cách viết truyện ngắn E. Hemingway.

Vậy đặc điểm cơ bản của truyện ngắn E. Hemingway là gì?

Điều cảm nhận chung nhất về truyện ngắn Hemingway là loại văn chương thô ráp, ít trau

chuốt, các truyện hầu như không có cốt truyện, tính xung đột không nằm ở bề mặt và ít bộc lộ

cảm xúc trực tiếp. Hầu hết truyện ngắn của E. Hemingway chỉ là sự tái hiện những thoáng chốc

của cuộc sống xung quanh, những chuyện thường ngày như câu cá, uống rượu, đấm bốc, chiến

tranh…

Cơ sở nghệ thuật của truyện ngắn E. Hemingway chính là xuất phát từ những cái bình

thường. Đó là cuộc đời thường không tô điểm, màu mè. Cốt truyện trong truyện ngắn của ông

cũng khác. Nó không phải là cốt truyện theo những biến cố, sự kiện thông thường của truyện

ngắn truyền thống mà nó mang tính bao hàm nhiều yếu tố khác nữa. Nó là cốt truyện cuộc đời.

Cái đặc sắc của truyện ngắn E. Hemingway là cách khơi nguồn cảm xúc cho người đọc,

tạo cho người đọc tham gia sáng tạo trong thưởng thức tác phẩm. Vì vậy truyện ngắn của E.

Hemingway đã tạo ra một sự cách tân lớn lao cho truyện ngắn hiện đại thế giới.

Từ đặc điểm trên, chúng tôi khảo sát truyện ngắn của E. Hemingway được in từ năm

1924 cho đến năm 2004 và có các ấn phẩm tiêu biểu sau:

-In Our Time (Ernest Hemingway-1925): 13 truyện và 18 chương

(chapter).

-The Fifth Collumn and The First Forty-Nine Stories (Ernest Hemingway-1938): 49

truyện ngắn.

-The Complete Short Stories of Ernest Hemingway: The Finca Vigia

Edition (Ernest Hemingway- Charles Scribner’s Sons, New York, 1987): 70 truyện.

-The Ernest Hemingway: The Collected Stories (Ernest Hemingway-Fames Fenton-

Everyman’s Library-Random House, May 25, 1995): 81 truyện và 18 chương.

-Truyện cực ngắn của Ernest Hemingway (Đào Ngọc Chương và Nguyễn Thị Huyền

Linh dịch-Nhà xuất bản Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh): 18 chương và 21 truyện. Trong đó có 04

truyện mà các tài liệu trên không có, đó là Billy Gilbert, Bob White, Ed Paige, Lão Hurd và bà

Hurd.

-Truyện ngắn (Ernest Hemingway, Lê Huy Bắc chủ biên và giới thiệu - Nhà xuất bản

Văn học-2004): 58 truyện.

Sau khi tổng hợp các ấn phẩm, chúng tôi có 84 truyện và 18 chương. Trong đó có 2

chương được in lại thành 2 truyện: Chương 10 được in thành Một truyện rất ngắn (A Very

Short Story) và Chương 11 được in thành Nhà cách mạng (The Revolutionist). Và chúng tôi

coi 18 chương như là 18 truyện độc lập như các truyện ngắn khác (Ý kiến của Đào Ngọc

Chương [23] và Trần Thị Thuận [81] cũng xem các chương ấy là một truyện độc lập). Như vậy

chúng tôi thống kê và khảo sát tất cả 102 truyện ngắn và chương của E. Hemingway (Phụ lục

1).

Qua khảo sát truyện ngắn của E. Hemingway, chúng tôi nhận thấy rằng việc phân định

truyện ngắn của ông gặp nhiều phức tạp. Đó là những truyện ngắn của E. Hemingway có độ dài

khác nhau. Có truyện được coi như truyện vừa, có truyện lại rất ngắn, chưa tới 100 từ. Vì vậy

trong các ấn phẩm, người biên tập thường chú thích thêm: Short Short hay Short Story [96]

hoặc fiction, non-fiction. Bên cạnh đó, truyện ngắn E. Hemingway cũng gồm các kiểu truyện

khác nhau như: kiểu chương (chapter), kiểu truyện ngắn phác thảo (sketch)... Sự phức tạp này

gây khó khăn trong việc xác định thể loại của đối tượng nghiên cứu.

Vì thế, để có một cách nhìn đầy đủ về mảng truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway,

trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu tất cả các kiểu truyện ngắn của E. Hemingway, chỉ

loại trừ tiểu thuyết và bài viết trên các ấn phẩm báo chí, tạp chí hoặc các bài ghi chép, phỏng

vấn của E. Hemingway.

1. 3. Truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway - những dấu hiệu nhận biết

Theo chúng tôi, một truyện ngắn được gọi là truyện ngắn chiến tranh thì truyện ngắn đó

phải có ít nhất một trong các yếu tố như: đề tài, nội dung, tình tiết, nhân vật, không gian, thời

gian… có liên quan đến chiến tranh hoặc gián tiếp có quan hệ với chiến tranh. Thông thường đó

là những truyện ngắn viết về những cuộc chiến đấu, những trận chiến quyết liệt với những tiếng

nổ rung trời, những pha bắn phá, giết chóc rùng rợn, hình ảnh những người lính xung trận giữa

đạn bom khói lửa… Hoặc đó là những truyện ngắn viết về những người lính trở sau cuộc chiến

với những vết thương trên cơ thể và chấn thương tinh thần… Tuy nhiên trong thực tế có những

truyện không có bóng dáng của tiếng súng, khói lửa, hình ảnh người lính chiến đấu cũng như

hình ảnh người lính trở về song hơi hướng của chiến tranh vẫn âm ỉ, tiềm tàng trong tác phẩm

ấy. Chính những ám ảnh của chiến tranh mới là sự khủng khiếp nhất mà chiến tranh để lại. Vì

thế những truyện ngắn ấy cũng được xem là truyện ngắn chiến tranh. Và để nhận diện truyện

ngắn chiến tranh của Hemingway, chúng tôi dựa trên các dấu hiệu ấy.

Có thể nói, truyện ngắn của E. Hemingway đa dạng và phong phú về đề tài như: đấu bò,

đi săn, đấm bốc… nhưng ấn tượng nhất và thành công nhất vẫn là đề tài chiến tranh, một đề tài

mà ông đã thành công ở tiểu thuyết.

Từ những truyện ngắn đầu tiên trong in our time, E. Hemingway đã quan tâm đến chiến

tranh. Ông có những kinh nghiệm thực tế trong cuộc chiến và hầu hết những tác phẩm của

Hemingway được viết từ các tuyến lửa nên không khí của câu chuyện bao giờ cũng đượm mùi

thuốc súng.

Nhưng do điều kiện đã nói (phạm vi luận văn, khả bản thân, thời gian) nên ở đề tài này

chúng tôi chỉ khảo sát ở hai bình diện không gian và nhân vật của truyện ngắn chiến tranh E.

Hemingway. Chúng tôi nghĩ rằng đây là hai bình diện cơ bản, có khả năng quyết định kiểu

dạng, mô hình nghệ thuật của truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway. Đó là không gian của

những cuộc tấn công bất thành, những cảnh lửa đạn, thương tật, chết chóc và sự bất nhẫn. Đó là

những con người tồn tại trong chiến tranh: những người tham chiến, người lính bỏ ngũ, người

lính trở về sau chiến tranh hay hình ảnh người dân trong vùng có chiến sự bị giết, bị đạn pháo

sát hại… Tất cả những điều ấy bước đầu hình thành một diện mạo cho truyện ngắn chiến tranh

của E. Hemingway. Và từ đó mở ra thế giới truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway, một

thế giới không rộng dài ở bề mặt nhưng có khả năng mở ra thêm nhiều lần hơn về phía bên

trong.

Với cách làm như vậy chúng tôi tìm thấy truyện ngắn của E. Hemingway có 41 truyện

mang những dấu hiệu nêu trên và chúng tôi gọi đó là truyện ngắn chiến tranh của E.

Hemingway (Phụ lục 2).

CHƯƠNG 2: Không gian trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway

2. 1. Khái niệm không gian

Không gian trong tác phẩm văn học hay còn gọi là không gian nghệ thuật, là một khái

niệm thi pháp học chỉ “hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, là sự mô hình hóa thế giới của

tác gia” [75, tr.120].

Khái niệm này còn được Trần Đình Sử còn giải thích thêm trong Thi pháp Truyện Kiều:

Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của sự sống con người, gắn liền với ý niệm và

sự cảm nhận về giới hạn giá trị của con người. Không gian nghệ thuật có thể xem là một

“không quyển” tinh thần bao bọc cảm thức của con người, là một hiện tượng tâm linh, nội cảm

chứ không phải là hiện tượng địa lí và vật lí. Không gian địa lí và vật lí xung quanh chỉ là yếu

tố mang không gian sự sống của con người. [74, tr.143]

Tuy khái niệm trên còn nhiều điều bàn bạc nhưng nó đã chỉ ra được đặc trưng chủ yếu

của không gian trong tác phẩm văn học và tương đối phù hợp cách tiếp cận tác phẩm về phương

diện thi pháp. Trong điều kiện tài liệu có được, chúng tôi căn cứ trên khái niệm này để nghiên

cứu không gian trong truyện ngắn E. Hemingway.

Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cho rằng: không gian nghệ thuật là “phẩm

chất định tính quan trọng của hình tượng nghệ thuật, bảo đảm cho việc tiếp nhận toàn vẹn thực

tại nghệ thuật và tổ chức kết cấu tác phẩm” và “việc tổ chức không gian của tác phẩm văn học

thế kỉ XX có xu hướng dùng kí ức nhân vật như không gian nội tâm để triển khai cốt

truyện” [3, tr.317, 323].

Nguyễn Thái Hòa, trong Những vấn đề thi pháp của truyện, chia không gian trong tác

phẩm văn học thành các dạng: “không gian bối cảnh, không gian sự kiện, không gian tâm lí và

không gian kể chuyện” [44, tr.88].

Trong Dẫn luận nghiên cứu văn học, V. E. Khalizev cho rằng: “Các biểu tượng về

không gian trong tác phẩm văn học thường có ý nghĩa khái quát” [ 71, tr.82}. Tức là nó phải

chứa đựng một tư tưởng nghệ thuật, biểu đạt một nội dung xã hội, lịch sử, tư tưởng, tình cảm

nhất định. Không gian nghệ thuật bao giờ cũng gắn liền với cảm xúc và mang ý nghĩa nhân sinh

của nhà văn.

Hầu hết các quan niệm về không gian nghệ thuật đều khẳng định vai trò của không gian

trong tác phẩm văn học. Đó là sản phẩm mang tính sáng tạo và chủ quan của nhà văn. Một

không gian nghệ thuật được gọi là một hình tượng không gian khi không gian ấy biểu hiện mô

hình thế giới con người.

Theo cách hiểu của chúng tôi, không gian trong tác phẩm văn học là không gian mà nghệ

sĩ cảm nhận, chiếm lĩnh và thể hiện một cách nghệ thuật trong tác phẩm. Trong tác phẩm, ta

thường bắt gặp sự hình ảnh bầu trời, mặt đất, con đường, cánh đồng, dòng sông, ngôi nhà…

Tuy nhiên, bản thân các sự vật ấy chưa phải là không gian nghệ thuật mà chỉ là không gian hiện

thực. Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện thực. Không gian hiện thực

chỉ là cơ sở làm nảy sinh sự nhận thức, cảm nhận về không gian của người nghệ sĩ. Không gian

nghệ thuật đóng vai trò quan trọng trong chỉnh thể nghệ thuật trong tác phẩm, cùng với các yếu

tố khác góp phần xây dựng nên một tác phẩm hoàn chỉnh. Nó hiện ra trong tác phẩm như là một

thành tố nghệ thuật, một hình tượng không gian. Nó mang tính chủ quan và dấu ấn sáng tạo của

nhà văn.

Không gian nghệ thuật có thể là không gian điểm, không gian tuyến, không gian mặt

phẳng. Không gian điểm (địa điểm) được xác định bằng các giới hạn và tính chức năng của nó,

tính đối lập của nó. Chẳng hạn như không gian quảng trường, chiến trường, đồng quê, con

đường, ngôi nhà… Còn không gian tuyến và không gian mặt phẳng có thể vươn ra chiều rộng

hay chiều thẳng đứng. Riêng không gian tuyến còn có chiều dài không liên quan đến chiều rộng

(Ví dụ như con đường có tính thời gian: đường đời).

Chúng ta thường gặp các dạng không gian nghệ thuật như: không gian cụ thể (không gian

địa lí, không gian vật lí, không gian thiên nhiên, không gian vũ trụ, không gian xã hội…),

không gian ảo, không gian huyền thoại, không gian nỗi niềm… Các dạng không gian này làm

cho việc xây dựng không gian nghệ thuật trong tác phẩm thêm phong phú, độc đáo. 2. 2. Không gian trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway

Khi nói đến không gian trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway là nói đến cách

cảm nhận về thế giới, về hiện thực của E. Hemingway, mà hiện thực ở đây là hiện thực chiến

tranh. Có nghĩa là không gian trong truyện ngắn chiến tranh Hemingway là sự cảm thụ thẩm

mỹ của ông về hiện thực chiến tranh mà ông đã chứng kiến, kinh qua, cảm nhận và biểu hiện

thái độ của mình về hiện thực ấy qua tác phẩm.

Cũng như nhiều nhà văn khác, không gian trong truyện ngắn chiến

tranh của Hemingway có thể có nhiều dạng. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung ở dạng

không gian cụ thể. Đó là những chiếc cầu, con đường, trận địa, giao thông hào, bức tường, ngôi

nhà… được mô tả trong không khí chiến tranh tàn khốc, trong hoàn cảnh chiến sự ác liệt… Và

bối cảnh của nó là chiến tranh thế giới I, nội chiến Tây Ban Nha 1936-1938, chiến tranh vùng

Tiểu Á… Tuy nhiên, chúng tôi chỉ xem xét những hình ảnh nào mang ý nghĩa như một hình

tượng nghệ thuật góp phần biểu hiện nội dung, tư tưởng của tác phẩm mà người ta có thể hình

dung được một hiện thực chiến tranh khốc liệt. Cụ thể hơn, chúng tôi chỉ khảo sát những hình

ảnh không gian đạt đến hình tượng nghệ thuật ở phạm vi đề tài chiến tranh nhằm phát hiện ra

đặc điểm truyện ngắn chiến tranh của Hemingway.

Với cách làm ấy, chúng tôi phát hiện không gian trong truyện ngắn chiến tranh của

Hemingway như một cuốn phim tài liệu về chiến tranh trong thời đại chúng ta. Nó vừa có ý

nghĩa phản ánh hiện thực vừa có ý nghĩa phê phán chiến tranh sâu sắc.

Ta có thể gặp các kiểu không gian sau đây trong truyện ngắn chiến tranh của

Hemingway:

2. 2. 1. Không gian tàn phá, hủy diệt, chết chóc

Con đường, góc phố, ngôi nhà, xà lim, thị trấn, giao thông hào, trận địa… bị bom đạn

tàn phá, huỷ diệt bởi chiến tranh là không gian địa lí và vật lý được E. Hemingway thể hiện

đậm đặc trong truyện ngắn chiến tranh của ông.

Ấn tượng nhất khi đọc truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway là

hình ảnh các ngôi nhà sụp đổ, bị phá hủy và đầy rẫy chết chóc: “Bức tường màu hồng của căn

nhà đối diện đổ sập đến tận nóc, và một khung giường sắt cong queo dìa ra ngoài đường. Hai

xác người Áo nằm lẫn lộn trong đống gạch vụn nơi bóng đổ của căn nhà. Phía trên đường có

những xác chết khác nữa. Trong thành phố mọi thứ đều hỗn độn” (Chương 7) [53, tr.14].

Không gian ngôi nhà, không gian sinh sống của con người, trở thành không gian chiến trường

ác liệt. Cảnh tượng thật tang thương. Hemingway không nói nhiều, tả nhiều. Song bấy nhiêu

hình ảnh đã lột tả hết sự tàn khốc của chiến tranh.

Ngôi nhà thường là không gian để sống, để sum vầy, là không gian của gia đình, không

gian của sự đoàn tụ, hạnh phúc… Song trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway, ngôi

nhà không phải là không gian để sống và càng không phải không gian của mái ấm, gia đình và

hạnh phúc, là không gian quần tụ của cộng đồng. Nó chỉ là nơi tránh đạn, là nơi trú ẩn, là chỗ

để phục kích, nơi để làm phim về chiến tranh với mục đích nào đó (Đêm trước trận đánh,

Cảnh vật muôn màu), là chỗ bị bao vây (Không có ai chết) và luôn bị đối phương phá hủy:

Dù sao đi nữa chúng đã pháo sập ngôi nhà một cách nhanh chóng trong vòng một phút.

Chúng tấn công tới, ngôi nhà bị phá hủy. Phải nín thở giữa những đợt tấn công ồ ạt và tiếng

đạn nổ ầm ầm. Đến lượt cuối cùng, chúng tôi đợi ít phút quan sát xem chúng ngừng pháo để

uống nước từ một vòi nước của chậu rửa bát trong nhà bếp (Cảnh vật muôn màu) [96, tr.673].

Trong không gian đó, người ta chỉ làm một điều duy nhất: tìm mọi cách để tồn tại.

Có thể nói, không gian ngôi nhà trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway là

không gian biệt lập, đóng kín, tù túng, ngột ngạt, cắt đứt với thế giới bên ngoài. Trong không

gian ấy, con người trở nên nhỏ bé, lẩn trốn, chui lủi như chuột: “Chúng tôi làm việc trong ngôi

nhà ấy và ngụy trang một cách cẩn thận như chuột để bảo đảm hoàn thành nhiệm vu.” (Cảnh

vật muôn màu) [96, tr.675]. Vì sao họ phải trốn tránh như vậy? Một lý do đơn giản là họ muốn

được sống, muốn được tồn tại vì trót ở trong cuộc chiến đầy bất trắc và nhiễu nhương này. Họ

hành xử theo bản năng, bản năng sinh tồn của con người trong chiến tranh.

Không gian ngôi nhà đã thế, không gian nhà tù, xà lim lại càng ngột ngạt hơn và càng

khủng khiếp khi nó trở thành nơi hành quyết: “Bọn chúng treo Sam Cardinella lúc sáu giờ sáng

trong hành lang một nhà tù tỉnh. Hành lang thì dài và hẹp, hai bên là hai dãy xà lim. Xà lim

nào cũng chật người. Tù nhân bị mang vào đó treo co” (Chương 17) [53, tr.34]. Trong không

gian khủng khiếp đó, các nạn nhân bị khủng hoảng tinh thần thật sự và họ đã chết khiếp vì sợ

hãi trước khi bị treo cổ: “Họ rất khiếp đảm. Một trong hai người đàn ông da trắng thì ngồi bệt

trên chiếc gường hẹp lấy tay ôm đầu. Người kia thì nằm bẹp dí trên giường với cái mền trùm

kín đầu.” (Chương 17), [53, tr.34]. Đó là nơi giết người dã man nhất. Hình ảnh này làm chúng

ta liên tưởng đến không gian ngột ngạt Phòng số 6 của Chekhov, một không gian mang đậm

tính tượng trưng.

Khu vườn cũng là không gian thường gặp trong truyện ngắn chiến tranh của E.

Hemingway. Nhưng đó không phải là không gian của khu vườn yên tĩnh, mát mẻ và bình an.

Không gian khu vườn ở đây là không gian để phục kích, để giết người một cách dửng dưng đến

ghê người: “Chúng tôi đang ở trong khu vườn tại Mons. Chúng tôi chờ khi hắn đặt được một

chân lên rồi mới bắn… Chúng tôi bắn bọn chúng. Tất thảy bọn chúng đều rơi theo cùng một

kiểu” (Chương 4) [53, tr.11]. Cảnh tượng giết người ấy như cuộc đi săn thú: bình tĩnh, đơn giản

và vô tình. Số phận của con người trong chiến tranh được quyết định trong cái chớp mắt. Con

người đã bị chiến tranh làm mất nhân tính. Họ trở thành chai sạn, vô cảm trong việc tự tay giết

hại đồng loại.

Ở một khu vườn khác, khu vườn trong Chương 18 không phải là không gian thư giãn, du

ngoạn cảnh đẹp của nhà vua Hy Lạp mà là chỗ để giam hãm, tù đày ông: “Nhà vua đang làm

vườn. Ông hình như rất vui khi gặp tôi. Chúng tôi đi dạo trong vườn… Hội đồng cách mạng,

ông cho tôi biết, không cho phép ông ra khỏi khu đất quanh cung điện” [53, tr.36]. Rõ ràng,

chiến tranh đã không từ một ai, không từ một không gian nào dù là không gian đó thiêng liêng

nhất. Tất cả không gian trên thế gian bị bao trùm một màu đen, màu của chiến tranh.

Con đường cũng là không gian phổ biến trong tiểu thuyết và truyện ngắn E. Hemingway.

Con đường trong truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway không phải là không gian của giao

thông đi lại giữa các vùng miền, là nơi để gặp gỡ trao đổi của mọi người, thể hiện cuộc sống

sinh hoạt, văn hóa của cộng đồng. Đây cũng không phải là không gian của những điểm dừng để

gặp gỡ và chia tay. Nó cũng không phải là không gian điểm hẹn để trò chuyện, trao đổi, kết

ước, hò hẹn của con người. Mà con đường ở đây là không gian của sự đổ nát, hoang tàn.

Trong truyện ngắn của E. Hemingway, chúng ta bắt gặp rất nhiều con đường ngổn ngang

gạch vữa sau những trận pháo kích, những đợt bắn phá vô tội vạ và những trận chiến ác liệt:

“Chúng tôi tới gần đường phố, được che chở bởi các bức tường, bốn bức sát nhau, mang

camera và bước qua những mảnh sắt, gạch mới vỡ và những tảng đá.” (Cảnh vật muôn màu)

[96, tr.676]. Con đường bị cắt đứt, bị phá nát, loang lỗ như lò sát sinh (Điểm đen chỗ giao lộ)

[Phụ lục 3]. Kể cả đường phố giữa thủ đô Madrid cổ kính vẫn bị tàn phá không thương

tiếc:“Madrid bị phong toả trong làn đạn pháo… gạch ngói ngổn ngang.”(Con bướm và cỗ xe

tăng) [52, tr.478]. Tất cả hình ảnh ấy thể hiện sự sống con người dần bị tiêu diệt..

Con đường trong truyện ngắn E. Hemingway không được định hướng, không có lối đi,

không hy vọng về phía trước. Con đường đơn độc của chàng trai đi làm cách mạng trong

Chương 11 [53, tr.23] lòng vòng từ Bologna, đến Milan, Aosta rồi vào Thụy Sĩ và cuối cùng

vào tù gần Sion ở Thụy Sĩ. Con đường dọc theo nước Ý trong chiến tranh (Con đường bạn sẽ

chẳng hề theo ) [52, tr.307] mà Nick đi qua tẻ nhạt, phi lý. Thông thường, không gian con

đường quy định không gian tinh thần, tư thế tiến công, chủ động của tác giả. Có lẽ, con đường

trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway là không gian biểu hiện của sự mất phương

hướng của tác giả và thế hệ của ông về cuộc chiến vô nghĩa lí mà họ tham gia.

Ngôi nhà, nhà tù, xà lim, khu vườn, con đường trong truyện ngắn chiến tranh E.

Hemingway là không gian địa lí và vật lý. Đó là không gian đơn điệu và đơn độc vì nó không

liên quan đến thế giới, với các không gian khác mà chỉ dẫn đến chỗ tối tăm, chết chóc. Con

đường trong Dưới mỏm đất [52, tr.489] chỉ dẫn tới cửa hang hoặc hẻm núi, nơi người ta trốn

chạy, lẩn khuất… Thậm chí con đường tháo chạy thóat thân cũng là con đường đầy cạm bẫy và

là con đường dẫn đến cái chết.

Trong truyện ngắn Điểm đen chỗ giao lộ, E. Hemingway miêu tả những người Đức đi

xe đạp, xe tăng, xe tải trên đường rút lui, chạy trốn và họ trở thành mục tiêu của những tay súng

phục kích và rơi vào ổ mìn giăng sẵn. Đó là không gian của cạm bẫy, của cái chết đang chờ…

Điểm đen chỗ giao lộ là một câu chuyện dữ dội đầy máu tươi lẫn máu khô. Hình ảnh vũng

máu trong truyện mang đậm ý nghĩa tượng trưng: “những con ruồi, ruồi thường, ruồi xanh lớn

bắt đầu bay đến chỗ xác chết nằm dưới con mương. Có những con bướm bay quanh những

vũng máu trên mặt đường đen loang lỗ. Có những con bướm màu vàng và những con bướm

màu trắng bay quanh những vệt máu bên cạnh các xác chết đã tơi tả.” [Phụ lục 3]. Có lẽ hình

ảnh con bướm đậu bên đống máu là phê phán một cách thẳng thắn chiến tranh. “Đo là cuộc

chiến dơ bẩn” như nhận xét của Claude, một nhân vật trong truyện.

Con đường trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway trở thành không gian không

đi đến đến đích, đến chân lí mà là không gian vô định, không gian bế tắc, không gian đầy cạm

bẫy, không gian không lối thóat và không gian hủy diệt cuộc sống con người.

Bên cạnh không gian con đường, trận địa cũng là không gian được nhắc đến không ít

trong truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway. Những trận địa với giao thông hào, những ụ súng

chống tăng, những điểm bố trí hỏa lực, những hào chống tăng (Cảnh vật muôn màu, Đêm

trước trận đánh), những mỏm đất (Dưới mỏm đất)… đều là những không gian đậm đặc không

khí chiến tranh và chết chóc, không gian nồng nặc mùi tử khí. Tiêu biểu là hình ảnh giao thông

hào, thể hiện sự tàn khốc của chiến tranh bằng bom đạn: “Trong khi trận pháo kích ở Fossalta

đang dập nát chiến hào ra từng mảnh vụn, thì anh ấy nằm dán xuống đất, mồ hôi đầm đìa và

cầu nguyện” (Chương 8) [53, tr.16]. Đó là không gian của những trận chiến khủng khiếp.

Chúng ta có thể cảm nhận được sức công phá dữ dội của bom đạn và hơi thở của nhân vật cầu

nguyện không ngớt để được sống sót. Không khí chiến tranh lan tỏa mạnh mẽ đến người đọc

như trực tiếp lâm trận. Sự chết sống của con người ở đây thật mỏng manh: “Tôi ngồi tựa vào

vách thông hào nông choèn, đầu và vai tì lên bờ đất, đã được dọn sạch kể cả những viên đạn

lạc.” (Dưới mỏm đất) [52, tr.489]. Trong không gian ấy, con người cố gắng bằng mọi cách để

tồn tại: “Chúng tôi ở đó… chờ đợi dưới tiếng rít khét lẹt, tiếng nổ rung trời của đạn pháo; đất

lẫn với kim loại tung lên như những cục máu đông phun ra từ một đài phun bẩn thỉu và phía

trên đầu là lưới đạn vun vút bay tựa một tấm rèm lửa” (Dưới mỏm đất ) [52, tr.497].

Không gian trận địa mang đậm đặc không gian của chiến tranh, chiến tranh thật sự, chiến

tranh hiện đại với những vũ khí tối tân nhất, chiến tranh với những chiến lược, chiến thuật cao

siêu nhất, nhằm giết người nhiều nhất, nhanh nhất và đỡ tốn kém nhất.

Đặc biệt, đi với không gian chết chóc ấy thường xuất hiện với hình ảnh bóng tối và mưa.

Bóng tối, mưa lầy lội luôn ám ảnh các nhân vật trong truyện ngắn, tiểu thuyết E. Hemingway

nói chung và truyện ngắn chiến tranh của ông nói riêng. Đó là bóng tối của những đêm hành

quân không có phương hướng và sợ hãi (Chương 1) [53, tr.7]. Những con đường rút lui, di tản

lầy lội dưới mưa trong Chương 3 [53, tr.10] , Con đường bạn sẽ chẳng hề theo [52, tr.307]…

E. Hemingway sử những hình ảnh này như biểu tượng đi kèm với một số yếu tố khác như tình

tiết, cốt truyện, diễn biến… để thể hiện ý đồ nghệ thuật của tác giả. Và nghệ thuật này được E.

Hemingway phát triển lên mức độ cao hơn qua biểu tượng mưa trong tiểu thuyết Giã từ vũ khí

của ông.

Hình ảnh không khí oi bức của cuộc chiến cũng làm cho không gian tàn phá, chết chóc

trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway thêm ngột ngạt. Chỉ riêng trong In Our Time

đã có 4/12 truyện miêu tả không gian chiến trận trong một ngày nóng nực, oi bức… trong

không gian đạn bom như trút. Sự oi bức của thời tiết cùng với cảnh chiến trường khốc liệt càng

tăng thêm sự ngột ngạt trong không gian sống của con người. Bom đạn tận diệt và thời tiết khắc

nghiệt đã làm cho khả năng tồn tại của con người trong hoàn cảnh này rất mong manh. Đó là

không gian đầy tử khí và tận diệt.

Trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway, không gian bom đạn, đổ nát, hoang

tàn không phải là không gian hoành tráng mang tính sử thi hào hùng của một sự kiện lịch sử,

của một thời đại, một của một dân tộc mà là không gian của một cuộc chiến tranh không mục

đích, phi nhân tính; một cuộc chiến đầy tính hủy diệt nhân loại. Không gian ấy luôn đi với màu

sắc tối tăm. Đó là hình ảnh các cột khói bụi của đạn pháo, của thuốc súng, của các đợt tấn công

đạn cày xới từng centimet vuông đất. Không gian chết chóc trùm lên con người: “Chúng tôi đã

ghi hình được những cột đất bị đạn tung lên hoặc một mảnh đạn tung bụi mù tạo nên những

ánh chớp màu vàng. Đặc biệt khi lựa đạn nổ tạo nên những cảnh độc đáo của trận đánh. Đó là

cảnh đích thực về trận đánh mà chúng tôi cần có” (Đêm trước trận đánh) [96, tr.481].

Không gian ấy không thể hiện văn hóa, xã hội, lịch sử, dân tộc. Bởi nó không có không

gian của sinh hoạt, tồn tại, sự sống, sinh hoạt mà chỉ là không gian của thù địch, bạo lực và hủy

diệt. Hình ảnh con đường, ngôi nhà, khu vườn… tưởng chừng bình yên kia đều có thể xảy ra

xung đột và có thể là nơi giết người bất cứ lúc nào. Cái chết hiện diện hoặc tiềm ẩn khắp nơi.

Trong không gian đó, con người căng thẳng, cảnh giác và có nhiều đổi thay. Cựu binh Pedro

trong Con bướm và cỗ xe tăng đã bị giết trong không khí như vậy: “Cuộc chiến đã bước sang

năm thứ hai, anh ta sống trong thành phố bị phong tỏa, nơi mọi người đã quá căng thẳng và kể

cả anh ta.” [52, tr.481]

Không gian tàn phá và chết chóc trong truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway là không

gian vừa tĩnh vừa động. Nhưng nó khác với cái tĩnh và động trong văn học phương Đông. Động

ở đây là tiếng bom nổ, đạn cày xới và pháo tàn phá, giết chết, nổ tung thi thể con người… Và

tĩnh ở đây là cái yên tĩnh của một góc trận địa, là sự im lặng ghê người giữa hai trận chiến. Tiêu

điểm truyện của hầu hết các truyện ngắn trực tiếp mô tả chiến trận của E. Hemingway không

phải cảnh máu đổ đầu rơi rùng rợn, những tiếng súng nổ rung trời, những tiếng thét hãi hùng…

mà là những phút giây yên lặng giữa hai trận đánh, sau trận pháo kích hoặc chờ đợi yên của

những cuộc phục kích, những cảnh giết người lạnh lùng. Đó là giây phút Nick và Rinaldi vừa

thóat khỏi loạt đạn súng máy (Chương 7) [53, tr.14], anh lính vừa nằm bẹp dí xuống đất cầu

nguyện sau loạt oanh tạc của địch (Chương 8) [53, tr.16]… Đó là những giây phút hoàn hồn

sau cái chết, giây phút vừa chứng kiến cái chết đồng loại ngay bên mình, sự hủy hoại của đạn

bom vừa chấm dứt… Tất cả như một ánh chớp. Ánh chớp của số phận. Ánh chớp giữa sự sống

và cái chết, giữa còn và mất… Do vậy sự phản ánh của những không gian ấy thật ấn tượng.

Nhiều người cho rằng không gian trong truyện ngắn E. Hemingway hết sức hạn hẹp.

Điều đó cũng có lẽ đúng trong truyện ngắn chiến tranh của ông. Không gian ở đây không rộng

lớn, quy mô mà hạn hẹp trong phạm vi một khu vườn, một chiếc cầu, một ngôi nhà, một xà lim,

một căn phòng, một góc trận địa… Nó không tên, không đầu, không cuối. Tuy nhiên nó không

phải là không gian phiếm chỉ trong văn học dân gian. Nó là không gian thực. Cụ thể, nó là

không gian của những cuộc chiến nảy lửa, tàn khốc. Nó không có không gian tâm tưởng, nội

cảm hay hồi ức. Nó trần trụi như cuộc chiến vơ tình v phi lý.

Không gian trong truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway cũng là những địa điểm vừa rất

cụ thể nhưng lại rất chung chung, mang tính chất trừu tượng. Nhiều truyện E. Hemingway

không nêu ra địa danh cụ thể mà chỉ là một ngôi nhà, một con đường, một giao thông hào, một

bờ tường nào đó. Hoặc nếu có thì cũng là không gian của một địa danh trên đất Ý, Tây Ban

Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kì như: Champange, Andrianople, Karagatch, Mons, Fossalta, Smyrna

hoặc một địa chỉ cụ thể: “góc đường Số 15 và Đại lộ” (Chương 9) [53, tr.17]… Nhưng đó cũng

không phải là không gian thực của truyện. Có lẽ, nó là địa danh chỉ chung cho những vùng đất

có chiến tranh. Phải chăng E. Hemingway muốn nói sự tàn khốc của chiến tranh, sự phi lí và

đẫm máu của chiến tranh đã không từ một quốc gia, một địa phương nào. Bất cứ một địa danh

nào trên thế giới này cũng có thể là nơi chiến tranh tàn phá, hủy diệt.

E. Hemingway đã mô tả những cảnh chết chóc, đổ nát, hoang tàn trong chiến tranh rất

sinh động. Đó là không gian bạo lực, tổn thương, chết chóc, đổ nát và huỷ diệt. Trong đó, E.

Hemingway đặc biệt nhấn mạnh đến cái chết. Cái chết được thể hiện rất ấn tượng. Nó như điểm

nhấn của không gian bị tàn phá mà E. Hemingway muốn nói đến. Truyện ngắn Lịch sử tự

nhiên của cái chết miêu tả cảnh xác súc vật cùng với xác người:

Phần lớn những con lừa chết mà tôi nhìn thấy đều nằm dọc theo đường núi hay nằm

dưới chân dốc nơi chúng bị đẩy xuống để tránh làm nghẽn đường… Tôi nhớ sau khi gom hết

các tử thi còn nguyên vẹn, chúng tôi bắt đầu nhặt nhạnh các mảnh vụn. Nhiều mảnh bám trên

hàng rào dây thép gai dày bao xung quanh xưởng, từ những mẩu thịt bất động ấy chúng tôi có

thể kéo lên cả chuỗi bầy nhầy… [52, tr.278-279]

Trong không gian huỷ diệt ấy, con người, đặc biệt là những thường dân vô tội, gồm bà

già, phụ nữ, trẻ con, trở thành mục tiêu của bom đạn. Họ là nạn nhân của cả hai chiến tuyến. Họ

hoảng loạn trong bom đạn. Trong khi đó đạn pháo cứ nã vào giữa họ không thương tiếc:

“Chúng sắp sửa tiến vào, chạy bám sát cầu tàu, vượt lên phía trước mà buông neo và rồi nã

pháo vào khu Thổ trong thị trấn.” (Trên bến tàu Smyrna) [53, tr.107]. Đây là những cảnh thực

mà E. Hemingway chứng kiến tận mắt khi ông có mặt ở Hy Lạp-Thổ Nhị Kỳ những năm 20

của thế kỉ trước. Ông nói: “Chỉ có người nào thấy những trận giao chiến ở Tiểu Á thì mới thực

sự biết chiến tranh” [29].

Chiến tranh đã biến không gian sống của con người thành không gian huỷ diệt. Khắp mặt

đất, đâu đâu con người cũng có thể là mục tiêu của mọi thứ vũ khí:

Bên dưới chúng tôi, một trận đánh đang diễn ra. Bạn có thể thấy nó lan ra bên dưới

bạn và trên các ngọn đồi. Bạn có thể ngửi, nếm được những mùi vị của bụi bặm và lửa khói của

những làn đạn súng trường, súng máy bắn ra từ mọi phía. Và ở đó có những tay súng cừ khôi

cùng với những tiếng ầm ầm từ những nòng pháo đỏ lừ của khẩu đội pháo. Tiếng uỵch, tiếng

thịch của những tiếng nổ kéo theo những cuộn khói màu vàng tung toé bụi mù nhưng quá xa

không thể quay rõ được. Chúng tôi cố gắng tiếp cận gần hơn mục tiêu nhưng chúng cứ tiếp tục

cố bắn tỉa vào máy quay và chúng tôi không thể làm gì được.” (Đêm trước trận đánh ) [96,

tr.481]

Khi nhận xét về sáng tác của E. Hemingway, Philip Young viết:

Thế giới của Hemingway là một thế giới có chiến tranh. Chiến tranh thật sự bằng khí

giới và chiến tranh tạo nên bởi tình trạng thù nghịch và những cảnh hung bao đầy rẫy. Con

người của cái thế giới này sống trong những hoàn cảnh do chiến tranh gây nên. Tình trạng sợ

sệt, hối hả, lo âu, ăn chơi ồ ạt. Vì hoàn cảnh chiến tranh họ chỉ hưởng thụ những thú vui của

giác quan, và đạo đức là một khi làm rồi người ta thấy khoan khoái

[31, tr.15].

Đây là nhận xét có tính chất tổng kết các sáng tác của E. Hemingway nhưng nó cũng

đúng với truyện ngắn chiến tranh của ông.

Có thể nói, không gian chiến tranh trong truyện ngắn của E. Hemingway là ý niệm về một

thế giới phũ phàng, không có chỗ dành cho cái đẹp và cho sự sống. Không gian ấy là không

gian của sự tàn phá, của cái chết và của sự huỷ diệt. Khi nhận định về không gian này, Trần Thị

Thuận viết trong luận án của mình: “Đó là không gian không dành cho sự sống, là không gian

không để duy trì sự tồn tại” [81, tr.170].

Sở dĩ E. Hemingway ấn tượng mạnh mẽ các cảnh tượng tàn phá của chiến tranh như vậy

vì bản thân ông cũng chịu tác động của chiến tranh một cách khủng khiếp:

…Từ năm 1937 đến 1938, Hemingway đến Tây Ban Nha bốn lần. Ba lần đầu đến với tư

cách là phóng viên cho từ North American Newpaper Allince (NANA)… Ông liên tục bị nguy

hiểm trong các trận phá huỷ của trọng pháo cũng như súng máy và súng trường tự động. Ông

thực sự ở trong tình thế tổn hại trong phần đời của ông…

[Dubious Battles: Ernest Hemingway’s Journeys to War-Kelley Dupuis, internet, 2008].

Thực vậy, bằng những trải nghiệm trong chiến tranh và những ấn tượng tâm lí của cá

nhân, E. Hemingway đã xây dựng những không gian đầy lửa trong truyện ngắn chiến tranh của

mình. Nhưng có lẽ gây xúc động nhất là không gian di tản, rút lui trong truyện ngắn chiến tranh

của ông.

2. 2. 2. Không gian di tản, rút lui

Không gian di tản rút lui là con đường, thánh đường, ben cảng, cây

cầu... mà ở đó con người tìm cách chạy trốn, lẩn tránh nơi xảy ra chiến sự, nơi bom đạn tàn phá,

nơi con người tìm mọi cách để hủy diệt lẫn nhau. Cảnh tượng ở đây thật bi đát. Những người

già nua, yếu ớt, những phụ nữ, trẻ em và nhất là các hài nhi còn ẵm trên tay tìm mọi cách để ra

khỏi vùng bom đạn. Họ là những thường dân vô tội. Họ bị chiến tranh làm tổn thương và

thường bị phương hại nhiều nhất. Họ bỏ lại ruộng vườn, nhà cửa, tài sản để ra đi. Họ chỉ mang

theo người thân, đồ đạc thiết yếu, một số gia súc và những con vật thân yêu của mình.

Đó là không gian của những thánh đường ở một vùng quê trên đất Hy Lạp trong chiến

tranh: “Những thánh đường Hồi giáo bị kẹt trong mưa bên ngoài Andrianople ngang qua

những vùng đất lầy lội. Xe cộ bị kẹt hàng ba mươi dặm…” (Chương 3) [53, tr.10]. Xảy ra chiến

tranh, thánh đường trở thành nhân chứng của chiến tranh chứng kiến những người dân vô tội

chịu bao gian nan, hiểm nguy do chiến tranh gây ra.

Đó là không gian chiếc cầu cạnh làng San Carlos vùng Ebro của Tây Ban Nha trong cảnh

di tản: “Một chiếc cầu nổi bắc qua sông và xe chở hàng, xe tải, và đàn ông, đàn bà và trẻ con

đang vượt qua…” (Ông lão bên chiếc cầu) [53, tr.112]. Chiếc cầu trở thành điểm do thám,

trinh sát tình hình địch ở đầu bên kia và nó cũng là ranh giới để dân chúng trốn chạy khỏi vùng

đất sắp xảy ra chiến sự. Chiếc cầu trở thành tâm điểm của cuộc di tản: “Những chiếc xe tải

chuyển bánh rồi rít ken két thoát chạy lên phía trước. Những người nông dân lê chân trong bụi

đất ngập đến mắt cá. Nhưng ông lão vẫn ngồi đấy, không nhúc nhích. Lão quá mệt mỏi, không

thể nào đi tiếp.” (Ông lão bên cầu) [53, tr.112]. Một hình ảnh thật ấn tượng: ông lão cứ ngồi

bên cầu trong cảnh hoảng loạn ấy để nghĩ về các con vật của ông. Chiếc cầu trở thành không

gian riêng, rất riêng của ông, để ông suy ngẫm về số phận những con vật mà ông chăn dắt hoặc

chiêm nghiệm về thân phận của con người trong cuộc chiến tranh tang thương. Hay là ông bất

chấp tất cả? Chiến tranh đã làm cho mọi người mỏi mệt và rệu rã. Họ để mặc cho số phận.

Ở một truyện khác, E. Hemingway miêu tả không gian chiếc cầu làm chướng ngại vật để

cản bước tiến quân địch: “Đó là một ngày nóng khủng khiếp. Chúng tôi đã dựng chắc một

chướng ngại vật tuyệt đối hoàn hảo ngang cây cầu.” (Chương 5) [53, tr.12]. Rồi sau đó cánh

quân mạn sườn tan rã, họ đã rút lui. Không gian chiếc cầu ở đây trở thành không gian của sự

chia cắt, phân ly, cô lập… Nó trở thành không gian của sự đoạn tuyệt, không gian không có sự

sống.

Không gian di tản được E. Hemingway thể hiện sắc nét qua không gian của bến cảng

hoảng loạn: “Chúng tôi trên bến cảng còn họ ở trên cầu tàu và nửa khuya họ bắt đầu gào

thét… Thiếu phụ với những hài nhi đã chết. Anh chẳng thể nào buộc họ buông xác đứa con ra.

Họ ôm khư khư xác con suốt sáu ngày. Chẳng chịu buông. Anh chẳng làm gì được. Cuối cùng

đành phải lùa họ đi.” (Trên bến tàu Smyrna) [53, tr.105-107]. Đây là những hình ảnh ấn tượng

nhất trong truyện ngắn chiến tranh của ông. Những hình ảnh này gây ấn tượng sâu sắc về con

người trong chiến tranh. Đó là con người có thật với những nỗi sợ hãi có thật, tình yêu có thật,

bi kịch có thật trong dòng xoáy chiến tranh.

Không gian con đường một lần nữa lại được E. Hemingway miêu

tả cảnh rút lui của những đội quân thất trận hoặc di chuyển về hậu cứ. Đó là hình ảnh của

những người rã rời, mệt mỏi, chán chường: “Suốt đêm chúng tôi lần dọc theo con đường trong

bóng tối và viên sĩ quan văn phòng tiểu đoàn cứ cưỡi ngựa đi bên cạnh chiếc xe hậu cần của tôi

mà lải nhải: “Anh phải tắt đi. Nguy hiểm. Nó sẽ phát hiện ra đó” (Chương1 ) [53, tr.7]. Không

gian con đường trong đêm tăm tối không định hướng và những người lính đi trên con đường ấy

thì say xỉn, lơ mơ, lo sợ vô cớ. Con đường không định hướng thì những người lính làm gì có

phương hướng, có lý tưởng, có hy vọng và tương lai? Có lẽ, qua không gian con đường này, E.

Hemingway muốn khẳng định thêm về mục đích, lý tưởng của cuộc chiến tranh mà thế hệ lạc

lõng trong thời đại chúng ta đã tham gia: không lý tưởng, không mục đích, vô nghĩa và phù

phiếm.

Không những thế, hậu quả khủng khiếp của chiến tranh còn được biểu hiện qua không

gian thực của con đường. Không gian con đường rút lui trong truyện ngắn Con đường bạn sẽ

chẳng hề theo ngổn ngang xác chết và đủ thứ trên đời: “Bên cạnh đường, ngổn ngang các vat

dụng: nhà bếp dã chiến,… rất nhiều túi dết tết bằng da, bom nổ chậm, mũ sắt, súng trường,

thỉnh thoảng một cái báng súng nhô lên, lưỡi lê cắm trong lớp đất bụi,… các xác chết với đủ tư

thế kì quặc và quanh họ, trên cỏ, có nhiều loại giấy má đặc biệt hơn.” [52, tr.307]. Một cảnh rút

lui thật thảm hại. Đoạn văn như một trường đoạn phim mô tả cận cảnh chiến trường của cuộc

rút lui thật sống động, tạo ấn tượng mạnh mẽ.

Trong truyện Điểm đen chỗ giao lộ, hình ảnh con đường lại là không gian tử thần:

“Chúng tôi bố trí các ổ mìn rất khéo phía trước giao lộ cốt để không làm hư hại con đường

trông như lò sát sinh” [96, tr.660]. Đó là nơi phục kích để tiêu diệt những người lính Đức thất

trận tìm đường thoát. Nhưng tất cả những người lính thất trận này đều không vượt qua được

những bãi mìn và những tay súng bắn tỉa của du kích. Lí do giết người của những du kích này

hết sức đơn giản: được chia ít tiền hoặc một chiếc xe đạp hay một chiến lợi phẩm nhỏ nhặt nào

đó. Thật buồn cười và chua chát. Chiến tranh đã làm cho người ta bình thản trong việc giết hại

đồng loại. Chiến tranh làm cho tâm hồn của họ bị biến dạng. Họ không còn cảm xúc, kể cả việc

giết người.

Không gian rút lui được E. Hemingway quan tâm trong nhiều tác phẩm, kể cả tiểu thuyết.

Đó là không gian rút lui của Henry và đồng đội về Udine trong Giã từ vũ khí, những cuộc rút

lui trong mưa ướt lướt thướt, đường lầy lội. Mọi người chán chường, mệt mỏi và rệu rã bởi

chiến tranh. Không gian di tản, rút lui xem như hiện thực đẫm máu nhất của Chiến tranh

thế giới thứ nhất.

Hình ảnh của những con đường, những cây cầu, bến cảng… khắc họa nên một bức tranh

lớn hơn, ảm đạm hơn. Đó là không gian của những cuộc di tản hỗn loạn của những thường dân

cố thoát ra khỏi vùng có bom đạn, chiến sự và những cuộc rút lui ê chề, chán chường của những

người lính thất trận khỏi mặt trận đầy chết chóc, hủy diệt. Có thể đây là những địa danh có thật

trên khắp châu Âu, vùng Tiểu Á mà E. Hemingway đã chứng kiến. Song qua cách miêu tả của

E. Hemingway, không gian di tản, rút lui trở thành nỗi ám ảnh cho tất cả những vùng đất nào có

chiến tranh. Chiến tranh là một tấn bi kịch lớn nhất mà con người tạo ra cho con người. Nó

dựng lên một không gian đầy máu và nước mắt. Ở đó, những người dân vô tội, những người

già, phụ nữ, trẻ em, kể cả những người cầm súng hai bên chiến tuyến, phải chịu bao cảnh nhọc

nhằn, khốn khó, nguy hiểm và tất cả đều trong tình trạng hoảng loạn, sợ hãi.

Bởi vậy, những cuộc chiến tranh đều vô nghĩa dù bất cứ lí do gì và con người trong cuộc

chiến đó đều là nạn nhân dù họ đứng ở phe phái nào.

2. 2. 3. Không gian trú ẩn

Đó là không gian mà con người tìm cách ẩn nấp, né tránh sự tiêu diệt của đối phương, sự

huỷ diệt của bom đạn. Đó có thể là một bức tường, một đoạn giao thông hào, ngôi nhà hay một

chướng ngại vật nào đó mà có thể che chắn cho con ngưới khỏi làn đạn súng trường, súng máy,

súng bắn tỉa hay các mảnh đạn pháo, mảnh bom… Không gian trú ẩn còn là nơi mà bom đạn ít

có khả năng tới như bệnh viện, chiếc giường, hậu tuyến, quán cafe, khách sạn; thậm một dòng

sông, khu rừng (Con sông lớn hai lòng I+II). Và con người tồn tại trong không gian ấy như

tìm sự che chở, ẩn nấp hoặc trốn chạy. Đôi khi đó cũng là cách để từ chối, phản kháng chiến

tranh.

Ở mặt trận, giao thông hào hoặc một bức tường đều có thể là không gian che chắn, trú ẩn

hữu hiệu nhất: “Nick ngồi tựa vào bờ tường nhà thờ nơi ngươi ta kéo anh đến để tránh khẩu

súng máy đang nhả đạn trên đường…” (Chương 7 ) [53, tr.14]. Bức tường trở thành vị cứu

tinh che chắn anh ta. Nhờ bức tường, giao thông hào mà người lính tồn tại. Bằng mọi cách, anh

ta trú ẩn vào đấy.

Bức tường và bóng tối cũng là một không gian lý tưởng cho các du kích quân lẩn trốn khi

bị truy đuổi. Anh du kích Enrique trong Chẳng có ai chết đã được bức tường và bóng tối của

ngôi nhà che chở: “Anh đứng dậy đi ra phía trước ngôi nhà, ẩn mình trong bóng tối và chỗ

khuất của bức tường…” [52, tr.505]. Bức tường chở che, bao bọc anh khỏi những ánh mắt và

họng súng đang rình rập bên ngoài ngôi nhà.

Đặc biệt, không gian trú ẩn có thể là chiếc giường trong bệnh viện hoặc chiếc giường

trong căn nhà hoang nào đó. Không gian chiếc giường trong tác phẩm E. Hemingway nói chung

và trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway nói riêng thường là không gian tĩnh lặng

hiếm hoi giữa hai trận chiến (Bây giờ tôi nằm nghỉ, Một cuộc thẩm vấn đơn giản) hoặc là

không gian êm đềm, hò hẹn, không gian hạnh phúc của tình yêu đôi lứa (Một truyện rất ngắn,

Chẳng có ai chết). Có thể nói, không gian chiếc giường như không gian hòa bình bên cạnh

không gian chiến tranh (con đường, chiến hào, ngôi nhà, bến cảng) trong tác phẩm của E.

Hemingway. Không gian của chiếc giường trở thành biểu tượng của những giây phút bình yên

quý giá của chiến tranh, của hạnh phúc lứa đôi trong thời chiến. Ở Chương 10, E. Hemingway

viết:

Ag ngồi trên giường. Nàng tươi mát trong đêm oi nồng… Sau khi anh đi nạng anh

thường cứ đo thân nhiệt cho nên Ag chẳng hề rời chiếc giường. Chỉ có một vài bệnh nhân và

bọn họ đều biết điều đó. Tất cả họ đều thích Ag. Lúc đi tới đi lui trên mấy hành lang anh

thường nghĩ tới Ag nơi giường nằm của anh [53, tr.19-20].

Không gian chiếc giường được nhắc lại trong Chẳng có ai chết: “Rồi trong bóng tối trên

giường, giữ tư thế thận trọng, mắt anh nhắm lại, môi họ chạm nhau, hạnh phúc hiện hữu -

không còn là nỗi đau, bỗng chốc cảm giác gia đình đẩy lùi cơn đau, sự sống lại quay về và

không còn đau đớn, xúc cảm thoải mái của tâm trạng được yêu…” [52, tr.514]. Trong cái chết

cận kề khi ngôi nhà đang bị bao vây nhưng Enrique và Mary vẫn hạnh phúc tràn trề trong

không gian chiếc giường êm đềm, ngọt ngào. Nó như một liều thuốc tuyệt diệu để họ được sống

bên nhau, được yêu nhau. Và lúc này, chiếc giường trở thành không gian che chở cho đôi trai

gái trú ẩn, để họ tạm quên đi sự khốc liệt của chiến tranh.

Không gian chiếc giường với những phút giây hạnh phúc ấy được E. Hemingway phát

triển trong tiểu thuyết. Những đoạn miêu tả cuộc tình cháy bỏng của Henry và Catherine trong

Giã từ vũ khí đều quanh chiếc giường ở bệnh viện ở Milan. Trong Chuông nguyện hồn ai, một

chiếc giường trải tạm bằng tấm bạt trong hang núi cũng làm anh lính Mỹ Jordan

và cô du kích Mary tràn trề hạnh phúc.

Không gian chiếc giường là một cách miêu tả đặc biệt của E. Hemingway. Trong những

tác phẩm về chiến tranh của Việt Nam hiện nay, các tác giả cũng thường miêu tả không gian

êm đềm, hạnh phúc của tình yêu đôi lứa bên cạnh không gian nảy lửa của chiến tranh. Chẳng

hạn không gian chiếc võng trong Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Thân phận tình yêu của Bảo

Ninh.

Có khi không gian trú ẩn lại ở trong khách sạn, quán rượu (Nơi xứ lạ, Con bướm và cỗ

xe tăng, Tố giác, Đêm trước trận đánh…). Đây là nơi cách xa những trận chiến ác liệt, cách xa

chỗ bom đạn hủy diệt. Trong không gian này, mọi người có thể thư giãn, nghỉ ngơi, chuyện

phiếm cho qua ngày và nhất là khỏi đụng độ với cái chết.

Quán Chicote trong Con bướm và cỗ xe tăng được xem như không

gian dừng chân, trú ẩn của mọi sắc lính và đủ hạng người: “Quán đông

nghịt. Bạn chẳng thể nào đến quầy rượu, tất cả các bản đều ngồi kín. Không gian tràn ngập

khói thuốc lá, tiếng hát, những người mặc đồng phục, mùi áo da bị ướt, người ta đang chuyền

những ly rượu qua đám đông đứng đến ba lớp quanh quầy” [52, tr.478]. Khách sạn, quán rượu

bây giờ như chỗ nghỉ chân, là nơi giải sầu, là chỗ chuyện phiếm, là chỗ sát phạt lẫn nhau với

những trò đỏ đen, là chỗ để xả cơn tức giận, bực bội vô cớ… Những người có mặt tại đây hầu

hết là những người lính từ mặt trận trở về, những người lính giải ngũ hoặc là những cảnh sát,

thường dân và có những kẻ lạ mặt rất đáng sợ. Đó là một không gian chật chội, ngột ngạt và

bức bối. Bức bối đến nỗi người ta có thể gây gỗ, thậm chí sát hại kẻ khác. Chiến tranh đã làm

cho người ta quá căng thẳng. Cựu binh Pedro đã bị giết tại quán Chicote vì lí do ấy.

Đêm trước trận đánh là câu chuyện kể về Henry, nhân vật có nhiều điểm giống với cuộc

đời thật của E. Hemingway khi ông tham gia chiến đấu Tây Ban Nha những năm 1936-1938.

Hơn 2/3 số trang của truyện là các cuộc chuyện trò phù phiếm, các cuộc nhậu trong khách sạn,

nhà hàng, chuyện tắm giặt, chuyện trai gái, đánh bài… Tất cả không liên quan gì đến trận đánh

ngày mai. Mọi người hầu như chẳng ai quan tâm đến chuyện chuẩn bị cho trận đánh. Trong khi

Henry làm phim với hy vọng kiếm tiền để mua xe cứu thương thì những người khác ở đó vì tiền

bạc. Tiền lương của những người lính nướng vào rượu chè, bài bạc. Một vài người như Baldy

Jackson đã lầm lạc trong rượu chè. Jackson nhảy dù sau khi máy bay của anh bị bắn rơi… Câu

chuyện cứ quanh quẩn trong không gian nhà hàng, phòng tắm, phòng đánh bài… Đó là không

gian của sự lẩn trốn thực tại, một thực tại chiến tranh đầy rẫy chết chóc, hủy diệt mà những

người lính ở đây đã quá ngán ngẫm nó. Còn lý tưởng của cuộc chiến tranh đó ư ? Rất tù mù

quanh những mối quan hệ, mâu thuẫn chính trị của kẻ cầm quyền. Hemingway đã mô tả sự phù

phiếm, phức tạp của chiến tranh để nhận thức toàn bộ sự rắc rối của nó. Và đó cũng có thể là

một cách ông phản đối chiến tranh?

Không gian trú ẩn còn là không gian ngay trong ngôi nhà, làng quê của người lính trở về

sau chiến tranh. Đó là không gian ngôi nhà của Krebs (trong Nhà của lính), của Bob White

(trong Bob White), làng quê gần hồ Susan của Bill GilBert (trong Bill GilBert), khu rừng và

dòng sông

của Nick (trong Con sông lớn hai lòng I+II).

Không gian ngôi nhà của Krebs trong Nhà của lính là không gian nhạt nhẽo, vô vị và tù

túng. Ngay cả con phố thân yêu với những người quen thân xung quanh anh cũng trở nên xa lạ,

lạc lõng. Trong thế giới ấy, hình như anh không thấy mình tồn tại và mọi người cũng không

quan tâm đến sự hiện diện của anh. Bởi anh là người của chiến tranh. Dẫu anh là người anh

hùng đi nữa thì cũng đã qua thời kì mà họ ngưỡng mộ. Anh chỉ là chiếc bóng ngay trong ngôi

nhà của mình. Và anh ẩn mình ngay tại ngôi nhà của mình như sự chạy trốn chiến tranh.

Tương tự hoàn cảnh của Krebs, Bill Gilbert trở về quê nhà sau những ngày vào sinh ra tử

ở chiến trường. Không gian ngôi nhà và làng quê thân yêu của Bill cũng không còn thân thiện

với anh: “Hắn đi bộ ngược con lộ dẫn đến hồ Susan và tìm thấy căn chòi của hắn trống trơn.

Cửa ra vào khóa và khu vườn của hắn là lớp đất cỏ mọc…” (Bill Gilbert ) [53, tr.66]. Và người

hàng xóm của hắn cho biết vợ hắn đã đi với con trai của Simon Green rồi và cô ta đã bán chỗ

đó cho G… ở Charlevoix. Ngôi nhà là nơi dừng chân cuối cùng của người ta khi không còn chỗ

nào khác để tồn tại. Song, chỗ để dừng chân, để trú ẩn cuối cùng và duy nhất của Bill cũng

không còn nữa. Anh lại tiếp tục trở lại con đường tẻ nhạt trong ánh mắt chế nhạo của những

người xung quanh: “Bill quay ngoắt đi, vượt qua đoàn quân, đi khệnh khạng những bước dài

của người dân vùng cao xuống con lộ trong buổi trời nhá nhem… Gương mặt hắn lạnh tanh

hơn bao giờ hết, nhưng mắt hắn tựa như một con đường dài hun hút dẫn vào đêm đen.” (Bill

Gilbert) [53, tr.67]

Trong Con sông lớn hai lòng I+II, dòng sông thân yêu thời thơ ấu lại là không gian ẩn

mình lý tưởng cho Nick để anh vượt qua những thương tích quá lớn trong chiến tranh. Không

gian thiên nhiên trong lành trong những chuyến đi câu là nơi Nick gửi gắm niềm ưu tư, tâm sự

mà anh không thể chia sẻ cùng ai. Chính không gian dòng sông, khu rừng yên tĩnh ấy làm anh

quên đi những ám ảnh về tội ác, bạo lực và cái chết mà anh đã chứng kiến, thậm chí là nạn nhân

trong chiến tranh. Sự thật là có trường hợp nhiều cựu binh Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam

không thể sống nổi ở thành phố hoặc nhà của mình nên vào rừng cắm trại ở một mình như nhân

vật Nick. Trong Lời giới thiệu về Nick trong Con sông lớn hai lòng, James Fenton viết: họ

“quay về, nhận thấy không thể sống nổi ở thành phố hay nhà của mình, bèn vào rừng cắm trại

hoặc làm những túp lều nhỏ sống biệt lập với mọi người.” [96]. Trong luận án của mình, Trần

Thị Thuận xem sông, suối, khu rừng, tuyết trắng là sự cứu rỗi của nhân vật Nick [81, tr.123].

Theo chúng tôi, không gian sông, suối, khu rừng chỉ là không gian trú ẩn của Nick. Đó là không

gian để nhân vật quên đi những biến cố khốc liệt của chiến tranh và để tạo sự cân bằng cho

cuộc sống.

Không gian trú ẩn trong truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway còn có thể là hậu tuyến

(Chương 1, Bây giờ tôi nằm nghỉ, Con đường bạn sẽ chẳng hề theo, Cuộc thẩm vấn đơn

giản … ). Nơi đó, họ tạm lánh những cơn mưa bom bão đạn dữ dội và tạm được an bình trong

phút chốc. Song không gian ấy cũng thật mong manh và phức tạp. Trong truyện ngắn Nơi xứ

lạ, mặc dù ở trong không gian hậu tuyến nhưng những người lính bị thương đưa về điều trị ở

đây đã chứng kiến các hậu họa của chiến tranh mang đến. Ở phòng chỉnh hình nơi Nick và các

cựu binh chống chọi với, thương tật và cách đối xử tàn tệ. Người ta đã rẻ rúng những người lính

không còn đủ khả năng cầm vũ khí. Sống trong không gian ấy người lính càng thấy rõ hơn bộ

mặt thật tồi tệ của chiến tranh. Và hơn ai hết những người lính là người đầu tiên chán ghét

chiến tranh và họ là người nguyền rủa chiến tranh nhiều nhất.

Có thể nói, không gian ẩn nấp ở khắp nơi, ở mọi hình thức: ngôi nhà, bờ tường, bệnh

viện, con sông, dòng suối… Dù hình thức nào đi nữa thì đó cũng là nơi để con người né tránh

đạn bom, né tránh thực tại, tìm mọi cách tồn tại. Không gian ấy vừa như một môi trường lý

tưởng cho bản năng sinh tồn của con người vừa là thái độ để khước từ chiến tranh của những

người trong cuộc.

Nhìn chung, khi nói đến không gian trong truyện ngắn Hemingway

là nói đến không gian của bạo lực và chiến tranh. Yếu tố không gian đã góp phần đắc lực

làm nổi rõ hiện thực chiến tranh. Đó là thứ không gian thù địch, chống lại con người, bắt cầu

cho sự hủy diệt. John Killinger nhận xét: “Bức tranh về một vùng đất hoang thật sự” [101,

tr.38]. Còn P.Young thì cho rằng: “Đó là một thế giới khô cằn với những mảnh vỡ nằm trước

mắt chúng ta như một vùng đất nào đó trong một giấc mơ dư… “ [111, tr.216].

Không gian chính trong truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway là hiện thực Chiến tranh

thế giới thứ nhất, cuộc nội chiến Tây Ban Nha, chiến tranh vùng Tiểu Á, Hy Lạp và bối cảnh

nước Mỹ sau chiến tranh. Bao trùm khắp không gian ấy là không khí khiếp sợ, hãi hùng. Đó là

hiện thực chiến tranh được phơi bày trần trụi. Trong hiện thực ấy, thân phận, số kiếp của con

người nhỏ bé, phù du.

Không gian xuyên suốt truyện ngắn nói chung E. Hemingway và truyện ngắn chiến tranh

của ông nói riêng là không gian không dành cho sự sống. Ở đó chất chứa những cạm bẫy, đe

dọa, giết chóc, bạo lực… Một không gian đầy bất trắc, khổ đau, hành hạ, đày đọa con người…

Không gian tàn phá và hủy hoại. Không gian của chiến tranh.

Không gian trong truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway rất đa dạng và mang dấu ấn

riêng. Vẫn là những hình ảnh con đường, ngôi nhà, giao thông hào, cây cầu, bệnh viện… nhưng

những hình ảnh thân quen ấy đã bị bom đạn tàn phá và nó trở nên nỗi khiếp sợ, ám ảnh của con

người. Tất cả thể hiện những sắc màu trung thực không gian của chiến tranh: đổ nát, chết chóc

và hủy diệt.

Đặc biệt không gian trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway rất hạn hẹp. Nó

được giới hạn trọng một phạm vi nhất định. Đó là một không gian đầy ấn tượng, một lát cắt đặc

sắc của hiện thực. Điều này tạo nên sự thiếu hụt tích cực trong cảm nhận của người đọc. Nó

như một thứ ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo của E. Hemingway.

Có khi không gian của truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway như: không gian những

trận chiến, không gian những cuộc rút lui, chiếc cầu, bệnh viện, chiếc giường… được mở rộng

trong tiểu thuyết của ông và trở nên những hình tượng giàu ý nghĩa. Nó như sự nối dài cánh tay

truyện ngắn để đạt bề sâu của nó. Chính vì vậy không gian chiến tranh là đặc điểm quan trọng

để xác định truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway.

CHƯƠNG 3: Nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway

3. 1. Nhân vật và nhân vật truyện ngắn

3. 1. 1. Nhân vật

Nhân vật (hay nói đầy đủ hơn là nhân vật văn học) là khái niệm quen thuộc trong nghiên

cứu văn học. Hầu hết các từ điển văn học, thuật ngữ văn học đều nhắc đến khái niệm này.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, nhân vật văn học là:

Con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học… Nhân vật văn học là một đơn

vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống.

Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người… Nhân vật văn

học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người.

[40, tr.235-236]

Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân bổ sung: “Nhân vật văn học là một trong

những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường

phái hoặc dòng phong cách” [3].

Như vậy các nhà nghiên cứu, các nhà văn thống nhất về khái niệm nhân vật ở các điểm

như: nhân vật là con người trong tác phẩm, có lời nói, hành động, cảm xúc. Chúng có khả năng

khái quát con người, thể hiện quan niệm, lí tưởng thẩm mĩ của con người. Nói như B. Brêch:

“Nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải giản đơn là những bản dập của con người sống,

mà là hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả” [71, tr.210]. Nhân vật

trong tác phẩm rất đa dạng, có khi là con

người, loài vật, đồ vật…

Đó là khái niệm nhân vật văn học nói chung.

3. 1. 2. Nhân vật truyện ngắn

Nhiều nhà văn, nhà thơ hiểu nhân vật truyện ngắn theo những cách khác nhau. Nguyễn

Đức Nam cho rằng: “Nhân vật truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã

hội, ý thức xã hội hoặc tồn tại xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người” [63, tr.240]. Nhà

văn Nguyễn Minh Châu lại nhận xét: “nhân vật là một lát cắt của dòng đời” [20, tr.102]. Nhà

văn Bùi Hiển lại có quan điểm: nhân vật trong truyện ngắn thường phát khởi từ “một khoảnh

khắc trong cuộc đời con người mà dựng lên… khoảnh khắc mà nhân vật thể hiện đầy đủ nhất ý

chí, tình cảm của con người.” [44, tr.98]. Vũ Thị Tố Nga (Đại học Hải Phòng) cho rằng:

“Truyện ngắn thường chớp lấy cái thần thái của nhân vật” [65] …

Từ những ý kiến trên, ta thấy nhân vật truyện ngắn là nhân vật có những đặc điểm của

nhân vật văn học nói chung song nó được miêu tả hết sức ngắn gọn. Nó có thể là chỉ vài nét

phác thảo về một phần đời, một chốc lát, một khoảnh khắc của con người. Nó có thể không đầu,

không cuối, không tên, không tuổi, không tính cách, không quá khứ, tương lai, không có kết

cục... Song không phải vì vậy mà sự phản ánh hiện thực của nó kém đi. Với đặc thù ngắn gọn,

cô đọng, nhân vật của truyện ngắn đã mô tả hiện thực bằng cách riêng của mình. Vì thế, nó là

sứ giả truyền đi thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn. Nhân vật truyện ngắn có thể chỉ

được khắc họa qua một lát cắt hoặc một tình huống nên sức biểu hiện của nó phục thuộc vào

cường độ cảm xúc và sự chắc lọc của chi tiết của tác giả.

Với cách hiểu khái niệm nhân vật văn học như vậy, chúng tôi chỉ khảo sát nhân vật trong

truyện ngắn chiến tranh của Hemingway là con người cụ thể, con người chịu tác động bởi chiến

tranh.

3. 2. Nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway

Nhìn chung, nhân vật của Hemingway rất đa dạng và sống động. Đó là những con người

cụ thể như: đấu sĩ bò tót, gã đi săn, người đi câu, những người lính, viên sĩ quan, ông lão, bà cụ,

phụ nữ, hài nhi… Các nhân vật của E. Hemingway đủ các thành phần nghề nghiệp và màu da.

E. Hemingway cho rằng ông cấu tạo ra “những con người sống”, “những con người chứ không

phải nhân vật”. André Maurois nhận xét: “Nhân vật của Hemingway rất sống. Họ không nói tới

tâm hồn của họ. Họ không bày tỏ tình cảm của họ, họ đòi ăn, uống, họ chửi tục, cười, không có

gì ngoài những cái đó.” [29, tr.142]. Cách miêu tả nhân vật của E. Hemingway rất ấn tượng.

Ông tập trung miêu tả những điểm nổi bật của nhân vật tạo nên các phản ứng và gây cho người

đọc cảm xúc.

Đặc biệt, nhân vật của E. Hemingway rất phức tạp, nhất là tính cách. Theo Lê Huy Bắc,

hai yếu tố trong tính cách nhân vật E. Hemingway là “phong độ chịu đựng dưới áp lực” và “bất

khả bại”. Các yếu tố đó đã hòa tan vào hai nét cơ bản quan niệm con người của Hemingway:

con người ý thức và con người ám ảnh [7, tr.73]. Nhân vật của E. Hemingway ý thức về sự đổ

vỡ và thân phận của con người, nhất là con người trong chiến tranh. Đào Ngọc Chương cũng

nhận xét: “Nhân vật của Ernest Hemingway vừa theo đuổi một điều gì đó rất riêng vừa phải hội

nhập vào thế giới khó hội nhập hoặc vừa bị ám ảnh riêng cần che giấu vừa phải bày tỏ mình

trước người khác như một nỗ lực khẳng định nhân cách” [25].

Theo chúng tôi, nhân vật trong sáng tác của E. Hemingway nói chung và nhân vật

truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway nói riêng là những nhân vật sống động, phong phú.

Đó là những con người trong thời đại chiến tranh hỗn loạn, những con người bị tác động khủng

khiếp của chiến tranh. Đó là những con người với những nỗi sợ hãi, ám ảnh khủng khiếp. Tuy

nhiên họ là những con người chán ghét bạo lực, chiến tranh và khao khát tự do, hòa bình.

Với cách nhìn nhận chung như vậy về nhân vật của E. Hemingway, khi khảo sát truyện

ngắn chiến tranh của E. Hemingway, chúng tôi chia các kiểu nhân vật sau:

3. 2. 1. Những người tham chiến

Trong truyện ngắn chiến tranh, hình ảnh những người tham chiến được coi là tiêu điểm.

Nói đến những người tham chiến là nói đến những người trực tiếp cầm súng hoặc phục vụ tại

chiến trường. Trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway, những người tham chiến là

viên sĩ quan, lính pháo binh, lính lái xe, lính địch, anh lính liên lạc, y tá, bác sĩ mặt trận, du

kích, nhân viên cứu thương... Thông thường họ là những người lính thực thụ, nhưng đôi khi họ

là những người cầm súng bất đắc dĩ. Có trường hợp họ là dân thường hoặc nông dân nhưng

họ tham chiến vì một nguyên nhân bất đắc dĩ nào đó. Họ không có lý tưởng gì cả. Có khi, họ

vô tình cầm súng hoặc cầm súng để được chia chát một ít tiền bạc, của cải vơ được, dù là

chút ít, thậm chí là chiếc xe đạp (trong Điểm đen chỗ giao lộ). Những người tham chiến rất đa

dạng. Mỗi người một công việc nhưng nói chung họ là những người trực tiếp ở chiến trường,

những người chịu hậu quả chiến tranh trực tiếp và khốc liệt nhất. Trong 41 truyện ngắn chiến

tranh được khảo sát thì nhân vật này 33 lần xuất hiện.

Hình ảnh người tham chiến được E. Hemingway miêu tả trong Đêm trước trận đánh như

sau:

Họ là nhưng thợ máy nhưng học sơ sài rồi trở thành người lính. Họ không thể lường

trước mọi việc xảy ra. Và tất cả họ đều sợ chết… Họ trông giống lính tăng khi họ ra trận với

những chiếc mũ tăng trên đầu. Nhưng khi họ đậy nắp xe xuống thì thật sự không có gì bên

trong. Họ không phải là lính tăng thực thụ… Nhiều người đánh thuê đã kí hợp đồng sáu tháng.

Hầu hết họ là những người Pháp. Họ đi lính được năm tháng nhưng bây giờ tất cả họ muốn

sống qua tháng cuối cùng để trở về nhà. [96, tr.481]

Do xuất thân từ nhiều thành phần như vậy nên những người tham chiến được miêu tả ở

đây rất phức tạp. Và tất nhiên lý tưởng, ý chí chiến đấu của họ cũng khác nhau. Riêng điều này

cũng cho ta nhận ra rằng cuộc chiến này đầy những hoài nghi và bất thường.

Vì trực tiếp tham gia chiến tranh, trực tiếp chứng kiến sự khốc liệt của chiến tranh nên

những người tham chiến chịu bao tổn hương về thể xác lẫn tinh thần: “Hai chúng tôi cùng

uống. Nước có mùi nhựa đường và mùi lông lợn”, “không có cái khát nào giống như cái

khát của chiến trận.” (Dưới mỏm đất) [52, tr.490].

Đặc biệt, họ luôn hứng chịu cái chết và không một ai tránh được cái chết và sự tàn sát.

Họ là tấm bia, là mục tiêu của súng đạn. Trong Không có ai chết, Enrique, một du kích, nói với

cô gái: “Bọn anh thuộc sư đoàn tiên phong. Mọi người hoặc là bị giết hoặc là bị thương. Những

ai còn sống đều bị thương cả.” [52, tr.510]. Một người lính trong Trên bến cảng Smyrna lo

lắng: “Họ có nhiều khẩu đội pháo và có thể bắn chúng ta bay tung lên khỏi mặt nước”[52,

tr.263]. Họ bị tàn sát không khác gì các súc vật. Và điều này là có thực. Những năm tham gia

chiến tranh ở Ý, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kì, Hy Lạp… đã cho E. Hemingway những kinh

nghiệm xương máu và những thực tế khốc liệt về những người tham chiến.

Những người lính này không có quyền lựa chọn số phận, sự sống chết cho mình. Số phận

của họ bị cuốn vào trận cuồng phong của chiến tranh. Họ phải đối mặt với mưa bom bão đạn:

“Chúng tôi vấp phải làn đạn súng máy mạnh đến nỗi cả bọn phải toài người xuống bò lui, cằm

rê sát đất, mùi bám bám đầy bụi” (Dưới mỏm đất) [52, tr.491].

Trong những cuộc chiến nảy lửa, sự sống còn của người tham chiến thật mong manh:

…Chúng tôi đã ở đó trên chiến trường bị bom đạn cày nát mà không một ai có thể vượt

qua và có thể sống sót. Bạn phải toài người xuống nằm bẹp dí; tìm một mô đất che đầu, vùi sâu

cằm vào lớp bụi bẩn; đợi lệnh để xông lên sườn đồi kia nơi không một ai có thể lên đến mà còn

sống sót. Chúng tôi ở đó, cùng với những người nằm đợi đoàn tăng đã không đến; chờ đợi dưới

tiếng rít khét lẹt, tiếng nổ rung trời của đạn pháo; đất lẫn với kim loại tung lên nhưng những

cục máu đông phun ra từ một đài phun bẩn thỉu; và phía trên đầu là lưới đạn vun vút bay tựa

một tấm rèm lửa.

(Dưới mỏm đất) [52, tr.497].

Cảnh tượng ở trên không khác gì địa ngục. Trong hoàn cảnh ấy, số phận của con người

mong manh, nhỏ nhoi đến lạ. Chiến tranh luôn mang theo sự hủy diệt đáng sợ. Nó tàn phá nhà

cửa, con người và mọi thứ có thể. Những người tham chiến ít có cơ hội trở về. Trước mắt và

xung quanh họ là màu xám của khói, màu đỏ của máu và văng vẳng bên tai là những tiếng kêu

la, than khóc của những đồng đội và kẻ địch bị trúng bom đạn. Tất cả điều kinh hoàng và hoảng

loạn. Đó chỉ là một phần nhỏ trong những nỗi kinh sợ khiếp đảm, hủy diệt của chiến tranh

giáng xuống con người.

Thảm hại nhất là những người lính bị thương trên chiến trường: “Nick ngồi tựa vào bờ

tường nhà thờ nơi người ta kéo anh đến để tránh khẩu súng máy đang nhả đạn trên đường. Cả

hai chân thòi ra một cách bất tiện. Anh bị thương ở xương sống. Khuôn mặt anh đẫm mồ hôi

bẩn thỉu” (Chương 7) [53, tr.14]. E. Hemingway đã từng bị thương trên chiến trường và có hơn

hai trăm mảnh đạn trong người nên ông thấm thía nỗi đau đớn, khốn cùng ấy. Vì thế những

hình ảnh về nỗi đau đớn thể xác trong chiến tranh được ông miêu tả rất chân thực và giàu cảm

xúc.

Chiến tranh là căn bệnh trầm kha của loài người. Nhất là thế kỉ XX, chiến tranh với các

vũ khí giết người hiện đại, tối tân như bom đạn, xe tăng, đại bác, vũ khí hóa học, sinh học… Đó

là những loại vũ khí giết con người nhiều nhất, nhanh nhất, tàn khốc nhất và để lại cho con

người thương tật nhiều nhất. Song di chứng khủng khiếp nhất là nỗi ám ảnh của chiến tranh.

Trong sáng tác, E. Hemingway đã chú ý đến tác động của nó đến với con người về tinh thần

như nỗi sợ hãi, ám ảnh, hoảng loạn…

Thực vậy, chiến tranh với bom đạn và sức tàn phá khủng khiếp của

các loại vũ khí nên con người trong đó như một sinh vật nhỏ bé, yếu ớt và có thể bị hủy diệt bất

cứ lúc nào. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, cảm giác sợ hãi bao trùm những người tham chiến.

Giữa cái sống và cái chết. Trong phút giây hiện hữu ấy con người bộc lộ bản năng tồn sinh của

mình. Đó là tồn tại. Qua một trận pháo, một loạt đạn, người lính còn sống mới hoàn hồn nhận

ra mình thoát chết một cách màu nhiệm. Vì vậy nỗi sợ hãi nhân lên gấp bội. Họ cầu mong được

sống, được tồn tại: “Trong khi trận oanh tạc đánh giao thông hào nát ra từng mảnh tại

Fossalta, hắn nằm bẹp dí người đẫm mồ hôi và cầu nguyện: Ôi Jesus Christ xin ngài mang con

ra khỏi chốn này. Jesus lòng lành, xin làm ơn mang con ra…” (Chương 8) [53, tr.16]. Con

người trong chiến tranh luôn đối diện với cái chết và đối diện với những nỗi sợ hãi. Đó là sự

thật. Và điều đó cũng hết sức nhân văn: đối diện với cái chết không ai không sợ. Nhất là với cái

chết không có mục đích thì nỗi sợ ấy nhân lên gấp bội.

Enricque, một nhân vật trong Không có ai chết nói với Maria: “Chiến tranh tệ hại quá.

Nó huỷ diệt những người tài ba nhất” [52, tr.510]. Và cuối cùng Enrique không tránh khỏi cái

chết: “Khi Enricque đứng dậy, gầy gò, hốc hác, hiện rõ mồn một trong ánh đèn và đang rút

súng lục lớn trong túi da đeo dưới nách thì từ chiếc xe đỗ trong bóng tối, khẩu đại liên đã nã

đạn vào anh.” [52, tr.516]. Điều họ sợ hãi đã đến: cái chết. Cái chết luôn rình rập những người

tham chiến.

Có cái chết đến từ từ như một con quái vật đang nuốt chửng những người lính. Đay là

cảnh trong Cảnh vật muôn màu :

Chúng tôi đứng xem. Qua ống nhòm, bạn có thể thấy hai người đàn

ông bò ra ngoài giao thông hào và mang những chiếc cáng ở lưng chừng đồi. Họ di chuyển có

vẻ chậm chạp và nặng nề khó nhọc. Bạn cũng có thể thấy người đi trước mắc trong vũng lầy tới

đầu gối của anh ta và sau đó anh ta ngồi xuống. Người lính theo sau ngồi bệt xuống đất. Anh ta

bò lê về phía trước. Kế đó tay của anh ta đặt dưới vai của người lính trước, anh ta bắt đầu

trườn, kéo lê gã kia đến giao thông hào. Sau đó anh ta không bò nữa và bạn có thể thấy anh ta

nằm sóng soài trên đất. Bây giờ cả hai không di chuyển được nữa [96, tr.677].

Cái chết thực sự đã trở thành nỗi đau của đồng loại. Nỗi đau càng lớn thì sự khát khao

hòa bình càng mãnh liệt. Chính vì vậy mà cái chết luôn là nỗi ám ảnh những người lính tham

chiến. Một nhân vật trong truyện Nơi xứ lạ tâm sự: “Tôi rất sợ chết và thường xuyên mất ngủ

bởi sợ chết và tự hỏi mình sẽ ra sao nếu phải trở lại chiến tuyến một lần nữa.” [52, tr.162]. Cái

chết và nỗi ám ảnh luôn làm cho những người tham chiến chết dần, chết mòn. Người lính trong

Bây giờ tôi nằm nghỉ trăn trở:

Chính tôi không muốn ngủ bởi vì tôi phải sống trong một thời gian dài với ý nghĩ rằng-

nếu bao giờ tôi phải nhắm mắt trong bóng đêm và nếu tôi không tự kiềm chế được thì linh hồn

tôi sẽ rời thể xác. Tôi đã phải thức như thế trong một thời gian dài, kể từ khi bị bom vùi trong

đêm và cảm thấy linh hồn đi ra khỏi thể xác mình, biến mat rồi sau đó quay trở lại.

[52, tr.253]

E. Hemingway đã viết về con người với nỗi ám ảnh thật ấn tượng. Ám ảnh về cái chết,

ám ảnh về nỗi sợ hãi và nỗi ám ảnh còn che kín cả quá khứ mù mịt của người lính. Trong Bây

giờ tôi nằm nghỉ, Nick đang ở nơi xảy ra chiến sự ác liệt nhưng hằng đêm kí ức thời ấu thơ cứ

ùa về trong Nick. Nick nhớ lúc còn nhỏ bắt côn trung, đi câu trên dòng suối… “Vào những đêm

đó, tôi cố nhớ tất cả những gì xảy ra đối với tôi, bắt đầu từ trước khi tôi đi chiến đấu và hồi

tưởng từ việc này tới việc kia…” [52, tr.255]. Chiến tranh không phải là lý tưởng cho Nick phấn

đấu và phục vụ. Anh không tự nguyện nên ám ảnh của chiến tranh đối với anh ta là điều không

tránh khỏi.

Đã là người lính tham chiến, tất nhiên họ phải cầm súng và giết người. Khi ra trận, thần

kinh của họ căng thẳng tột cùng. Bản chất thú trong người họ trỗi dậy. Lương tâm của họ không

còn. Và họ trở thành những kẻ giết người, dù có ý thức hay không có ý thức:

Chúng tôi đang ở trong khu vườn tại Mons… Tên Đức đầu tiên tôi nhìn thấy trèo lên trên

bức tường rào. Chúng tôi chờ đến khi hắn đặt được một chân lên rồi mới bắn. Hắn mang bao

nhiêu là thứ trên người và ngạc nhiên đến chết khiếp rồi rơi xuống khu vườn. Thế rồi hơn ba

tên nữa trèo lên xa mãi ở cuối bờ tường. Chúng tôi bắn bọn chúng. Tất thảy bọn chúng đều rơi

theo cùng một kiểu. (Chương 4) [53, tr.11]

Số phận của con người trong chiến tranh cũng được quyết định trong cái chớp mắt như

vậy.

Trong một chương khác của in our time, E. Hemingway viết: “Bọn chúng cố trèo lên

còn chúng tôi thì bắn hạ chúng từ khoảng cách 40m.” (Chương 5) [53, tr.12]. Lại một chương

khác: “Boyle bắn một phát vào chỗ ngồi trên chiếc xe ngựa và một phát xuyên qua thùng xe.

Drevitts hoảng sợ khi gã nhận thấy cả hai tên đều chết” (Chương 9) [53, tr.17]… Cứ mỗi

một phát súng vang lên là một sinh mệnh kết thúc. Người chết không hiểu mình chết vì lí do gì,

dù lí do đó vô lí nhất.

Những cảnh giết người như thế rất nhiều. Cái chết nhiều đến nỗi người ta thấy đó là

chuyện bình thường. Điểm đen chỗ giao lộ kể về những du kích đã phục kích giết những lính

Đức trên đường rút lui: “Chúng tôi đã tiến đến giao lộ trước buổi trưa và bắn một dân thường

người Pháp do tình cờ. Anh ta chạy băng qua cánh đồng bên phải chúng tôi phía xa bên kia

ngôi nhà trong nông trại khi anh ta thấy chiếc xe jeep đầu tiên lao đến” [Phụ lục 3]. Các nông

dân trong đội quân du kích này được phát súng và được quyền giết người: “Các anh, mỗi người

mang một cây súng của những tên Đức bị bắn và hai túi đạn rồi đi dọc con đường cách đây 200

yard về phía bên phải chúng tôi và giết bất cứ tên Đức nào qua đây cùng với chúng tôi” [Phụ

lục 3]. Và cảnh giết người được mô tả không khác gì cảnh đi săn: “Tôi thử lại lệch xa hơn phía

đằng trước. Tên Đức rơi xuống một cách luống cuống, đau đớn và nằm ngay trên đường với

chiếc xe đạp đè lên trên và bánh xe vẫn còn đang quay tròn” [Phụ lục 3].

Hình ảnh con người bị giết vô tội vạ được E. Hemingway phản ánh trong truyện ngắn

chiến tranh mang một giá trị hiện thực và sức tố cáo chiến tranh phi nghĩa lớn lao. Qua những

hình ảnh ấy, E. Hemingway muốn đưa ra một thông điệp: trong chiến tranh con người đã mất

hết tình người và tính người. Thông điệp ấy đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Những vụ

thảm sát dân thường như ở Mỹ Lai - Quảng Ngãi - Việt Nam của quân đội Mỹ mãi là bài học về

tình người và tính người mà Hemingway đã lên tiếng từ hơn 80 năm trước.

Chiến tranh gây cho E. Hemingway một ấn tượng mạnh mẽ. Nhà văn đã nhìn thấy chiến

tranh hầu như chứa đầy sự khó hiểu về luân lí, sự tàn phá, sự đau đớn không tránh khỏi. Chính

vì vậy, E. Hemingway đã có cảm tình với những người lính trực tiếp ở mặt trận, những người

tham chiến, dù họ là những người lính bình thường nhất.

Những người tham chiến là những người chịu gian khổ nhiều nhất, hứng chịu cái chết

nhiều nhất nhưng sự hy sinh của họ thật mỉa mai. Họ đã bị đối xử tồi tệ và bị làm nhục đủ mọi

hình thức. Sự hy sinh của viên sĩ quan Pháp trong Dưới mỏm đất là một ví dụ:

Kẻ đến gần chiến thắng trong ngày hôm ấy có lẽ là người Pháp kia, người ngẩng cao

đầu rời bỏ chiến trận. Nhưng chiến thắng của anh ta chỉ kéo dài theo bước chân của anh đến

giữa quãng đường vắt qua mỏm đất. Chúng tôi thấy anh nằm đó, tay chân dang rộng trên triền

dốc, cái mềm quấn quanh người…” [52, tr.503]

Đoạn văn của E. Hemingway cứ dửng dưng như không. Hình ảnh hy sinh của viên sĩ

quan Pháp dưới mỏm đất như một bức biếm họa hoàn hảo về cuộc chiến tranh vô nghĩa và phi

lí.

Trực tiếp tham chiến nhưng cái chết của những người lính tham chiến không có ý nghĩa

gì cả. Đó là những cái chết vô nghĩa. Trong Đêm trước trận đánh, Baldy, viên phi công, nói:

“Tôi không bận tâm tới cái chết tí nào”, “Cái chết chỉ là những thứ phù phiếm” [96, tr.488].

Nếu như mọi người lính cầm súng đều vì lý tưởng hoặc vì tổ quốc và họ có thể hy sinh cho các

điều ấy thì ở đây tổ quốc và sự hy sinh chỉ là sự vớ vẩn. Nhân vật Red trong Điểm đen chỗ giao

lộ nói: “Còn đây nữa, tổ quốc kẻ chiến thắng khốn kiếp hay là cái chết” [Phụ lục 3]. E.

Hemingway đã không tiếc lời để chỉ trích các cuộc chiến tranh vô nghĩa mà chính ông cũng một

thời ngập ngụa trong nó.

Tuy vậy, điều tốt đẹp mà E. Hemingway nhận ra qua những con người này là họ không

phải là người hoàn toàn vô cảm. Họ chỉ thờ ơ với những cuộc tấn công vô nghĩa tốn xương máu

của đồng loại. Còn đối với con người, dù là người bên kia chiến tuyến, họ vẫn có cử chỉ đáng

trận trọng. Trong Điểm đen chỗ giao lộ, sau khi hạ gục tên lính Đức trên đường, mọi người tới

xem và chăm sóc cho hắn:

Trước tiên, chúng tôi đến chỗ các người Đức trên đường. Hắn không chết nhưng bị bắn

xuyên qua phổi. Chúng tôi đã đỡ hắn dậy một cách nhẹ nhàng và đặt xuống chỗ thuận tiện hơn.

Tôi tháo thắt lưng và sơ-mi hắn. Chúng tôi rắc sun-fa-mít vào vết thương của hắn. Claude băng

bó tạm cho hắn… Rồi anh ta vuốt đầu hắn và nắm tay hắn để đo nhịp tim….Claude cúi xuống

hôn trán tên Đức [Phụ lục 3 ].

Sau khi thực hiện hành động giết người, kẻ vừa bắn kẻ thù ngã xuống ấy vẫn có cử chỉ

đáng trân trọng. Có lẽ họ thương cảm cho kẻ bị giết kia cũng là thương cho số phận của chính

họ. Bởi họ cũng là nạn nhân của chiến tranh. Johnny, một nhân vật trong Cảnh vật muôn màu

nói: “Trong chiến tranh, chúng ta phải hết sức cẩn thận, đừng làm tổn thương tình cảm người

khác” [96, tr.678]. Câu nói này như là một sự nhạo báng cố ý và sâu sắc nhưng nó cũng hàm

chứa tình thương đồng loại thật sự.

Hình ảnh những người tham chiến chiếm đa số trong truyện ngắn

chiến tranh của E. Hemingway. Hình ảnh nổi bật của những người tham

chiến là chịu gian khổ, hy sinh, chịu mất mát về thể xác tinh thần… Song cuộc chiến mà họ hy

sinh lại là cuộc chiến không có ý nghĩa, không có mục đích. Do vậy, sự hy sinh gian khổ, sự

cống hiến và mất mát của những người tham chiến kia không có ý nghĩa gì hết.

Điều đáng chú ý ở đây là sự tham gia trực tiep của E. Hemingway. Hình ảnh người tham

chiến mang dáng dấp cuộc đời của tác giả. Hemingway đã tham gia và chứng kiến sự khốc liệt

của chiến tranh. Ai có chứng kiến được cảnh đau thương mà súng đạn gây nên thì người ấy mới

hiểu được mặt trái của chiến tranh.

Từ sự nhận chân như vậy, E. Hemingway muốn đưa một thông điệp: Chiến tranh là cội

nguồn của những mất mát hệ lụy. Chiến tranh là một tấn bi kịch lớn nhất mà con người tạo ra

cho con người. Chiến tranh dưng lên một không gian đầy máu và nước mắt. Số phận, tâm trạng,

cuộc đời… của con người trong cuộc chiến đều phải lọc qua đau thương. Do vậy, tác phẩm văn

học viết về chiến tranh chân thực, sâu sắc phải là tác phẩm thấm đẫm và thanh lọc qua tấn bi

kịch của con người. Vết thương của chiến tranh, vết thương nhân tính trong lòng tác giả, trong

từng câu chữ sâu rộng tới đâu sẽ bảo đảm cho tác phẩm thành công tới đó. Truyện ngắn chiến

tranh Hemingway đã đạt những ý nghĩa sâu sắc như vậy.

3. 2. 2. Những người lính trở về

Họ là những người lính trở về sau chiến tranh. Hình ảnh những người lính này xuất hiện

bảy lần trong truyện ngắn chiến tranh của Hemingway. Đó là Kresb (trong Nhà của lính), Bob

White (trong Bob White), Billy GilBert (trong Billy GilBert), người lính Mỹ (trong Một độc

giả viết), Pedro

(trong Con bướm và cỗ xe tăng), Nick (trong Con sông lớn hai lòng I-II).

E. Hemingway là nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm viết về chiến tranh nhưng chủ yếu

khai thác khả năng chịu đựng của con người: bệnh tật, cô đơn, lạc lng… của người lính, nhất là

những người lính trở về sau chiến tranh.

Điều đầu tiên nhận thấy của những người lính trở về là sự lạc lõng. Họ đã bị lãng quên

dần trong tâm trí mọi người mặc dù cuộc chiến vừa kết thúc. Cuộc sống bị đảo lộn nên họ

không tin tưởng vào đời sống hiện tại. Và những thay đổi quá lớn nên họ chẳng còn tin ai. Tâm

trạng u buồn của các nhân vật này cũng là tâm trạng chung của tác giả và một thế hệ lạc lõng

hồi đầu thế kỉ XX: sống hụt hẫng, lo âu, xa lạ với thế giới xung quanh. Có lẽ E. Hemingway

muốn khắc họa đậm nét thêm về thế hệ lạc lõng cùng với các nhà văn đương thời đã đề cập.

Trong Nhà của lính, Harold Krebs là một thanh niên Mỹ trở về quê hương sau khi tham

gia Chiến tranh thế giới thứ nhất tại châu Âu nhưng anh không thể hoà nhập với cuộc sống ở

đây. Anh trở nên xa lạ với tất cả mọi người, cả những người thân yêu của anh: cha, mẹ, em

gái… Anh mất niềm tin; anh không còn tin một ai, kể cả Chúa. Cuộc sống tẻ nhạt, trống trải,

Krebs lại rơi vào tuyệt vọng. Anh ta không tìm cho một tiếng nói tương đồng, một không gian

vừa vặn cho mình trong cuộc sống mới. Tất cả đều trật khớp. Anh không hoà cùng nhịp đập với

cuộc sống thực tại. Đó không phải là cuộc sống cho anh và anh phải nếm trải rất nhiều khó

khăn. Khi nói về điều này, Tobias Wolff trong lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh E. Hemingway:

“Vấn đề mà Hemingway đặt ra trong chính câu chuyện Người lính trở về là sự khó khăn để nói

rõ sự thật về những gì đã xảy ra. Ông đã biết những khó khăn của riêng bản thân ông về những

việc ấy” [internet, 2008]. Từ đó, người lính trở về rơi vào bi kịch. “Đó là bi kịch giữa ý thức cá

nhân và thực trạng hỗn mang của thời đại”, “giữa cái tôi và nhu cầu nhận thức” [81, tr.94]. Đó

cũng là bi kịch của Hemingway và những người cùng thời của ông.

Còn Bob White, trong Bob White, sau khi trở về quê nhà chỉ sống trong hồi tưởng, trong

kí ức chiến tranh:

Bob White được biệt phái đi kiểm tra một đơn vị bệnh viện ở cơ sở. Khoảng ba ngày

trước khi đình chiến anh ta đến Pháp. Khi về nhà Bob kể với gia đình Odd Fellow nhiều chuyện

về chiến tranh vào cái đêm đầu tiên ngủ trong lán… Bob có một cây thánh giá bằng sắt mà anh

ta nói anh ta đã lấy được ở thây ma một sĩ quan Đức [53, tr.60].

Quá khứ của Bob chẳng có gì là hào hùng và vinh dự. Song nó cứ bám anh dai dẳng. Có

lẽ máu và nước mắt của anh, xương máu của đồng đội và sự khủng khiếp của chiến tranh đã ám

ảnh suốt thời gian còn lại của anh. Bob mơ màng, chơi vơi giữa cuộc sống hiện tại, một cuộc

sống mà không có anh trong đó.

Tồi tệ hơn, chiến tranh đã làm những khao khát được sống, được yêu, được tồn tại của

người lính trở về bị tước bỏ. Họ bị đẩy vào ngõ cụt của lòng tin.

Truyện Billy Gilbert kể về một thổ dân Ojiway tên là Bill GilBert

sống ở gần hồ Susan và “vợ Billy là một trong những cô gái đẹp nhất ở vùng thượng nguồn

Michigan” [53, tr.65]. Rồi người ta không biết tại sao năm 1915 Bill đăng lính vào Black

Watch. Nhưng khi hắn về thì bị mọi người nhiễu báng và vợ con hắn cũng bỏ nhà theo người

khác. Billy ra đi trong sự cô đơn. Sau khi hỏi người hàng xóm vài điều rồi Billy “quay ngoắt đi,

vượt qua đoàn quân”… “Gương mặt hắn lạnh tanh hơn bao giờ hết, nhưng mắt hắn tựa như

một con đường dài hun hút dẫn vào đêm đen” [53, tr.67]. Gia đình là điểm cuối cùng để người

lính trở về cũng mất nốt. Niềm tin mỏng manh, duy nhất đã không còn. Hình ảnh con đường

dài hun hút dẫn vào đêm đen như xóa sạch niềm tin le lói ở trước mặt Bill, một người lính trở

về.

Đau khổ hơn thế, những người lính trở về còn bị đối xử tàn tệ, nhạt nhẽo, rẻ rúng, bị vứt

bỏ và mất phương hướng.

Truyện Tố giác kể về những người lính trở về thường xuyên la ca trong quán rượu. Họ

nhớ về một thời chiến tranh gian khổ, nguy hiểm đã trải qua và vô số những câu chuyện tào lao

trong quân ngũ: thấy con bạch tuộc to cỡ nào, tay nào bắn chim giỏi… Rồi một người trong số

họ, Luis Delgado, bị bắn thật vô cớ… Đọc truyện này chúng ta liên tưởng đến truyện Vụ án của

Kafka. Tai ương, những bóng đen, cái chết… từ đâu đó, rất vô lí, cứ trùm kín họ, bủa vây họ

và họ không thể thóat được bóng đen kì quái đó. Bóng đen ấy chính là chiến tranh.

Cái chết của Pedro trong Con bướm và chiếc xe tăng lại gây ấn tượng nhiều nhất về số

phận của những người lính trở về. Pedro là anh lính hào hùng năm xưa nay trò thành trò cười

giữa quán rượu. Anh mua một lọ nước hoa bỏ vào súng phun nước phun vào mọi người để mua

vui. Nhưng hành động của Pedro bị hiểu nhầm và anh ta bị đánh, bị quẳng ra khỏi quán rượu và

cuối cùng anh bị bắn chết một cách thương tâm. Có lẽ việc cầm súng trong chiến tranh đã ám

ảnh tất cả mọi người nên anh phải trả giá bằng cái chết qua hành động tưởng chừng vô hại đó.

Hoàn cảnh của Pedro thật trớ trêu như nhận xét của viên quản lí trong câu chuyện: “Thật hi

hữu. Cơn bốc đồng của anh ta ta tiếp xúc với sự căng thẳng của chiến tranh giống như con

bươm”, ”giống như con bướm và cỗ xe tăng.” [52, tr.487]. Cái chết của Pedro, một lần nữa thể

hiện sự rẻ rúng của những người xung quanh đối với những người lính trở về. Cái chết tức tưởi

của Pedro là lời tố cáo đanh thép về thân phận của con người trong chiến tranh: “xác của anh

chàng phun súng nước, lúc này trông như thể một hình nhân biếm hoạ bằng sáp tái ngoét của

chính anh ta đang nằm trên sàn với hai bàn tay sáp và khuôn mặt sáp xám ngắt” [52, tr.483].

Sự đảo lộn cuộc sống của người lính trở về không chỉ nằm ở vết thương cũ ở chiến

trường hay việc phải chịu đựng những điều kiện quá ngặt nghèo trong cuộc chiến mà còn là còn

là đời sống bất thường, của sự hoang mang tột độ làm người ta mất phương hướng. Đó là là

chấn thương tinh thần khủng khiếp nhất. Vì vậy, người ta gọi những năm đầu thế kỉ này là the

wild years (những năm tháng hoang dã).

Bình luận về điều này, trong Men at War, Hemingway viết:

Khi bạn tham gia chiến tranh khi còn trẻ, bạn có một ảo tưởng bất hủ. Những người

khác bị giết còn bạn thì không… Rồi khi bạn bị thương lần đầu tiên bạn mất những ảo tưởng đó

và bạn biết nó sẽ xảy ra với bạn. Sau hai tuần bị thương trước sinh nhật lần thứ 19 của tôi, tôi

thấy đó là thời gian tồi tệ nhất của mình cho đến khi tôi hình dung ra rằng không có cái gì xảy

ra với tôi mà không xảy ra với tất cả các mọi người trước tôi. Dù thế nào đi nữa, tôi đã làm cái

việc mà mọi người vẫn làm. Nếu họ đã làm điều đó thì đến lúc nào đó tôi cũng làm như vậy và

tốt nhất là đừng buồn phiền về nó [internet, 2008].

Có trường hợp những người lính trở về lại đem bệnh tật, thứ bệnh nghiệt ngã mà chiến

tranh mang đến. Truyện Một bạn đọc viết, qua bức thư của người vợ, anh lính trở về mang cả

con bệnh khủng khiếp của một đất nước xa lạ. Những người phụ nữ này không hề trực tiếp

tham gia chiến tranh nhưng chiến tranh đã không buông tha họ. Chiến tranh đã để lại những

khoảng trống quá lớn, những tai họa sau chiến tranh gieo vào con người đủ mọi điều: thương

tích, bệnh tật… Những hạnh phúc đời thường, tình yêu lứa đôi, vợ chồng cũng bị tước sạch.

Chiến tranh đã đi vào những ngõ ngách sâu xa, xâm nhập vào hạnh phúc riêng tư đối với mỗi

người dù trực tiếp hay gián tiếp. Người vợ ấy luôn day dứt: “Giá như anh đừng đến đấy. Mình

bận tâm nguyên do anh mắc bệnh. Nhưng mình cứ ước giá mà Chúa giữ cho anh khỏi bệnh

tật.”, “Ước gì Chúa giúp anh không mắc bệnh. Mình chẳng hiểu tại sao anh lại mang bệnh.”

[53, tr.111]. Ước muốn cháy bỏng của người phụ nữ ấy thật đáng thương tâm song ước mơ ấy

trở thành tuyệt vọng.

Hậu quả của chiến tranh còn là nỗi cô độc đến lạnh lùng. Người lính trở về hết sức đớn

đau khi sự cô đơn lạc lõng đến tận cùng.

Truyện Nơi xứ lạ thể hiện sự ám ảnh của nỗi cô đơn ấy. Truyện kể

về các người lính sau khi trở về vẫn gặp nhau ở bệnh viện Milan để chữa trị vết thương. Nỗi

bất hạnh của một viên thiếu tá không được san sẻ, cuối cùng gã bật ra những giọt nước mắt tủi

nhục. Hoàn cảnh của gã chẳng thay đổi được: thương tật, cô đơn, thất vọng ê chề. Cuối cùng

viên thiếu tá rơi vào hoàn cảnh cô đơn, thất vọng đến tột độ; thậm chí không thể làm chủ bản

thân mình khi người vợ đã mất: “Gã đứng đó, đang cắn môi dưới. “Quả thật là khó”. Gã nói.

“Tôi không thể tự chủ” [52, tr.164]. Nhân vật viên thiếu tá cũng là mẫu nhân vật quen thuộc

của sáng tác Hemingway. Đó là loại nhân vật ý thức về sự đổ vỡ và trách nhiệm làm người nên

mang nỗi cô độc khôn nguôi và rơi vào chủ nghĩa hư vô.

Trong quá trình vật lộn với bao dằn vặt, đớn đau cả về thể xác và tinh thần, người lính trở

về dần ý thức được mối liên quan mật thiết giữa số phận và chiến tranh. Ở đó, họ thấy rằng

chiến tranh đã in dấu, nhào nặn, định nghĩa nhân cách của họ. Họ nhận ra rằng: chiến tranh là

cội nguồn những mất mát hệ lụy của cuộc đời họ. Và sự hệ lụy lớn nhất là sự ám ảnh khủng

khiếp của chiến tranh.

Thật vậy, chiến tranh đã đè nặng trong tâm khảm những người còn sống sót trở về và nó

như bóng ma lẩn khuất ám ảnh họ. Nick Adam trong Con sông lớn hai lòng I+II là một người

như vậy. Anh là một người lính trở về sau chiến tranh. Thế nhưng suốt thời gian sau đó anh như

chìm vào việc câu cá trên miệt sông Michigan. Ở đó, Nick hồi tưởng về quá khứ, về chiến

tranh, về bạo lực, về lẽ tồn sinh… Anh bất chấp các quy luật suy tư, logic… Các hình ảnh của

quá khứ, thực tại cứ ám ảnh, đan xen, pha trộn để tạo thành một vùng không gian hỗn độn trong

tâm tưởng. Nó như một thử nghiệm phi thường về quá khứ chiến tranh khắc nghiệt mà anh đã

trải qua. Việc câu cá và hình ảnh khu rừng, bầu trời, dòng suối… cứ ẩn hiện trong anh như thực

và mơ. Từ đó anh đi tìm ý nghĩa thực của cuộc đời để rồi ý thức về được mối quan hệ mật thiết

giữa số phận và chiến tranh. Đó là mối quan hệ mỏng manh, dễ vỡ, phù du của thân phận con

người và chiến tranh sau những ám ảnh, vỡ mộng. Câu chuyện về Nick chưa bao giờ trực tiếp

nói đến chiến tranh nhưng chúng ta cảm nhận sự mất mát, ám ảnh của chiến tranh đối với anh

ta. Mọi điều chỉ hiện ra lờ mờ bên dưới bề mặt của câu chuyện. Chiến tranh không được mô tả

trực tiếp, nhưng chiến tranh hiện diện khắp nơi trong truyện ngắn này nói riêng và truyện ngắn

chiến tranh của E. Hemingway nói chung. Nó như một thứ hơi độc không màu, không mùi,

không vị trộn vào không khí và con người hít thở mỗi ngày, rồi một hôm lăn ra chết. Có lẽ đó

mới là ý nghĩa mà E. Hemingway nói về sức tàn phá khủng khiếp của chiến tranh.

Có thể nói, nhân vật người lính trở về truyện ngắn chiến tranh của Hemingway có số

lượng ít (7 /41 truyện) nhưng rất quan trọng. Nó đã đặt ra vấn đề hậu chiến tranh. Chính vì vậy

nhân vật người lính trở về tạo ra dư âm sâu lắng nhất. Phải chăng E. Hemingway khẳng định

một điều về người lính: không những không làm chủ bản thân mà chỉ là nạn nhân của thời thế.

Có thể chiến thắng trong cuộc chiến đấu bảo vệ lý tưởng nào đó là vinh quang, nhưng sự hủy

hoại của chiến tranh thì không vinh quanh nào có thể làm mờ đi được. Không có một lí tưởng

cao cả nào có thể xóa được những chấn thương tâm lí khủng khiếp mà chiến tranh để lại trong

đời sống tinh thần của những người tham chiến. Còn những cuộc chiến tranh mà E.

Hemingway nói ở đây là những cuộc chiến tranh vô nhân đạo, phi lí. Do vậy sự hy sinh của

những người lính càng phi lí, càng vô nghĩa.

Lối viết có khả năng vượt qua những chiến tuyến để chạm đến những chiều sâu và những

góc cạnh ẩn mật của nội tâm con người trong chiến tranh là lối viết đặc trưng của E.

Hemingway. Với ông, không có phe nào là phe ta, phe nào là phe địch. Ông đứng ở vị trí những

người tiến bộ để phê phán chiến tranh. Do vậy, phê phán chiến tranh của E. Hemingway qua

sáng tác, đặc biệt là truyện ngắn chiến tranh, mang lại ý nghĩa lớn lao và đích thực.

3. 2. 3. Đoàn người di tản

Họ là những kẻ vô tội, là những người già yếu, phụ nữ, trẻ em và cả những hài nhi còn

ẵm trên tay. Trong chiến tranh họ là kẻ đứng giữa hai chiến tuyến, giữa hai làn đạn. Họ không

trực tiếp cầm súng nhưng họ lãnh đủ mọi cái chết và sự bất hạnh. Có thể họ vô tình chết, bị tàn

phế do bom rơi, đạn lạc. Cũng có lúc họ lại là nạn nhân của những hành động giết người có chủ

ý: tàn phá, giết người một cách vô lí.

Tuy số lượng lần xuất hiện không nhiều (09/41 truyện) song những hình ảnh đoàn người

di tản để lại những ấn tượng mạnh mẽ. Nó thể hiện sự hỗn loạn, sự bất an, khiếp sợ, khủng

hoảng của những người dân vô tội.

Năm 1922, E. Hemingway là thông tín viên ở Paris cho tờ báo Toronto Star. Tờ báo này

đã gởi ông đến Constantinople, nơi cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp và Thổ Nhị Kì đang diễn ra.

Ông chỉ có vài tuần ở đây nhưng kết quả chuyến đi đó là những trang sách viết về chiến tranh

xuất sắc nhất. Trên bến tàu Smyrna là tác phẩm mở đầu trong quyển truyện ngắn đầu tiên của

ông, in our time, tập truyện khá chân thực về chiến tranh và đặc biệt là hình ảnh những người

dân di tản. Do vậy những trang viết của E. Hemingway trong tác phẩm này như bức ảnh phóng

sự nóng bỏng nhất: “Các thiếu phụ với những hài nhi đã chết. Anh chẳng thể nào buoc họ

buông xác đứa con họ ra.” [53, tr.106]. Và trong cảnh tượng trần gian như một lò sát sinh đó,

những người phụ nữ có con chết lâm vào một trạng thái tâm thần bệnh lí: “họ ôm khư khư xác

con suốt sáu ngày.” [53, tr.106]. Sự thảng thốt mất trí của người phụ nữ có con bị chết cũng là

cơn điên loạn của một thời đại, thời đại chúng ta, thời đại của chiến tranh và bạo lực.

Thương tâm nhất là xác những bà già: “Thế là tôi nhìn ngay khi bà lão chết và hoá cứng

đơ. Hai chân co lên còn bà gập người ngang chỗ thắt lưng và toàn thân cứng ngắt” [53,

tr.107]. Tất cả vẽ lên một màu ảm đạm của bức tranh chiến tranh vô nhân đạo.

Chương 3 phản ánh trung thực không khí chiến tranh và gương mặt của đoàn người di

tản:

Xe cộ bị kẹt hàng ba mươi dặm dài theo con đường Karagatch… Xe cứ chất đầy mọi thứ

họ có được. Ông gia và bà lão, ướt đẫm người, vừa bước dấn tới vừa giữ cho xe di chuyển.

Lúc đoàn người gần tới chỗ cây cầu thì Maritza trở vàng. Xe cộ kẹt cứng trên cầu cùng những

con lạc đà nhấp nhổm suốt hàng dài… Đàn bà và trẻ con ngồi trên xe, thu người lại với đủ thứ

chăn đệm, gương lược, máy may, các gói bọc lỉnh kỉnh. Có một phụ nữ mang bầu cùng với đứa

con gái nhỏ ôm riết cái mền trên người mà khóc… [53, tr.10].

Có thể nói, với in our time, E. Hemingway bắt đầu tiếp cận với nỗi bất hạnh của con

người, số phận của con người trong cơn lốc chiến tranh. Số phận người dân thường trong chiến

tranh dưới ngòi bút của E. Hemingway là số phận những nạn nhân của cả hai chiến tuyến.

Những hình ảnh về đoàn người di tản của E. Hemingway đã nối kết những tâm trạng riêng,

những số phận của những người dân vô tội trong cuộc chiến vào một tâm trạng chung, một số

phận chung: số phận của những nạn nhân chiến tranh. Họ đã vùng vẫy trong cảnh máu xương,

mất mát, tang tóc của cuộc chiến tranh phi lí, không có lối thóat.

Những người di tản còn là những người chịu hậu quả chiến tranh nhiều nhất: bị xo đẩy,

bắt bớ, chết chóc, bị giết vô cớ, mất mát con cái, tài sản, các con vật thân yêu:

Một chiếc cầu nổi bắc qua sông và xe chở hàng, xe tải và đàn ông, đàn bà và trẻ con

đang vượt qua. Mấy chiếc xe lừa chở hàng lắc lư trườn lên dốc khi qua khỏi cầu có binh lính

bắt tay vào căm xe phụ đẩy hộ… Những người nông dân lê chân trong bụi đất ngập đến mắt

cá. Nhưng ông lão vẫn ngồi đấy, không nhúc nhích. Lão quá mệt mỏi, không thể nào đi tiếp

(Ông lão bên cầu ) [53, tr.112].

Đó là một bức tranh khá ấn tượng về cảnh di tản. Nhân vật chính là những người già, phụ

nữ, trẻ con. Một hình ảnh chân thực của chiến tranh được E. Hemingway miêu tả tài tình. E.

Hemingway không miêu tả tiếng than khóc của những người già, phụ nữ, trẻ con nhưng nỗi

đau, nỗi bất hạnh của chiến tranh gây ra cứ lồ lộ trước mắt. Nó như một nhân chứng sống cho

tất cả những gì tàn bạo, độc ác mà chiến tranh gây ra cho con người. Bức tranh trên như một

biểu tượng của sự tàn bạo của chiến tranh.

Đặc biệt, trong đoàn người di tản ở trên, các nhân vật nữ được

Hemingway miêu tả rất ấn tượng. Hình ảnh những bà mẹ bế xác hài nhi suốt sáu ngày và những

bà già nằm chết cứng trên cảng Smyrna thật sự gây xúc động mạnh mẽ cho người đọc. Trong

lịch sử nhân loại từ xưa đến nay, người phụ nữ là hiện thân tuyệt vời cho những người không

muốn tham chiến, họ ở nhà và chịu đựng những hậu quả của chiến tranh. Người phụ nữ chờ đợi

một cách thụ động sự chấm dứt chiến tranh. Chính vì vậy mà hình ảnh của người phụ nữ trong

văn học chiến tranh được quan tâm đặc biệt và đã để lại những cảm xúc mạnh mẽ. Và truyện

ngắn chiến tranh của E. Hemingway cũng không nằm ngoại lệ đó. Nhân vật phụ nữ trở thành

hình tượng nghệ thuật tiêu biểu trong truyện ngắn chiến tranh của Hemingway.

Nói chung, hình ảnh đoàn người di tản trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway

đặt vấn đề về thân phận của người dân vô tội nói riêng và con người nói chung trong chiến

tranh. Đó là thân phận nhỏ nhoi, mỏng manh, phù du dễ vỡ và luôn ám ảnh. Ximonov đã rất

công bằng khi đánh giá: “Nếu nền văn học tiến bộ gắn liền với sự kiện Tây Ban Nha là bất tử

thì những gì Hemingway đã viết về cuộc chiến tranh này là một bộ phận làm nên sự bất tử đó.”

(Mendelson. M. American kya satericheskya proza dvadtsatogo veka. Nauka Pub. Moscow

1972.)

3. 2. 4. Nhân vật xác chết

Gọi là nhân vật xác chết bởi vì các xác chết được Hemingway miêu tả như là một nhân

vật thực thụ. Mỗi xác chết là mỗi cái tên, mỗi số phận, mỗi cuộc đời. Chúng có chân dung, có

tiếng nói, có tính cách cụ thể như bao nhân vật khác. Có thể coi xác chết trong truyện ngắn của

E. Hemingway là một nhân vật. Chúng được biểu hiện qua đủ cái chết, đủ kiểu chết, đủ cách

chết trên khắp chiến trường, cánh đồng, nhà kho, đường phố… Đó là xác hài nhi, xác lính, xác

phụ nữ, xác các cụ già… Cái chết của những đứa trẻ và người già trên bến cảng Smyrna, cái

chết vô nghĩa của anh lính trở về Pedro, cái chết không thể tránh khỏi của các du kích Enrique,

cái chết báo trước của những người lính trong Tố giác …

Có thể nói, bài học đầu tiên của Hemingway về chiến tranh là sự tàn bạo của nó. E.

Hemingway đặt chân đến khắp các nơi đổ nát, chết chóc và nó đã để lại cho ông những ấn

tượng mạnh mẽ. Và cũng từ đó, hình ảnh xác chết xuất hiện khá nhiều trong truyện ngắn chiến

tranh của ông. Trong in our time có 18 chương thì đã có 13 chương nói đến cái chết, trong đó

cái chết do chiến tranh là 11. Cái chết xuất hiện trong các truyện như: Trên bến tàu ở Smyrna,

Chương 4, Chẳng có ai chết, Bob White, Con bướm và cỗ xe tăng, Điểm đen chỗ giao lộ,

Cảnh vật muôn màu…

Những cái chết thê thảm, đủ kiểu là nỗi ám ảnh của tác giả. Những xác chết ngổn ngang

lẫn trong đống gạch đá bị bom đạn phá hủy: “Hai người Áo nằm chết trong ngổn ngang gạch

đá chỗ bóng ngã của ngôi nhà. Trên phía đường là một người chết khác.” (Chương 7) [53,

tr.14]. Những cái chết thật thương tâm và số phận con người thật nhỏ bé, rẻ rúng.

Trong Cảnh vật muôn màu, xác chết được chú ý: “Một số tên khác nằm lại trên mặt đất

mà không bao giờ đứng dậy nữa. Họ nằm rải rác trên khắp sườn đồi… Và các thương vong đặt

trong các bọc gói của trận tiến công vừa rồi nằm rải rác trên một gò đất màu xanh” [96,

tr.676]. Những hình ảnh này tạo thành một bức tranh tối màu đầy sự chết chóc đáng nguyền rủa

của chiến tranh.

Trong truyện Con đường bạn sẽ chẳng hề theo, xác chết tập thể trên chiến trường được

miêu tả thật thê thảm: “Họ nằm một mình hoặc chụm lại trong vạt cỏ dại hay dọc theo con

đường, túi bị lộn ra ngoài, ruồi bâu dày đặc, xung quanh mỗi cái xác hoặc đống xác, là cả mớ

giấy tờ vương vãi… Xác người chết trong tư thế kỳ quặc và quanh họ, trên cỏ, có nhiều loại

giấy má đặc biệt hơn” [52, tr.307]. Xác chết đã bị lột trần, giày xéo, lật tung lên để cướp sạch

những gì còn sót lại trước khi làm mồi cho ruồi nhặng. Xác chết bây giờ trở thành thứ rác mạt

hạng. Xác chết lại bị chết một lần nữa. Hình ảnh này làm cho người có lương tri chợt rùng mình

vì sự tàn bạo, dã man của chiến tranh. Chiến tranh đã biến những gã độc ác trở nên tàn bạo hơn.

Trong chiến tranh, con người đã biến thành dã thú, một loài thú ăn xác đồng loại như lũ sói, lũ

linh cẩu. Hình ảnh những xác chết bị lật tung để moi các thứ còn sót lại của nạn nhân làm

chúng ta liên tưởng đến đến lũ kênh kênh ăn xác thối. Đó là sự tồi tệ và man rợ nhất của loài

người trong chiến tranh.

Cuộc chiến càng khốc liệt thì xác chết càng nhiều. Xác chết khắp mọi nơi: đường phố,

giao thông hào bờ rào, quán cà phê… Những cái xác vô hồn ấy vẫn được quan tâm đặc biệt và

phân loại bằng cách nhìn vào cái túi dày mỏng của xác chết ấy:

Đấy là những cái xác mới và người ta chẳng quan tâm tới bất kì thứ gì ngoài túi của

chúng. Xác của quân ta, hoặc giả anh nghĩ khác đi thì vẫn cứ là xác của quân ta, Nick chú ý, là

rất ít. Áo khoác của họ cũng bị lột ra, túi họ cũng bị lộn ra và tư thế nằm chết của họ cho thấy

cách thức và kĩ xảo của cuộc tấn công. Thời tiết nóng đã làm tất thảy bọn họ trương phình

lên

bấp chấp cả quốc tịch… (Con đường bạn sẽ chẳng hề theo) [52, tr.308]

E. Hemingway đã dùng từ HỌ (they) để chỉ các xác chết. Xác chết

như là một nhân vật sống động. Không sống động sao được vì đủ loại xác chết quân ta, xác chết

quân địch, xác chết cũ, xác chết mới, xác chết nằm đủ tư thế, hình hài. Mỗi một xác chết đồng

nghĩa với một nỗi đau, nỗi mất mát của con người do chiến tranh gây nên.

Hình ảnh xác chết thực sự trở thành hình tượng nghệ thuật trong truyện ngắn chiến tranh

E. Hemingway và nó góp phần thể hiện thành công của E. Hemingway trong việc miêu tả sự

tàn bạo của chiến tranh. Qua đó, ông nhận thức được sự ghê tởm của chiến tranh, cách mà chiến

tranh đã bóp méo cuộc sống con người. Từ đó ông chia sẻ nỗi đau, nỗi bất hạnh của con người.

Ông muốn mọi người hiểu rằng: Chiến tranh đã biến những người phụ nữ thành góa phụ, những

ruộng đồng thành đất khô trơ cỏ cháy và biến những sinh linh vô tội thành những xác chết thê

thảm: “… rất hiếm hay không có người Áo nào chết trong tư thế nằm ngửa trên con đường. Chỉ

có ba xác chết trên đường và chúng bị bắn hạ lúc đang chạy.” (Con đường bạn sẽ chẳng hề

theo) [52, tr.308]. Cái chết là mẫu số chung cho tất cả: bất ngờ, vô lí và tàn bạo của chiến tranh.

E. Hemingway đã dành một truyện ngắn để nói cặn kẽ về cái chết và các xác chết: Lịch

sử tự nhiên của cái chết. E. Hemingway so sánh cái chết của loài vật và người:

Nhiều kẻ chết rất nhanh bởi những vết thương nhỏ mà bạn nghĩ rằng đến con thỏ cũng

không chết… Những kẻ khác thì chết như mèo, sọ bị xuyên thủng, mảnh đạn găm vào não, họ

ngắc ngoải đúng hai ngày giống như lũ mèo lúc lần vào thùng than với một viên đạn trong đầu

và không chết cho đến khi bạn cắt đầu chúng. [52, tr.281]

Khi miêu tả những hình ảnh này có lẽ E. Hemingway không cố ý gây sốc cho người đọc

mà có thể là cách thể hiện cảm xúc của ông khi chứng kiến những cái chết như thế. Sau này,

Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh cũng miêu tả cái chết

và xác chết rất rùng rợn nhưng cũng không thể gây ấn tượng và ám ảnh như truyện ngắn trên

của E. Hemingway.

Đặc biệt E. Hemingway quan tâm nhiều đến những xác chết nữ giới: “Đề cập đến giới

tính của cái chết thì còn có điều này, con người ta quen nhìn thấy tất cả cái chết là của đàn ông

còn khi thấy xác chết của phụ nữ thì lại sửng sốt” [52, tr.279]. E. Hemingway thường dành

những tình cảm ưu ái cho nhân vật nữ trong các tác phẩm của ông, mặc dù nhân vật nữ trong

tác phẩm của E. Hemingway không nhiều. Có lẽ vì thế mà những xác chết nữ gây sửng sốt và

làm ông xúc động nhất.

Chưa hết, E. Hemingway còn chú ý đến màu da, quốc tịch của xác chết:

Kể cho đến khi người chết được chôn cất thì hình hài chúng mỗi ngày một thay đổi. Sắc

da của các tộc người Cáp-ca từ trắng chuyển sang vàng, đến xanh vàng rồi đen kịt. Nếu bị để

lâu dưới cái nóng thì da thịt chuyển sang dạng giống hệt nhựa than đá; đặc biệt là ở những chỗ

bắn nát hay bị gãy vụn thì chúng phát ngũ sắc hệt như than đá. Xác chết trương lên hàng ngày

mãi cho đến khi thỉnh thoảng chúng trở nên chật chội trong bộ quân phục, cứ nén chặt cho đến

khi sắp nổ tung. [52, tr.280]

E. Hemingway miêu tả các xác chết một cách khách quan, không phân biệt phe phái,

quốc tịch. Có lẽ ông cho rằng họ điều là nạn nhân của chiến tranh. Đối với ông, hình ảnh người

lính hầu như không phân biệt chiến tuyến. Do đó khi miêu tả các xác chết, E. Hemingway càng

không phân biệt phe phái, màu da hoặc quốc tịch của xác chết mà tất cả là nạn nhân của chiến

tranh, là nỗi đau chung nhất về nỗi đau của nhân loại, nỗi đau của con người phải sống trong

chiến tranh và bị chiến tranh tàn phá, hủy diệt. Hơn thế, E. Hemingway còn miêu tả cặn kẽ

những xác chết thối rửa, chuyển màu, phân hủy… Phải chăng E. Hemingway cho chúng ta thấy

rằng số phận của con người trong chiến tranh thật mong manh và tất cả những cuộc chiến tranh

đều vô nhân đạo, tàn bạo, bẩn thỉu và đáng nguyền rủa.

Nếu như những xác chết tập thể được miêu tả khái quát như một bức tranh toàn cục thì

những xác chết riêng lẻ có thể là cận cảnh của bức tranh ấy: “Những xác chết riêng lẻ có thể

trương phình đến một kích cỡ to lớn không thể nào tin được còn những khuôn mặt thì căng

phồng tròn vành vạnh như mấy quả bóng” [52, tr.280]. Dù là xác chết tập thể hay riêng lẻ

nhưng đều cùng một kiểu: xác chết của những cái chết thê thảm nhất, tồi tệ nhất và vô nhân đạo

nhất. Những hình thù dị dạng của các xác chết được hình dung như bộ mặt loang lổ của cuộc

chiến tàn bạo. Đó là hình ảnh ấn tượng nhất để tố cáo chiến tranh: con người đã chém giết, hủy

diệt nhau đến mức tồi tệ nhất.

E. Hemingway còn phân biệt xác chết bị nổ kho đạn với xác chết bị giã thẳng cánh: “Tôi

nhớ sau khi gom hết tử thi còn nguyên vẹn, chúng tôi bắt đầu nhặt nhạnh các mảnh vụn. Nhiều

mảnh bám trên hàng rào dây thép gai dày bao xung quanh xưởng, từ những mẩu thịt bất động

ấy chúng tôi có thể kéo lên cả chuỗi bầy nhầy…”, “bị giã thẳng cánh, họ chết như loài súc vật”

[52, tr.279].

E. Hemingway mô tả cái chết thật ấn tượng và tỉ mỉ. Đó là những bằng chứng về những

tội ác chiến tranh sinh động nhất. Những ngày làm việc ở nhà máy đạn gần Milan, ông phải chở

công nhân, mà chủ yếu là phụ nữ, nên ông chứng kiến tận mắt những cảnh thương tâm này. Đó

là lần đầu tiên ông chạm trán với cái chết và ông đã kinh sợ vô cùng. Sau này, một trong số họ,

Eric Doman-Smith, đã nói với ông một câu trích trong tác phẩm của Shapespear: “Bằng lòng

trung thành của tôi, tôi không sợ gì cả. Một người có thể không chỉ chết một lần, ai trong chúng

ta cũng nợ Thượng Đế một cái chết… và cứ để cho nó đến theo cách của nó, tôi chết vào năm

nay là kết thúc cho một khởi đầu tiếp theo…” [wikipedia.org/Ernest Hemingway]. Sau đó, E.

Hemingway đã trích câu nói trên vào một tác phẩm của mình.

Có khi, E. Hemingway miêu tả cái chết thật dửng dưng. Nhưng cách miêu tả dửng dưng

ấy làm ta thấy sự tàn bạo của chiến tranh:

Trong hang có một người đầu bị vỡ như lọ như kiểu một lọ hoa có thể vỡ và được dính

lại bằng mang nhầy và một lớp băng quấn rất kĩ thuật mà bây giờ đã thấm ướt và đông cứng,

bộ não bị nhiều mảnh xương sọ làm xây xát nhưng người ấy vẫn còn thoi thóp suốt một ngày,

một đêm rồi thêm một ngày nữa. [52, tr.283]

Cách miêu tả hài hước pha chút mỉa mai của E. Hemingway làm cho các xác chết cứ

như đùa cợt, trêu ngươi những kẻ đã gây ra hoặc tham gia chiến tranh. Hình ảnh xác chết lúc

này như một bức tranh không lời gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ. Những suy nghĩ về cuộc

chiến tranh đang đã diễn ra, đang diễn ra, sắp diễn ra và số phận con người trong cuộc chiến

tranh ấy.

Bên cạnh đó, E. Hemingway còn dùng những hình ảnh tượng trưng để khắc sâu thêm ý

nghĩa của xác chết. Trong Điểm đen chỗ giao lộ, E. Hemingway miêu tả những con bướm bên

cạnh vũng máu người vừa bị giết và ông đưa ra câu nhận xét tưởng chừng như vu vơ nhưng thật

mỉa mai và chua chát. “Những con ruồi, ruồi thường, ruồi xanh lớn bắt đầu bay đến chỗ xác

chết nằm dưới con mương. Có những con bướm màu vàng và những con bướm màu trắng bay

quanh những vệt máu bên cạnh xác chết đã bị tơi tả” [Phụ lục 3]. Hình ảnh những con bướm

bên cạnh các xác chết làm tăng sự ám ảnh về cái chết trong truyện ngắn chiến tranh của E.

Hemingway.

Nhìn chung, E. Hemingway đã đưa xác chết vào truyện ngắn của mình như một nhân vật

thực thụ. Các xác chết xuất hiện với tần suất cao và bút pháp đặc tả đã gây ấn tượng mạnh mẽ

cho người đọc. Đó là sự miêu tả chiến tranh một cách đặc biệt của E. Hemingway. Xác chết là

hình tượng cô đọng những sự bất hạnh của con người, là đỉnh cao của sự dã man của chiến

tranh đối với con người. E. Hemingway miêu tả cái chết bằng sự chứng kiến và trải nghiệm

chính mình. Ông cảm nhận cái chết bằng sự xúc động chân thực và mạnh mẽ của con người vừa

là nạn nhân vừa là nhân chứng của những cái chết thương tâm đó. Nhân vật xác chết như một

sự ám ảnh của một bi kịch cá nhân để phản ánh sự tàn bạo của chiến tranh. Khi đánh giá về cái

chết trong tác phẩm của E. Hemingway, những người Nga cho rằng: “Chiến tranh, trước hết đã

tác động lên tác giả: chiến tranh đã gợi lên tâm hồn Hemingway nỗi khủng hoảng lớn trước

việc đối đầu với cái chết.” (ý kiến của Nemerovskaya) [9, tr.71] và “Nỗi sợ cái chết là chìa

khoá cho toàn bộ quá trình sáng tạo, hình thành nhân cách cho toàn bộ hệ thống hình tượng và

phong cách của Hemingway” (ý kiến của Budnitskaya) [9, tr.74]. Còn đối với E. Hemingway,

xác chết là lời tố cáo đánh thép cuộc chiến tranh vô nhân đạo.

Qua nhân vật xác chết trong truyện ngắn chiến tranh, E. Hemingway cho chúng ta thấy

được khả năng luôn mới trong quá trình sáng tác của ông. Từ những xác chết vô hồn ông đã

cho ta nhiều suy ngẫm. Nhân vật xác chết của ông đã có tiếng nói, một tiếng nói đặc biệt của

nhân vật đặc biệt về chiến tranh và lẽ tồn sinh của con người. Thời gian trôi đi trong sự hữu hạn

của cuộc sống con người, nhưng trong sự tồn sinh mong manh ấy, tư tưởng E. Hemingway về

số phận, về con người, về định mệnh luôn bền vững. Nhân vật xác chết trong truyện ngắn chiến

tranh của E. Hemingway đã nói hộ cho ông điều đó.

Nói tóm lại, hầu hết các nhân vật trong các truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway

đều liên quan đến chiến tranh, dù trực tiếp hay gián tiếp đều bị ảnh hưởng của chiến tranh. Đó

là những người tham chiến, những người lính trở về, đoàn người di tản… Tựu trung, các nhân

vật đều là nạn nhân của chiến tranh ở nhiều mức độ, khía cạnh khác nhau: mất mát về thể xác,

tinh thần, niềm tin, tình yêu, tuổi trẻ… Vì vậy, nó có khả năng khái quát được bộ mặt của chiến

tranh cao nhất.

Trong truyện ngắn chiến tranh, E. Hemingway không miêu tả tường tận đầy đủ ngoại

hình, tính cách, nội tâm, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại… như các truyện ngắn khác. Nhân vật ở

đây không rõ nhân dạng, có vẻ mơ hồ và đơn điệu. Nhưng cách miêu tả của E. Hemingway rất

ấn tượng. Nó là một lát cắt, một nét chấm phá đặc biệt, tiêu biểu của nhân vật, làm cho nhân vật

đơn giản, cô đọng đến mức tối thiểu. Mọi hành động của nhân vật được ông tính toán kĩ càng

trong khi phản ánh. E. Hemingway mô tả hành động nhân vật bằng những câu văn ngắn, đơn

giản, không dùng tới tư tưởng của các nhân vật trong truyện. Ông chỉ cung cấp cách tiếp xúc

kinh nghiệm mà không đề cập đến quan điểm người viết. Độc giả được cung cấp cách tiếp xúc

với thực tế. Qua cách miêu tả nhân vật như vậy, E. Hemingway đã miêu tả tài tình cái thoáng

chốc, cái ánh chớp của chiến tranh, của tâm trạng, của số phận. Trong đó, những sự kiện bất

ngờ, những tai họa bất ngờ và những cái chết bất ngờ… làm cho số phận của nhân vật chiến

tranh trở nên mong manh, nhỏ nhoi như số kiếp định mệnh phù du, ngắn ngủi… Đây là lối viết

cũng như đặc điểm truyện ngắn E. Hemingway.

Nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway còn là lát cắt của cuộc đời tác

giả. E. Hemingway viết văn như một cách cảm khắc tạc lại cuộc đời mà mình trải qua và cảm

nhận. Hầu như các sáng tác của E. Hemingway đều mang bóng dáng cuộc đời của tác giả. Dấu

ấn của E. Hemingway truyện ngắn chiến tranh còn thể hiện qua nhân vật Nick Adam.

Hemingway đã mượn hình ảnh Nick để nói về cuộc đời của mình. Có thể coi Nick như nhân vật

tự thuật, nhân vật hóa thân của E. Hemingway. Nhân vật Nick đã nối những sự việc riêng lẻ ở

từng truyện mở ra tính liên truyện trong sáng tác E. Hemingway nói chung và truyện ngắn

chiến tranh E. Hemingway nói riêng. Vì vậy trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway,

nhân vật Nick đóng một vai trò quan trọng. Tuy nhiên trong truyện ngắn chiến tranh, E.

Hemingway đã nhìn nhân vật Nick bằng những kinh nghiệm của người từng trải qua chiến

tranh. Đó là những kỉ niệm, những kí ức xa xôi tuổi ấu thơ, tuổi thiếu niên của tác giả. Từ đó

ông đã nâng lên thành những vấn đề có sức ám ảnh trong kiếp sống hiện sinh của con người.

Người ta thấy ở E. Hemingway hai con người, một là mạo hiểm phiêu lưu, đi gần cõi

chết và con người thứ hai là nhà văn có biệt tài nhận xét, quan sát, nhạy cảm với lối sống xã

hội, viết ra các kinh nghiệm thành những câu chuyện, đồng thời phân tích tư tưởng của các

nhân vật. Đặc biệt những truyện ngắn chiến tranh dấu ấn tác giả thể hiện rõ rệt ở cách miêu tả,

quan sát và những trải nghiệm thực tế sôi động. Nếu E. Hemingway không trực tiếp tham gia và

chứng kiến hiện thực chiến tranh nóng bỏng thì ông không có khả năng miêu tả như vậy.

Với cuộc đời sôi động, đam mê và những kinh nghiệm quý báu trong chiến tranh, E.

Hemingway đã làm nhân vật của ông chân thực và sinh động như chính cuộc đời ông. Những

bài bút kí về cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha, về những người lái xe và thời gian Hemingway

trở lại châu Âu tham gia Chiến tranh thế giới II với tư cách là một phóng viên chiến trường,

một người lính đồng minh chống phát xít… là những bằng chứng sống để ông hóa thân vào

nhân vật.

Đặc biệt, hai mươi năm cuối đời của E. Hemingway chủ yếu sống ở Finca Vigía tại San

Francico de Paula-Cu Ba. Thời gian này, Hemingway không viết truyện hư cấu nữa mà chỉ nhớ

và ghi chép lại những sự việc trong đời sống của mình. Vì vậy, dữ liệu thực tế và thế giới

truyện ngắn của E. Hemingway không có một khoảng cách đáng kể. Các truyện đều có liên

quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc đời E. Hemingway. Có lẽ khi hóa thân thành nhân vật

trong truyện, Hemingway khái quát thế giới chiến tranh một cách hiệu quả hơn, người đọc sẽ

hiểu chiến tranh tường tận hơn từ sự trải nghiệm của chính tác giả. Hoặc E. Hemingway muốn

lấy quan điểm cá nhân để nói về thời đại, thời đại của thế hệ lạc lõng.

Có thể xem mỗi nhân vật trong truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway là một bi kịch

của chiến tranh. Tính bi kịch của nhân vật gắn liền với chủ nghĩa cá nhân đầy tinh thần chiến

đấu. Đó là con người với nhu cầu tự khẳng định mình như một cá nhân, con người cá nhân qua

những hiện tượng lạ, thói xấu, phức tạp, tiêu cực; con người cá nhân với những đặc điểm và

nhu cầu tự nhiên; con người cá nhân với nhu cầu được hưởng hạnh phúc nhưng đã bị chiến

tranh hủy diệt và họ rơi vào bi kịch.

PHẦN KẾT LUẬN

1-Qua khảo sát, chúng tôi thống kê được 102 truyện ngắn trong các ấn phẩm về truyện

ngắn của E. Hemingway. Và căn cứ vào đề tài, nội dung, chủ đề, tư tưởng, nhân vật, chúng tôi

thống kê được 41 truyện có những đặc điểm của truyện ngắn chiến tranh; chúng tôi gọi đây là

những truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway. Từ đó chúng tôi nhận định rằng Ernest

Hemingway có mảng truyện ngắn chiến tranh bên cạnh những tiểu thuyết chiến tranh của ông

như Mặt trời vẫn mọc, Giã từ vũ khí, Chuông nguyện hồn ai. Điều này được khẳng định thêm

khi phát hiện giữa truyện ngắn chiến tranh và tiểu thuyết chiến tranh của ông có một mối liên

hệ chặt chẽ, trong đó truyện ngắn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các tiểu thuyết

nói trên. Cùng với những phát hiện về truyện ngắn của E. Hemingway đã có, chúng tôi xem yếu

tố không gian chiến tranh và nhân vật chiến tranh là những điểm mấu chốt để tìm ra mối liên hệ

giữa truyện ngắn chiến tranh và tiểu thuyết chiến tranh của E. Hemingway. Và đó cũng là cơ sở

chủ yếu để nhận diện truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway.

2-Truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway có những đặc điểm riêng biệt về hình

thức, nội dung và cách thể hiện… Song trong phạm vi một luận văn, chúng tôi chỉ trình bày

được hai yếu tố quan trọng để nhận diện truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway. Đó là

không gian chiến tranh và nhân vật chiến tranh. Chúng tôi cũng tạm thời chia không gian thành

các kiểu:

Không gian tàn phá, hủy diệt, chết chóc; Không gian rút lui, di tản, Không gian trú ẩn và

nhân vật cũng thành các kiểu: Những người tham chiến, Những người lính trở về, Đoàn người

di tản, Nhân vật xác chết. Những yếu tố không gian và nhân vật này có thể chưa phản ánh hết

đặc điểm truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway nhưng đó là những cơ sở ban đầu và điểm

mấu chốt để nhận diện truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway.

3- Đi tìm đặc điểm của truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway cũng tức là tìm hiểu

ý nghĩa của mảng truyện này.

Qua truyện ngắn chiến tranh, E. Hemingway dựng lên nỗi hoảng loạn và sợ hãi của

những người tham chiến. Từ đó ông khái quát lên một phần hiện thực của người lính ở nhiều

khía cạnh khác nhau, số phận của người dân vô tội trong cuộc chiến để rút ra nhận xét trung

thực nhất về hiện thực chiến tranh và thân phận con người trong cuộc chiến ấy. Theo ông, chiến

tranh đã làm con người bị ám ảnh, hoảng loạn và chiến tranh là nỗi đau lớn nhất thời đại dư âm

của nó kéo dài, dai dẳng.

Điều đáng trân trọng là E. Hemingway viết về chiến tranh nhưng không theo chủ nghĩa

anh hùng hóa, thi vị hóa cuộc chiến hoặc ca ngợi chiến tranh. Khi nhận xét về tác phẩm của E.

Hemingway, những người Nga cho rằng: “Anh hùng ca thế kỉ XX không thể xây dựng được trên

chất liệu lấy từ chiến tranh đế quốc 1914 hoặc các cuộc chiến tương lai của những người sống

trong thê giới tư bản?” [9, tr.8]. Nói như vậy có lẽ chưa phản ánh đúng thái độ của E.

Hemingway khi viết về chiến tranh. Trong truyện ngắn chiến tranh, E. Hemingway luôn phản

ánh chân thực chiến tranh và biểu hiện thái độ thẳng thắn về những gì đã chứng kiến. Ông

không rơi vào trạng thái thù ghét chiến tranh và yêu hòa bình một cách cảm tính hay thiên vị.

Đó là một tư tưởng lớn viết về chiến tranh.

Điểm nổi bật của truyện ngắn chiến tranh của Hemingway là thái độ chống chiến tranh

quyết liệt của ông. Có thể coi đó là tư tưởng phản chiến của E. Hemingway. Phản chiến ở đây

là bày tỏ thái độ không tán thành chiến tranh, là sự đồng cảm, chia sẻ với những người đang

phải gánh chịu những nỗi đau, mất mát do chiến tranh gây nên. Đặc biệt, E. Hemingway đồng

cảm mà không đứng ngoài, đứng một bên mà ông đứng chung vị trí với những số phận, những

sinh linh trong cuộc chiến tàn bạo ấy. Qua đó, ông muốn nói lên niềm xúc động sâu xa đối với

thời thế, với hoàn cảnh tang thương của chiến tranh, với số phận con người trong chiến tranh

mong manh, nhỏ bé... Tư tưởng phản chiến của E. Hemingway thể hiện lương tâm và tinh thần

nhân đạo cao cả. Nó chỉ có trong trái tim những người giàu lòng yêu thương con người vô hạn.

Nó là ước mơ chân thật nhất của Hemingway và những người yêu hòa bình. Một ước mơ thật

đẹp: không có chiến tranh và hàng triệu triệu người không phải chết một cách vô lí, tức tưởi.

4-Với lối viết cực ngắn, cô đọng, ngôn ngữ điện tín, các miêu tả nhân vật chấm phá độc

đáo, E. Hemingway đã tạo một diện mạo riêng cho truyện ngắn chiến tranh: ngắn gọn, súc tích,

hàm ý cao. Ở nhiều truyện, tác giả không trực tiếp mô tả chiến tranh, mô tả sự ác liệt và kinh

khủng của chiến tranh nhưng chiến tranh vẫn hiện lên sâu đậm làm cho người ta sợ hãi và ám

ảnh. Với đặc điểm ấy, E. Hemingway đã góp phần tố cáo chiến tranh tàn bạo, dã man, vô nghĩa,

phi lí của chiến tranh đế quốc. Thái độ phản chiến và tinh thần tố cáo chiến tranh của E.

Hemingway cũng là biểu hiện khát vọng hòa bình, tình yêu nhân loại, niềm tin vào cuộc đời.

Chiến tranh đối với E. Hemingway là một biểu tượng mạnh mẽ. Qua đó nhà văn đã nhìn

thấy một thế giới đầy tàn bạo, dã man, phi lí, vô nghĩa… do chiến tranh gây nên. Và để vượt

qua thế giới ấy, con người phải hành động bằng danh dự, can đảm, chịu đựng, phẩm cách và

toàn bộ các nguyên tắc này được gọi là quy luật của Hemingway” (the Hemingway code).

Chính vì vậy mà truyện ngắn chiến tranh Hemingway mang ý nghĩa rất lớn lao.

5-Truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway chỉ là hiện thực một thời nhưng hẳn sẽ là

bài học cho cả quãng đời còn lại trong cuộc tồn sinh của nhân loại. Nó đem lại cho người đọc

một chỗ dựa vững chắc. Đó là cội nguồn nhân văn, tinh thần yêu hòa bình cao cả, làm cho

chúng ta có thái độ cự tuyệt mạnh mẽ đối với chiến tranh và yêu nhân loại. Đặc biệt trong thời

đại nhiều bất trắc như hôm nay, chiến tranh, bạo lực có thể xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào

và đối với bất cứ ai thì truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway vẫn còn là thông điệp giàu ý

nghĩa và mang tính thời sự nhất.

Qua nghiên cứu truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway, chúng ta có cách cảm nhận

mới, cách đánh giá khách quan về truyện ngắn, tiểu thuyết chiến tranh nói chung. Nhất là

truyện ngắn và tiểu thuyết chiến tranh Việt Nam hiện nay.

Để khép lại luận văn này, chúng tôi xin mượn lời phát biểu của giáo sư Nadine Gordimer

trong hội thảo kỉ niệm 100 năm ngày sinh E. Hemingway do thư viện Kennedy tổ chức ngày

10&11 tháng 4 năm 1999:

Tôi không quan tâm những gì Hemingway đã làm hay không làm

trong cuộc đời riêng của ông ấy, cá nhân ông ấy, ngoài sự dũng cảm của ông ấy trong chiến

tranh. Hãy tách riêng cuộc đời ông ấy. Nó sẽ tồn tại như ông ta đã sống. Hãy đọc sách của ông

ấy. Chúng là ánh sáng đặc biệt của sự tồn tại của chúng ta, món quà của ông ấy cho chúng ta

sẽ tất cả.

KIẾN NGHỊ

1/ Nên tuyển chọn các truyện ngắn chiến tranh của E. Hemingway và in thành tập Truyện

ngắn chiến tranh của E. Hemingway.

2/ Tiếp tục nghiên cứu mảng truyện này ở các bình diện khác như: ngôn ngữ, kết cấu,

hiện thực… để khái quát đầy đủ đặc điểm truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1-TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

[1] Tạ Duy Anh (1999-chủ biên), Nghệ thuật truyện ngắn và kí, NXB

Thanh niên, Hà Nội.

[2]

Ander, Osterrling (Thư kí thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển, 1954), Tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển (Tân Đôn dịch, Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính), từ Internet.

[3] Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học

quốc gia Hà Nội.

[4] Bakhtin, M. M (1993), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh

Cư dịch), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.

[5]

Bakhtin, M. M (1992), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiépxki (Trần Đình Sử-Lại Nguyên Ân-Vương Trí Nhàn dịch), NXB

Giáo dục Hà Nội.

[6] Baker, P. Christoppher (1996), “Ám ảnh bởi Hemingway”, Báo

Văn nghệ tre, (Số 10).

[7]

[8] Lê Huy Bắc (1995), “Thế giới nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết Hemingway”, Tạp chí Văn học , (Số 8), tr. 71-74. Lê Huy Bắc (1996), “Đồng hiện trong Văn xuôi”, Tạp chí Văn

học, (Số 6), 1996.

[9] Lê Huy Bắc (1996), “Người Nga đánh giá Hemingway”, BáoVăn

nghệ trẻ, (Số 28), tr.8.

[10] Lê Huy Bắc (1996), “Joyce, Faulkner, Hemingway và ngôn từ

dòng ý thức”, Báo Văn nghệ trẻ, (Số 11).

[11] Lê Huy Bắc (1997), “Đối thoại và độc thoại nội tâm của

Hemingway”, Tạp chí Văn học, (Số 7), tr. 57-64.

[12] Lê Huy Bắc (1997), “Truyện ngắn Mỹ hiện đại”, Tạp chí Văn học

nước ngoài, (Số 1), tr. 5-9.

[13] Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp

chí Văn học , (Số 9).

[14] Lê Huy Bắc (1998), Kiểu nhân vật trung tâm trong tác phẩm của

Hemingway, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Hà Nội.

[15] Lê Huy Bắc (1999), Hemingway và những phương trời nghệ

thuật, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.

[16] Lê Huy Bắc (Tuyển chọn-2001), Ernest Hemingway Núi băng và

Hiệp sĩ, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[17] Lê Huy Bắc (sưu tầm và giới thiệu-2002), Phê bình và lý luận văn

học Anh-My, 2 tập, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[18] Lê Huy Bắc (2002), “Truyện ngắn Mỹ hậu hiện đại”, Tạp chí Văn

học, (Số 9), tr. 57-68.

[19] Boyd, William (2007), Lược sử truyện ngắn (Hà Linh dịch),

Internet.

[20] Nguyễn Minh Châu (1970), Những vùng trời khác nhau, Tập 2,

NXB Văn học, Hà Nội.

[21] Đào Ngọc Chương (1997), “Về nguyên lý tảng băng trôi của E.

Hemingway”, Tập san KHXH và NVQG Tp. Hồ Chí Minh ,

(Số 2).

[22] Đào Ngọc Chương (2003), Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của

Ernest Hemingway, NXB Đại học quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh.

[23] Đào Ngọc Chương (1999), “Tác phẩm Trong thời đại của

chúng ta của E. Hemingway và vấn đề thể loại”, Tập san Bình

luận văn học, NXB KHXH, Tp. Hồ Chí Minh, (Số 2).

[24] Đào Ngọc Chương (2000), “Truyện ngắn Mỹ hiện đại”, Tuyển

tập thơ-văn chương-nghiên cứu phê bình Văn chương, NXB

Thanh niên, Tp. Hồ Chí Minh, (Số 2).

[25] Đào Ngọc Chương, “Hiện tượng đối thoại trong sáng tác của

Ernest Hemingway”, Mục Tập san, http://www.hcmussh.edu.vn.

[26] Đào Ngọc Chương, “Về nguyên lí tảng băng trôi của Ernest

Hemingway”, Mục Tập san, http://www.hcmussh.edu.vn.

[27] Lê Đình Cúc (1983), “Bi kịch của Hemingway”, Tạp chí Văn học,

(Số 6).

[28] Lê Đình Cúc (1985), “Nghệ thuật tiểu thuyết Ernest

Hemingway”, Tạp chí Văn học, (Số 2).

[29] Lê Đình Cúc (1985), Tiểu thuyết về chiến tranh của Hemingway,

Luận án phó tiến sĩ, Hà Nội, 1985.

Lê Đình Cúc (1997), “Hemingway và những tác phẩm tiêu biểu [30]

của ông”, Tạp chí Văn học, (Số 6).

[31] Lê Đình Cúc, Tiểu thuyết của Hemingway, NXB Khoa học Xã

hội, Hà Nội, 1999.

[32] Lê Đình Cúc (2002), “Văn học Mỹ thử nhận diện”, Tạp chí Văn

học, (Số 4), tr.52-57.

[33] Đinh Xuân Dũng (2003), Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn

học, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội.

[34] Nguyễn Đức Đàn (1996), Hành trình văn học Mỹ, NXB Văn học,

Hà Nội.

[35] Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương

Tây hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[36] Đặng Anh Đào (Viết chung-1997), Văn học phương Tây, NXB

Giáo dục, Hà Nội, tr.701-730.

[37] Trần Thanh Địch (1988), Tìm hiểu truyện ngắn, NXB Tác phẩm

mới, Hà Nội.

[38] Phan Quang Định (1997), Cuộc đời sôi động đam mê của

Hemingway, NXB Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh.

[39] Hà Minh Đức (chủ biên-2002), Lý luận văn học, NXB Giáo dục,

Hà Nội.

[40] Lê Bá Hán-Trần Đình Sử-Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên-

2006), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[41] Bùi Thị Kim Hạnh (2002), Hemingway ở Việt Nam, Luận án tiến

sĩ ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

[42] Hansen, Arlen J. (1998), Lược sử truyện ngắn, mục từ Short

Story, chương The Art of Literature, Encyclopaedia, tập 23,

tr.138-143.

[43] Hoàng Ngọc Hiến (1986), Năm bài giảng về thể loại, Trường viết

văn Nguyễn Du, Hà Nội.

[44] Bùi Hiển (1987), Tuyển tập Bùi Hiển, Tập 2, NXB Văn học, Hà

Nội.

[45] Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện,

NXB Giáo dục, Hà Nội.

[46] L ại Văn Hùng (2001), Truyện ngắn nhìn trong nguồn mạch, Tạp

chí Văn học, (Số 2), tr. 66-76.

[47] Nguyễn Tuấn Khanh (1986), “Hemingway nhà văn, nhà báo bậc

thầy về chiến tranh đế quốc”, Báo Quân đội nhân dân.

[48] Hemingway, E. (2003), Mặt trời vẫn mọc, Bùi Phụng dịch, NXB

Văn hoá thông tin, Hà Nội.

[49] Hemingway, E. (2005), Chuông nguyện hồn ai, Nguyễn Vĩnh, Hồ

Thể Tần dịch, NXB Văn học, Hà Nội.

[50] Hemingway, E.(2004), Giã từ vũ khí, Giang Hà Vị dịch, NXB

Văn học, Hà Nội.

[51] Hemingway, E. (1999), Tác phẩm Ernest Hemingway, truyện

ngắn và tiểu thuyết, Lê Huy Bắc-Đào Thu Hằng dịch và giới

thiệu, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[52] Hemingway, E. (2004), Truyện ngắn, Lê Huy Bắc chủ biên và

giới thiệu, NXB Văn học, Hà Nội.

[53] Hemingway, E. (2001), Truyện cực ngắn của Hemingway, Đào

Ngọc Chương-Nguyễn Thị Huyền Linh dịch, NXB Văn nghệ

Tp. Hồ Chí Minh.

[54] Nguyễn Thị Khánh (chủ biên-1997), Văn học Mỹ quá khứ và hiện

tại, Viện thông tin Khoa học Xã hội-Trung tâm Khoa học Xã

hội và Nhân văn quốc gia, Hà Nội.

[55] Khravchenko M. (1978), Cá tính sáng tạo nhà văn và sự phát

triển văn học, Lê Sơn-Nguyễn Minh dịch, NXB Tác phẩm

mới, Hà Nội.

[56] Kundera, K. (1998), Nghệ thuật tiểu thuyết, Nguyên Ngọc dịch,

NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.

[57] Phùng Ngọc Kiếm (1998), Con người trong truyện ngắn Việt Nam

1945-1975, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.

[58] Tô Phương Lan (1980), “Tiểu thuyết về chiến tranh viết sau

1975”, Tạp chí Văn học, (Số 5).

[59] Phạm Gia Lâm (1995), “Tiểu thuyết chiến tranh Nga Xô-viết hiện

đại: Những vấn đề thi pháp của thể loại”, Tạp chí Văn học,

(Số 11), tr.37-40.

Huy Liên (1997), “Tìm hiểu phong cách nghệ thuật qua các truyện [60]

ngắn của Ernest Hemingway”, Tạp chí Văn học, (Số3).

[61] Nguyễn Thành Long (1972), Giữa trong xanh, Tập 2, NXB Văn

học, Hà Nội.

[62] Phương Lựu (1985), Tìm hiểu lý luận phương Tây hiện đại, NXB

Văn học, Hà Nội.

[63] Nguyễn Đức Nam (1986), Văn học phương Tây hiện đại, Tập 2,

NXB Giáo dục, Hà Nội.

[64] Nguyễn Đức Nam (chủ biên, 1985), Truyện ngắn Việt Nam 1945-

1985, Tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[65] Vũ Thị Tố Nga (2006), “Khả năng của truyện ngắn trong việc thể

hiện con người”, Tạp chí Văn học (Số 5)

[66] H ữu Ngọc (1995), Hồ sơ văn hoá Mỹ, NXB Thế giới, Hà Nội.

[67] V ương Trí Nhàn (1986), (Lời giới thiệu) Hạnh phúc ngắn ngủi

của Mác- Côm- bơ , NXB Tác phẩm mới, Hà Nội.

[68] V ương Trí Nhàn (1986), “Bắt đầu từ chỗ đứng của một người

lính”, Tạp chí Văn nghệ quân đội, (Số 7).

[69] V ương Trí Nhàn (Sưu tầm, biên soạn, dịch-2001), Sổ tay truyện

ngắn, NXB Tp. Hồ Chí Minh.

[70] Hoàng Nhân (1989), Ba nhà văn hiện đại, NXB Trẻ Tp. Hồ Chí

Minh.

[71] Pôxpêlôp, G. N (1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, NXB Giáo

dục.

[72] L ưu Quỳnh (1963), “Bút pháp của nhà văn Hemingway”, Tạp chí

Văn học, (Số 163).

[73] Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà

Nội.

[74] Trần Đình Sử (2003), Thi pháp Truyện Kiều, NXB Giáo dục, Hà

Nội.

[75] Trần Đình Sử (2005), Tuyển tập, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[76] Bùi Việt Thắng (1999) - Bình luận truyện ngắn, NXB Văn học,

Hà Nội.

[77] Hoàng Thị Thập (1996), Nguyên lý tảng băng trôi và thực tiễn

sáng tác của Hemingway, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội.

[78] Trần Thị Thuận (1994), “Nghệ thuật xây dựng truyện ngắn của

Hemingway”, Kỉ yếu Khoa học trẻ, NXB ĐHTH Tp. Hồ Chí

Minh.

[79] Trần Thị Thuận (1999), “Hình tượng người hùng trong thế giới

truyện ngắn Hemingway”, Tạp san Bình luận văn học-Hội

nghiên cứu và giảng dạy Tp. Hồ Chí Minh, NXB Khoa học

Xã hội.

[80] Trần Thị Thuận (2000), “in our time, những nét phác thảo của

một phong cách nghệ thuật”, Tạp chí Văn học, (Số 3).

[81] Trần Thị Thuận (2000), Đặc trưng thể loại truyện ngắn qua

truyện ngắn của Hemingway, Luận án tiến sĩ, ĐHKHXH và

NV Tp. Hồ Chí Minh.

[82] Đinh Từ Bích Thuý (ngày 22/01/2007), Giới thiệu truyện thình

lình (Sudden Fiction), internet.

[83] Lê Ngọc Trà (1990), Lý luận và văn học, NXB Trẻ Tp. Hồ Chí

Minh.

[84] Hoàng Trinh (1971), Phương Tây văn học và con người, 2 tập,

NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

[85] Phan Công Thiện (1961), “Ernest Hemingway”, Tạp chí Mai, (Số

28).

[86] Nguyễn Đăng Vũ (1986), Ngôn từ người kể chuyện trong Giã từ

vũ khí của Ernest Hemingway, Luận văn sau đại học, Hà Nội.

[87] Young, P. (1965), “Thế giới của Hemingway “(Lê Bá Công dịch),

Tạp chí Văn, (Số 41).

2-TÀI LIỆU TIẾNG ANH

[88] Ahnebrink, Lars (1965), Hemingway in Sweden, The Library

Reputation of Hemingway in Europe, M. J Minard Lettres

Modernes, Paris, p.151-164.

[89] Arthur, Waldhorn (1972), A Reader’s Guide to Ernest

Hemingway, Farrar, Straus, and Gironx, New York.

[90] Anthony, Burgess (1978), Ernest Hemingway and His World,

Charles Sribner’s sons, New York.

[91] Cowley, Malcolm (1961), (Introduction), Tender is the Night, F.

Scott Fitzgerald, Penguin Books, Great Britain.

[92] Cowley, Malcolm, Nightmate and Ritual in Hemingway,

Hemingway, A Collection of Critical Essay, p.40-51.

[93] Edel, Leon, The Art of Evasion, Folio XX, Sprring, 1955, p.20.

[94] Einkeshchein. I (1971), Introduction, Selected Stories by Ernest

Hemingway, Progress Publishers, Mosscow.

[95] Hemingway, E. (1925), in our time, Charles Sribner’s, New York,

Copyright.

[96] Hemingway, E. (1987), The Complete Short Stories of Ernest

Hemingway, Charles Scribner’s Sons, New York.

[97] Hemingway, E. (1995), The Collected Short Stories, The

Millennium library.

[98] Hemingway, E. (1995), E. Hemingway: The Collected Stories,

James Fenton, Everyman’s Library, United Kingdom.

[99] Jonsson, Thorten (1942), 6 Amerikaner, Hemingway, Faulkner,

Steinbeck, Caldwell, Farrell, Saroyanan. 172 sidor.

[100] Kashkeen, Ivan (1956), “Alive in the Midst of Death: Ernest

Hemingway”, Soviet Literature (No 7), p.160-172.

[101] Killinger, Jonh (1965), Hemingway and Dead Gods, Citated Press,

New York.

[102] Lukács, George (1990), The Theory of the Novel, The Mit Press

Cambridge, Massachusetts.

[103] Lewis, Wyndham, The Dumb Ox in Love and War, Twentieth

Century Interpretations of A Farewell to Arms, Jay Gellens,

Prentice-Hall, Inc, 1970, p.76.

[104] Mangum, Bryant (2008), (Introduction) Short Stories of Ernest

Hemingway, Virginia Commonwealth University, internet.

[105] O’Connor, W.V. (1965), Seven Modern American novelists, The

New American library, New York.

[106] O’ Faolain, Sean, Ernest Hemingway, the Vanishing Hero,

Atlantic Monthly Press, 1957, tr.112-145.

[107] Papajewski, Helmut, The Critical Reception of Hemingway’s

Works in Germany since 1920, The Literary Reputation of

Hemingway in Europe, p.75-88.

[108] D. S. R. Welland, Hemingway’s English Reputation, The Literary

Reputation of Hemingway in Europe, p.10-35.

[109] Wilson, Edmund (1941), Hemingway: Gauge of Moral, The

Would and the Bow, Oxford University Press, London, tr.214-

242.

[110] Young, Philip, The World, and An American Myth, Ernest

Hemingway, Eight Essays, Anchor Books, New York, 1954,

p.80-91.

[111] Young, Philip, Ernest Hemingway, Rinahart & Company, New

York, Toronto, 1952.

PHỤ LỤC 1

BẢNG THỐNG KÊ

TRUYỆN NGẮN CỦA ERNEST HEMINGWAY

Để tiện theo dõi, chúng tôi căn cứ vào cách sắp xếp của ấn phẩm Ernest Hemingway:

The Collected Stories [98], tuyển tập khá đầy đủ truyện ngắn của Hemingway và đối chiếu, so

sánh các ấn phẩm khác như in our time [95], The Complete Short Stories of Ernest

Hemingway [96], The Collected Short Stories [97]… để sắp xếp các truyện ngắn Hemingway.

Part One: Stories Collected in Hemingway's Lifetime

(Những truyện ngắn được xuất bản khi Hemingway còn sống)

From Three Stories and Ten Poems (1923)

(Những truyện ngắn trong Ba truyện ngắn và mười bài thơ -1923)

TT Tên tiếng Anh Nghĩa Tiếng Việt

From in our time (1924)

1 Up in Michigan (1923, revised 1938) Trên miệt Michigan

(Những truyện ngắn, chương trong Thời đại của chúng ta- 1924)

2 Chapter I-‘Everybody was ...’ (1924) Chương I

3 Chapter II-‘Minarets stuck...’ (1924) Chương II

4 Chapter III-‘We was in a ...’ (1924) Chương III

5 Chapter IV-‘It was a ...’ (1924) Chương IV

6 Charpter V-‘The Shot the ...’ (1924) Chương V

7 Chapter VI-‘Nick sat ...’ (1924) Chương VI

8 Chapter VII-‘While the ...’ (1924) Chương VII

9 Chapter VIII-‘At two ...’ (1924) Chương VIII

10 Chapter IX-(1924) Chương IX

11 Chapter X-(1924) Chương X

(A Very Short Story ) (Một truyện rất ngắn)

12 Chapter XI (1924) Chương XI

(The Revolutionist ) (Nhà cách mạng)

13 Chapter XII (1924) Chương XII

14 Chapter XIII (1924) Chương XIII

15 Chapter XIV (1924) Chương XIV

16 Chapter XV- (1924) Chương XV

17 Chapter XVI (1924) Chương XVI

18 Chapter XVII (1924) Chương XV

Chương XVIII (Đoạn kết) 19 Chapter XVIII -L’ Envoi

In Our Time (1925 and 1930)

(Những truyện ngắn trong Thời đại của chúng ta, 1925 và 1933)

20 On the Quai at Smyrna (1930) Trên cảng Smyrna

21 Indian Camp (1925) Trại người da đỏ

Bác sĩ và vợ bác sĩ 22 The Doctor and the Doctor's Wife

(1925)

23 The End of Something (1925) Kết thúc một vấn đề

24 The Three-Day Blow (1925) Cơn gió ba ngày

25 The Battler (1925) Đấu sĩ

26 Solider’s Home (1925) Nhà của lính

27 Mr. And Mrs. Elliot (1925) Chàng và nàng Eliot

28 Cat in the Rain (1925) Con mèo trong mưa

29 Out of Season (1925) Tàn mùa

30 Cross-Country Snow (1925) Trượt tuyết việt dã

31 My Old Man (1925) Ông già tôi

32 Big two-Hearted River, Part I(1925) Sông lớn hai lòng, phần I

33 Big two-Hearted River,Part II(1925) Sông lớn hai lòng, phần II

Men Without Women (1927)

(Những truyện ngắn trong Thế giới đàn ông không có đàn bà -1927)

34 The Undefeated (1936) Bất khả chiến bại

35 In Another Country (1927) Nơi xứ lạ

36 Hills Like White Elephants (1927) Rặng đồi tựa đàn voi trắng

37 The Killers (1927) Những kẻ giết người

38 Che Ti Dice La Patria? (1927) Tổ quốc nói gì với mày?

39 Fifty Grand (1927) Năm mươi ngàn dollar

40 A Simple Enquiry (1927) Cuộc thẩm vấn đơn giản

41 Ten Indians (1927) Mười người da đỏ

42 A Canary for One (1927) Chim bạch yến cho ai

43 An Alpine Idyll (1927) Câu chuyện tình thơ mộng

miền sơn cước

44 A Pursuit Race (1927) Một cuộc đua

45 Today is Friday (1927) Hôm nay là thứ sáu

46 Banal Story (1927) Chuyện phiếm

47 Now I Lay Me (1927) Bây giờ tôi nằm nghỉ

Winner Take Nothing (1933)

(Những truyện ngắn trong Chiến thắng hư vô -1933)

48 After the Storm (1932) Sau cơn bão

49 A Clean, Well-Lighted Place (1933) Nơi sạch sẽ và sáng sủa

50 The Light of the World (1933) Ánh sáng của thế giới

Chúa ban phước lành, Thưa 51 God Rest You Merry, Gentlemen

(1933) quý ông

52 The Sea Change (1933) Đổi thay lớn

53 A Way You'll Never Be (1933) Con đường bạn sẽ chẳng hề

theo

54 The Mother of a Queen (1933) Mẹ của gã pê-đê

55 One Reader Writes (1933) Một bạn đọc viết

56 Homage to Switzerland (1933) Thụy Sĩ tôn kính

57 A Day's Wait (1933) Một ngày chờ đợi

Lịch sử tự nhiên của cái chết 58 A Natural History of the Dead

(1932, 1933)

59 Wine of Wyoming (1930) Rượu Wyoming

Can bạc, bà xơ và radio 60 The Gambler, the Nun, and the

Radio (1933)

61 Fathers and Sons (1933) Cha và con

Stories from The Fifth Column and the First Forty-Nine Stories (1938)

(Những truyện ngắn trong Năm vở kịch và bốn mươi chín truyện ngắn)

Thủ đô của thế giới 62 The Capital of the World

Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro 63 The Snows of Kilimanjaro

Cuộc đời hạnh phúc ngắn 64 The Short Happy Life of Francis

Macomber (1936) ngủi của Francis Macomber

65 Old Man at the Bridge (1938) Ông lão bên cầu

Part Two: Stories and Fragments from Posthumous Collections

(Những truyện ngắn và những truyện chưa hoàn thành được xuất bản sau khi Hemingway

qua đời)

Uncollected Stories published in Hemingway's Lifetime

(Những truyện chưa truyển chọn xuất bản khi Hemingway còn sống)

66 The Denunciation (1938) Tố giác

67 Night Before Battle (1939) Đêm trước trận đánh

68 Under the Ridge (1939) Dưới mỏm đất

69 Nobody Ever Dies (1939) Không có ai chết

70 The Good Lion (1951) Con sư tử tốt bụng

71 The Faithful Bull (1951) Chú bò thủy chung

72 A Man of the World (1957) Con người của thế giới

73 Get a Seeing-Eyed Dog (1957) Là con chó dẫn đường

74 The Butterfly and the Tank (1938) Con bướm và cỗ xe tăng

Drafts and Fragments first published in The Nick Adams Stories (1972)

( Những bản thảo và những truyện chưa hoàn thành được xuất bản lần đầu tiên trong tuyển tập

Những câu chuyện về Nick Adam)

Ba phát súng 75 Three Shots

Những người da đỏ đi rồi 76 The Indians Moved Away

77 The Last Good Country (1972) Chỗ tốt lành cuối cùng

Vượt sông Mississippi 78 Crossing the Mississippi

Đêm trước đổ bộ 79 Night Before Landing

80 Summer People (1972) Người mùa hạ

Ngày cưới 81 Wedding Day

Đang viết 82 On Writing

First published in The Complete Short Stories (1987)

(Những truyện được xuất bản đầu tiên trong Tổng tập truyện ngắn -1987)

83 A Train Trip (1987) Chuyến du hành bằng xe lửa

84 The Porter (1987) Người phục vụ

85 Black Ass at the Crossroads (1987) Lỗ trôn đen chỗ giao lộ

86 Landscape with Figures (1987) Cảnh sắc muôn màu

Con nghĩ mọi thứ gợi lại cho 87 I Guess Everything Reminds You

of Something (1987) bố điều gì đó

Tin tốt lành đến từ đất liền 88 Great News from the Mainland

(1987)

89 The Strange Country (1987) Đất nước xa lạ

Juvenilia and Pre-Paris Stories

(Những truyện lúc còn trẻ và trước khi đến Paris của Hemingway )

90 Judgment of Manitou (1916) Sự phán xử của Mannitou

91 A Matter of Colour (1916) Chuyện màu sắc

92 Sepi Jingan (1916) Sepi Jingan

93 The Mercenaris (1985) Lính đánh thuê

94 Crossroads – an Anthology (1985) Giao lộ-Hợp tuyển

95 Portrait of the Idealist in Love (1985) Chân dung người yêu lý tưởng

96 The Ash Heel's Tendon (1985) Gót chân Asin

Ngoài ra, chúng tôi bổ sung thêm 05 truyện trong các ấn phẩm sau:

97 The Current (1985) Hiện tại

-The Complete Short Stories of Ernest Hemingway [96]

In The Garden of Eden

(trong Vườn Thiên đường)

-Truyện cực ngắn E. Hemingway [53]

Một chuyện châu Phi 98 An African Story

Bob White 99 Bob White

Billy GilBert 100 Billy GilBert

Ed Paige 101 Ed Paige

102 Lão Hurd và bà Hurd

Tổng cộng: 102 truyện.

PHỤ LỤC 2

BẢNG THỐNG KÊ

TRUYỆN NGẮN CHIẾN TRANH CỦA ERNEST HEMINGWAY

Từ 102 truyện ngắn ở Phụ lục số 1, chúng tôi chọn 41 truyện ngắn chiến tranh của E.

Hemingway.

Part One: Stories Collected in Hemingway's Lifetime

From in our time (1924)

TT Tiếng Anh Tiếng Việt

1 Chapter I-‘Everybody was ...’ (1924) Chương I

2 Chapter II-‘Minarets stuck ...’ (1924) Chương II

3 Chapter III-‘We was in a ...’ (1924) Chương III

4 Chapter IV-‘It was a ...’ (1924) Chương IV

5 Charpter V-‘The Shot the six...’ (1924) Chương V

6 Chapter VI-‘Nick sat againt ...’ (1924) Chương VI

7 Chapter VII-‘While the ...’ (1924) Chương VII

8 Chapter VIII-‘At two o’clock...’ (1924) Chương VIII

9 Chapter X-(1924) Chương X

(A Very Short Story ) (Một truyện rất ngắn)

10 Chapter XI (1924) Chương XI

(The Revolutionist ) (Nhà cách mạng)

11 Chapter XV-‘They hanged ...’ (1924) Chương XV

Chương XVIII (Đoạn kết) 12 Chapter XVIII -L’ Envoi

In Our Time (1925 and 1930)

13 On the Quai at Smyrna (1930) Trên cảng Smyrna

14 The End of Something (1925) Kết thúc một vấn đề

15 The Three-Day Blow (1925) Cơn gió ba ngày

16 Solider’s Home (1925) Nhà của lính

17 Big two-Hearted River, Part I (1925) Sông lớn hai lòng, phần I

18 Big two-Hearted River, Part II (1925) Sông lớn hai lòng, phần II

Men Without Women (1927)

19 In Another Country (1927) Nơi xứ lạ

20 Che Ti Dice La Patria? (1927) Tổ quốc nói gì với mày?

21 A Simple Enquiry (1927) Cuộc thẩm vấn đơn giản

22 Today is Friday (1927) Hôm nay là thứ sáu

23 Now I Lay Me (1927) Bây giờ tôi nằm nghỉ

Winner Take Nothing (1933)

24 A Way You’ll Never Be (1933) Con đường bạn sẽ chẳng hề

theo

25 One Reader Writes (1933) Một bạn đọc viết

26 A Nature History of the Dead (1932) Lịch sử tự nhiên của cái chết

The fifth Column and the First Fouty-Nine Stories (1938)

27 The Capital of the World (1936) Thủ đô của thế giới

28 Old Man at the Bridge (1938) Ông lão bên chiếc cầu

Part Two: Stories and Fragments from Posthumous Collections

Uncollected Stories published in Hemingway's Lifetime

29 The Denunciation (1938) Tố giác

30 The Butterfly and the Tank (1938) Con bướm và cỗ xe tăng

31 Night Before Battle (1939) (tự dịch) Đêm trước trận đánh

32 Under the Ridge (1939) Dưới mỏm đất

Drafts and Fragments first published in The Nick Adams Stories (1972)

33 Nobody Ever Dies (1939) Chẳng có ai chết

Người mùa hè 34 Summer People

Đất nước tốt đẹp cuối cùng 35 The Last Good Country

36 Night Before Landing (tự dịch) Đêm trước đổ bộ

First published in The Complete Short Stories (1987)

37 Black Ass at the Crosroads (tự dịch) Điểm đen chỗ giaolộ

38 Landscape with Figures (tự dịch) Cảnh sắc muôn màu

Juvenilia and Pre-Paris Stories

Hai truyện bổ sung trong Truyện cực ngắn E. Hemingway [49]

39 The Mercenaris (1985) Lính đánh thuê

Bob White 40 Bob White

Billy GilBert 41 Billy GilBrt

Tổng cộng: 41 truyện ngắn chiến tranh E. Hemingway

PHỤ LỤC 3 :

TRUYỆN NGẮN CHIẾN TRANH ERNEST HEMINGWAY

NGƯỜI VIẾT LUẬN VĂN TỰ DỊCH

Để phục vụ cho luận văn, chúng tôi cố gắng dịch được bốn truyện ngắn sau đây: Đêm

trước trận đánh (Night Before Battle), Đêm trước đổ bộ (Night Before Landing), Lỗ trôn đen

chỗ giao lộ (Black Ass at the Crossroads) và Cảnh sắc muôn màu (Landscape with Figures ).

Đây là những truyện được in trong Ernest Hemingway: The Collected Stories [98] và cho

đến thời điểm này chưa được dịch sang tiếng Việt. Tuy nhiên do khuôn khổ của luận văn,

chúng tôi không thể in tất cả bốn truyện được mà chỉ in một truyện tiêu biểu có số trang vừa

phải. Ở phụ lục này chúng tôi chỉ in truyện Điểm đen chỗ giao lộ. Còn các truyện khác chúng

tôi sẽ in trong một phụ lục khác ngoài luận văn.

ĐIỂM ĐEN CHỖ GIAO LỘ

(BLACK ASS AT THE CROSS ROADS- [96, tr.660])

Chúng tôi đã tiến đến chỗ giao lộ trước buổi trưa và đã bắn một dân thường người Pháp

do tình cờ. Anh ta dã chạy băng qua cánh đồng bên phải chúng tôi phía xa bên kia ngôi nhà

trong nông trại khi anh ta thấy chiếc xe jeep đầu tiên lao đến. Claude đã yêu cầu anh ta dừng lại

nhưng anh ta cứ chạy băng qua cánh đồng. Red đã bắn anh ta. Đó là người đầu tiên Red giết

trong ngày hôm đó; cậu ta rất hài lòng.

Tất cả chúng tôi đều nghĩ anh ta là người Đức ăn cắp quần áo thường dân nhưng hoá ra

anh ta là người Pháp. Dù sao đi nữa những giấy tờ của anh ta chứng minh anh ta là người Pháp.

Các giấy tờ cho biết anh ta là người vùng Soissons.

-“Không nghi ngờ gì nữa. Đó là một tên chỉ điểm”, Claude nói bằng tiếng Pháp.

-“Anh ta chạy có phải không?” Red hỏi. “Claude bảo anh ta dừng lại bằng tiếng Pháp rất

rõ cơ mà.”

-“Cứ coi anh ta hành động như vậy đi”, tôi nói. “Hãy bỏ giấy tờ lại cho anh ta.”

-“Nếu anh ta đến từ Soissons thì anh ta đang làm gì ở đây?” Red hỏi. “Soissons là con

đường đến với địa ngục tối tăm.”

-“Anh ta chạy trốn trước mũi tiến công của chúng ta; Có thể anh ta là một tên chỉ điểm”,

Claude giải thích.

-“Anh ta có khuôn mặt khắc khổ”, Red nhìn xuống anh ta.

-“Anh đã tước cái gì đó của hắn?” tôi hỏi Claude. “Nghe đây Claude. Hãy trả giấy tờ và

tiền bạc cho anh ta.”

-“Kẻ khác sẽ lấy nó mất.”

-“Anh không được lấy cái gì cả”, tôi nói. “Sẽ có nhiều tiền bạc hơn khi chúng ta thắng

bọn Krauts.”

Sau đó tôi chỉ cho họ nơi để hai chiếc xe tải và sửa soạn chỗ phục kích. Rồi tôi cử

Onésime băng qua cánh đồng vượt qua giao lộ vào một quán rượu bình dân có cửa chớp để

quan sát những gì diễn ra trên con đường rút lui của địch.

Quả có một ít dấu hiệu địch đã qua nơi đây và chúng luôn đi bên phải đường. Càng đi tôi

càng có hiểu biết nhiều hơn về vùng này. Tôi phải dò dẫm khoảng cách từ con đường đến nơi

đặt hai ổ mìn mà chúng tôi gài. Chúng tôi sử dụng vũ khí Kraut nên âm thanh của chúng không

đánh thức được bọn họ. Nếu có người nào đó nghe tiếng súng sẽ vượt qua đường. Chúng tôi bố

trí các ổ mìn rất khéo phía trước chỗ giao lộ cốt để không làm hư hại đến con đường trông như

lò sát sinh. Chúng tôi muốn địch đụng giao lộ nhanh hơn. Chúng tôi đợi.

-“Đó là một cuộc mai phục đẹp mắt”, Claude nói bằng tiếng Pháp và Red hỏi tôi Claude

nói gì. Tôi bảo với cậu ta đó chỉ là một cái bẫy như mọi khi. Red nói rằng cậu phải nhớ từ cái

bẫy ấy. Bây giờ cậu ta nói những suy nghĩ của mình một nửa tiếng Pháp và một nửa câu trả lời

bằng tiếng khác, ai mà biết được. Thật hài hước làm sao! Và tôi thích cách nói như vậy.

Đó là một ngày hè muộn thật đẹp và có cảm giác nhiều hơn đó là mùa hè. Chúng tôi nằm

tại nơi chúng tôi vừa bố trí một ổ phục kích. Hai chiếc xe tải che chắn chúng tôi từ đằng sau

đống phân chuồng. Đó là một đống phân chuồng lớn rất chắc. Chúng tôi nằm trên đám cỏ đằng

sau con mương. Mùi của cỏ cũng giống như tất cả những mùi vị mùa hè. Hai cây to đổ bóng lên

hai ổ mìn. Có lẽ tôi cũng bố trí quá gần nhưng không bao giờ có thể gần hơn nữa; nếu có hoả

lực phản kháng và mọi thứ trôi qua rất nhanh hơn. Một trăm yard là được. Năm mươi yard thì

lý tưởng hơn. Chúng tôi có thể nằm phục gần hơn thế. Dĩ nhiên trong điều kiện đó, nó dường

như luôn gần hơn.

Có một số người không đồng ý với cách bố trí ổ mìn này. Nhưng chúng tôi đã tính toán

làm sao lúc bắt đầu và kết thúc cuộc mai phục đều giữ cho con đường sạch sẽ thì càng tốt.

Không có gì nhiều để bạn xử lý chiếc xe tải đầu tiên; sao cho chiếc xe tải khác đến cho rằng

chiếc xe kia bị phá huỷ do máy bay. Dẫu cho ngày hôm nay không có máy bay nhưng không có

ai nghĩ rằng không có máy bay qua đây. Nếu để tên nào chạy thoát thì mới phát hiện sự khác

nhau đó.

-“Thưa đại uý”, Red nói với tôi bằng tiếng Pháp. “Nếu có mũi quân nào đến họ sẽ không

bắn bừa vào chúng ta khi nghe tiếng súng Kraut chứ?”

-“Chúng tôi quan sát trên đường, nơi có mũi quân đến từ phía hai chiếc xe tải. Họ sẽ ra

hiệu bằng cờ. Đừng sốt ruột.”

-“Tôi không lo lắng lắm đâu”, Red nói. “Tôi đã bắn một tên chỉ điểm để làm bằng chứng

rồi. Tôi chỉ có thể tiêu diệt lũ ấy trong ngày hôm nay. Chúng ta sẽ giết nhiều tên Kraut trong

trận phục kích này, có phải không, Onie?” (tiếng Pháp).

Onésime nói: “Đồ cứt ỉa”. Ngay khi đó chúng tôi nghe tiếng ô tô đến rất nhanh. Tôi thấy

nó chạy xuống hướng con mương có cây sồi mọc cạnh con đường. Đó là một chiếc Volkwagen

sơn ngụy trang màu xanh xám chở rất nặng. Nó chở đầy nhóc lính đội mũ sắt có vẻ như đang

đua để bắt kịp tàu lửa. Có hai viên đá tôi đã nhặt ở một bức tường trong nông trại được đặt bên

cạnh con đường. Chiếc Volkwagen vượt qua khúc eo của ngã tư chạy hướng về phía chúng tôi

trên con đường tẩu thoát thẳng tắp ngang qua trước mặt chúng tôi và lao về phía đồi. Tôi nói

với Red: “Giết tên lái xe khi chúng chạy đến viên đá đầu tiên.” Rồi tôi nói với Onésime: “Quay

ngang súng bắn vào thằng cao to.”

Tên lái xe Volkwagen không điều khiển được chiếc xe sau khi Red bắn. Tôi cũng không

thấy khuôn mặt của tên này vì hắn đội mũ sắt. Tay của hắn duỗi dài, không cử động và cũng

không cầm vô lăng nữa. Súng máy bắt đầu nhả đạn trước khi tên lái xe duỗi thẳng. Chiếc xe từ

từ lao xuống mương. Có mấy tên nhảy xuống đường và bọn thứ hai nhảy ra khỏi xe. Một tên

lăn qua và một tên khác bắt đầu trườn tới phía trước. Trong khi đó tôi nhìn Claude bắn cả hai

tên này.

-“Tôi nghĩ rằng tôi bắn tên lái vào đầu”, Red nói.

-“Đừng quá vội mừng như vậy.”

-“Tầm ngắm lệch hơi cao”, Red nói. “Tôi chỉ nhắm vào phần thấp nhất mà tôi thấy.”

-“Bertrand”, tôi gọi tên nhóm thứ hai. “Anh và bọn người của anh phải ra khỏi ngay trục

đường này. Đem cho tôi tất cả Feldbuchen và anh hãy cầm tiền được chia. Mang chúng đi

nhanh. Đi ngay, Red. Quẳng chúng xuống mương.”

Khi việc thu dọn đang diễn ra, tôi quan sát con đường đi đến phía tây bên kia quán rượu.

Tôi chưa bao giờ được xem con đường dọn sạch sẽ trừ khi tôi phải nhúng tay vào. Quan sát con

đường được làm sạch sẽ có khi không tốt đối với bạn nhưng nó lại không tồi tệ đối với tôi hơn

bất cứ ai khác. Nhưng tôi đang ở vị trí chỉ huy.

-“Anh nhận bao nhiêu, Onie?”

-“Tôi nghĩ tất cả tám. Tôi cho là vừa phải.”

-“Ở tầm này à?”

-“Không có vẻ gì là mạnh mẽ lắm. Nhưng quý nhất là thu được khẩu

súng máy của chúng.”

-“Chúng ta bố trí mai phục lại, nhanh lên thôi.”

-“Tôi không nghĩ chiếc xe tải bị bắn tệ như vậy.”

-“Chúng ta sẽ kiểm tra sau.”

-“Nghe đây” Red nói. Tôi nghe cậu ta nói và rồi huýt gió hai lần để mọi người nấp trở

lại. Red kéo tên Kraut sau cùng bằng chân với cái đầu của anh ta run bắn lên. Ổ mai phục đã

chuẩn bị lại nhưng không có tên nào đến. Tôi lo lắng.

Chúng tôi đã mai phục một cách đơn điệu của tư thế người tấn công trên đường tháo

chạy của địch. Nói một cách nghiêm túc, chúng tôi không có tư thế đó. Bởi vì chúng tôi không

đủ người để mai phục cả hai bên đường. Chúng tôi cũng không chuẩn bị một cách nghiêm túc

để đương đầu với các xe quân sự bọc thép. Mỗi ổ phục kích chỉ có hai khẩu Panzerfausten của

Đức. Hoả lực của nó mạnh hơn và cách sử dụng đơn giản hơn bzooka của Mỹ, có đầu đạn lớn

hơn và bạn có thể quẳng ống phóng đi. Nhưng gần đây, chúng phát hiện nhiều bẫy treo trên

đường rút lui của quân Đức và phá huỷ các thứ khác. Chúng tôi chỉ sử dụng loại còn mới tinh

như vừa bóc tem. Chúng tôi thường hỏi các tù binh Đức để sử dụng loại này với chức năng

khác nhau.

Những tù binh Đức sử dụng rất linh hoạt không theo nguyên tắc nào cả; giống như một

tiếp viên trưởng hoặc nhà ngoại giao bậc thường. Hầu hết chúng tôi so với người lính Đức như

anh chàng trinh sát tồi. Nói cách khác: họ là những người lính tuyệt vời; chúng tôi không được

như vậy. Chúng tôi chỉ là những chuyên gia trong một cuộc mua bán dơ bẩn. Chúng

tôi nói bằng tiếng Pháp là: “un métier très sale” (một nghề rất bẩn thỉu).

Chúng tôi biết qua nhiều lần thẩm vấn tù binh là bọn Đức đi qua con

đường rút lui ở Aachen. Chúng tôi biết tất cả những thứ mà chúng tôi đang giết hại hiện nay.

Chúng tôi không tham gia chiến đấu ở Aachen và cũng không tham gia mặt trận đằng sau Bức

tường phía Tây. Điều này thì đơn giản. Tôi hài lòng khi bất cứ điều gì cũng thật đơn giản.

Bọn người Đức đang đến, chúng tôi đang nhìn thấy, đi trên những chiếc xe đạp. Có bốn

tên tất cả. Chúng đi rất vội vàng và có vẻ rất mệt nhọc. Chúng không phải là đội quân xe đạp.

Chúng chỉ là những người Đức đi bằng những chiếc xe đạp đánh cắp. Tên đi đầu nhìn thấy vết

máu còn tươi trên đường; hắn quay đầu và thấy chiếc xe tải cạnh đó. Hắn dồn hết sức lên chiếc

bi-đan tìm lối thoát cho hắn và đồng bọn. Một tên bị bắn ngã khỏi chiếc xe đạp. Đây là điều

luôn đáng buồn khi phải chứng kiến. Tuy nhiên không buồn đến mức như một con ngựa bị bắn

có người đang cưỡi hoặc một con bò sữa bị bắn lòi ruột đi trong lửa đạn. Nhưng cũng có điều

người đàn ông ngã khỏi chiếc đạp ở tầm ngắm quá quen thuộc. Đó là bốn tên và bốn chiếc xe

đạp. Điều này thật là quen. Bạn có thể nghe những âm thanh thảm thương của chiếc xe đạp phát

ra khi chúng lăn trên đường. Đó là âm thanh của những kẻ bị ngã xuống và tiếng loảng xoảng

của các xe đạp cũ.

-“Hất chúng ra khỏi con đường nhanh lên”, tôi nói. “Và giấu bốn chiếc xe đạp.”

Khi tôi trở lại quan sát con đường thì một cánh cửa quán rượu mở ra. Có hai người dân

thường đội mũ lưỡi trai, mang đồ lao động bước ra, mỗi người cắp theo hai chai rượu. Họ đi

ung dung qua giao lộ và xuất hiện ở cánh đồng sau nơi chúng tôi đang mai phục. Họ mang áo

len dài tay và áo khoác cũ, quần nhung kẻ và đôi ủng nông thôn.

-“Hãy bao vây họ lại, Red”, tôi nói. Họ tiến tới từ từ rồi đưa các chai rượu qua khỏi đầu,

mỗi tay mỗi chai.

-“Lạy Chúa, nằm xuống”, tôi gọi. Họ nằm xuống và bò qua đám cỏ mang theo chai rượu

dưới nách.

-“Chúng ta là bạn bè” (tiếng Pháp), một tên gọi với giọng lè nhè nồng nặc mùi rượu.

-“Tiến tới đi, các ông bạn bét nhè và coi chừng bị phát hiện”, Claude trả lời.

-“Chúng tôi đang tiến tới đây.”

-“Chúng mày muốn làm gì dưới mưa ở ngoài này?” Onésime gọi.

-“Chúng tôi mang một ít quà.”

-“Tại sao chúng mày không đưa món quà khi tao còn ở đằng kia?” Claude hỏi.

-“À, có một số thay đổi, đồng chí ạ.”

-“Đưa nhiều hơn.”

-“Thật thô bạo (tiếng Pháp), tên nồng nặc rượu thứ nhất nói. Còn người kia đang nằm dài

dưới đất đưa cho chúng tôi một trong những chai rượu hắn cầm và nói với giọng thảm hại: “On

dit pas bonjour aux nouveaux camarade?” (Người ta đã chào tức là bạn bè rồi mà!).

-“Xin chào”, tôi nói: Mày muốn đánh nhau à? (tiếng Pháp)

-“Nếu đó là cần thiết. Nhưng chúng tôi đến đây để xin mấy chiếc xe

đạp.”

-“Để sau trận đánh đã”, tôi nói. “Các anh đã phục vụ trong quân đội rồi chứ?”

-“Đương nhiên”.

-“Được rồi. Các anh, mỗi người mang một cây súng của những tên Đức bị bắn và hai túi

đạn rồi đi dọc con đường cách đây khoảng 200 yard về phía bên phải chúng tôi và giết bất cứ

tên Đức nào qua đây cùng với chúng tôi.”

-“Chúng tôi không thể ở lại với các anh được sao?”

-“Chúng tôi là những chuyên gia.” Claude nói. “Hãy làm theo lời của đại uý.”

-“Đi lên chỗ kia đi, chọn chỗ nấp kín đáo và đừng bắn vào hướng này.”

-“Đeo băng đạn vào đi”, Claude nói. Anh ta có một chiếc túi căng phồng. “Các anh là

quân du kích (tiếng Pháp)”. Anh ta không còn chỗ nào để nhét thêm các thứ vào nữa.

-“Sau này chúng tôi có thể lấy mấy chiếc xe đạp chứ?”

-“Mỗi người một chiếc nếu không tham gia trận nào. Hai chiếc nếu anh có tham gia.”

-“Còn về tiền bạc thì sao?” Claude hỏi. “Họ đang sử dụng súng của chúng ta mà.”

-“Để họ giữ tiền.”

-“Họ không xứng đáng để giữ.”

-“Mang tiền lại đây và anh sẽ được chia phần của anh. Đi nhanh lên.

Cư thế mà làm.” (tiếng Pháp)

-“Họ là những kẻ say rượu hôi hám”, Claude nói.

-“Họ cũng có rượu rum thời Napoleon .”

-“Có thể họ có”.

-“Họ chắc chắn có”, tôi nói. “Anh có thể lấy nó ở đằng kia một cách dễ dàng.”

Chúng tôi nằm trên cỏ. Hoa cỏ mang đậm mùi vị của mùa hè thật sự. Những con ruồi,

ruồi thường, ruồi xanh lớn bắt đầu bay đến chỗ xác chết nằm dưới con mương. Có những con

bướm bay quanh những vũng máu trên mặt đường đen loang lổ. Có những con bướm màu vàng

và những con bướm màu trắng bay quanh những vệt máu cạnh các xác chết đã bị tơi tả.

-“Tôi không biết những con bướm kia có ăn máu không”, Red nói.

-“Tôi cũng không biết.”

-“Dĩ nhiên khi chúng ta đi săn thì thời tiết rất lạnh đối với lũ bướm.”

-“Khi chúng ta đi săn ở Wyoming những con chuột vàng lông xù và những con chó thảo

nguyên đã đào lỗ xong. Đó là ngày 15 tháng chín.”

-“Tôi sẽ quan sát và xem chúng có ăn thật sự hay không”, Red nói.

-“Có muốn lấy ống nhòm của tôi để xem không?”

Anh ta quan sát và sau đó nói: “Tôi sẽ bị nguyền rủa nếu tôi có thể nói. Nhưng điều đó

chắc chắn hứng thú đối với chúng.” Rồi anh ta quay sang Onésime và nói: “Mẹ kiếp thứ Kraut

tồi tàn, Onie. Không súng ngắn, không ống nhòm (tiếng Pháp). Đồ chết tiệt-chẳng có gì cả.”

-“Đừng nhắc chuyện đó nữa” (tiếng Pháp), Oné sime nói. “Chúng ta

đang làm mọi chuyện để có tiền.”

-“Cũng chả có chỗ mà tiêu sài nó”.

-“Một ngày nào đó thôi.”

-“Tôi muốn tiêu tiền ngay bây giờ.” (tiếng Pháp)

Claude mở một trong hai chai rượu bằng con dao Đức có đồ mở khoá như lò xo. Anh ta

ngửi rồi đưa cho tôi.

-“Đây là rượu mạnh.” (tiếng Pháp)

Mấy người khác đang chia chiến lợi phẩm. Họ là những người bạn thân thiết nhất của

chúng tôi nhưng khi tách ra dường như họ trở thành kẻ xa lạ. Chiếc xe tải dường như là tuyến

sau của hậu phương. Tôi nghĩ bạn cũng tách ra một cách dễ dàng. Và bạn có thể thấy điều đó.

Điều đó cũng là một trong nhiều điều mà bạn có thể chứng kiến.

Tôi uống một ngụm rượu từ chai mới khui ra. Đó là thứ rượu nguyên chất rất mạnh, như

có lửa trong nó. Tôi đưa chai rượu lại cho Claude và anh ta chuyển nó cho Red. Nước mắt của

Red chảy dài khi vừa nuốt ngụm rượu.

-“Ở đây họ làm ra rượu này bằng cách nào hả Onie?”

-“Tôi nghĩ bằng khoai tây và những mẫu vụn của móng ngựa mà họ lấy ở các lò rèn.”

Tôi dịch cho Red. “Tôi nếm đủ thứ nhưng khoai tây thì chưa”, Red nói. “Họ nấu chín nó

trong những chiếc thùng móng ngựa già han gỉ để tạo thêm hương vị.”

-“Tôi thà nếm bằng cách khác còn hơn nếm bằng miệng của tôi.” Red nói. “Thưa đại uý,

chúng ta cùng chết chứ?”

-“Xin chào, tất cả mọi người” (tiếng Pháp), tôi nói. Đây là một câu

nói đùa trước đây. Chúng tôi nói về một người Angiêri, người đã bị chém đầu bên lề đường

Santé. Ông ấy đã nói như vậy khi được hỏi: Nếu cho anh nói lời cuối cùng thì anh sẽ nói gì?

-“Với bướm”, Onésime ngà ngà say.

-“Với thùng móng”, Claude giơ chai rượu lên.

-“Nghe đây”, Red nói và đưa chai cho tôi. Chúng tôi đều lắng nghe tiếng xe tải vọng tới.

-“Vớ bở rồi”(tiếng Pháp), Red nói. “Còn đây nữa, tổ quốc kẻ chiến thắng khốn kiếp hay

là cái chết” (“Along ongfong de la patree, le fucking jackpot ou le more”). Anh ta hát khe khẽ.

Bây giờ nước của thùng móng cũng không thú vị gì đối với anh ta. Tôi uống một thứ nước ép

trái cây rồi nằm xuống kiểm tra mọi thứ, quan sát lại con đường bên trái chúng tôi, từ đó bao

quát xung quanh. Đó là một xe bánh xích Kraut. Nó quá đông người chỉ đủ cho bọn lính đứng

trong thùng xe.

Khi bạn gài một ổ mìn trên đường rút lui thì bạn có bốn hoặc năm quả mìn để đủ sức

chống cự lại đối phương và chúng được gài đặt ở phía xa của con đường. Chúng được đặt như

con cóc nằm sát đất trong một vòng tròn rộng, lớn hơn đĩa súp một tí. Quanh đó là vòng sát

thương của nó. Chúng nằm trong vòng trong bán nguyệt giữa đám cỏ được cắt và nối với một

cái khuôn hắc ín nặn hình chiếc thuyền được làm như đắp nến. Phạm vi mai phục để xác định

mục tiêu trong vòng một kilomet, gọi là cột mốc (borne-tiếng Pháp) hay khoảng một trăm mét ở

địa hình núi đá hoặc tìm một mục tiêu chắc chắn khác. Dây nối được kéo không căng lắm

ngang qua đường và quấn chỗ thứ nhất hoặc thứ hai của nơi đặt mìn.

Chiếc xe tải chở nặng đến gần khu vực như đã thấy; lúc đó súng máy

hạng nặng của chúng đang ngắm bắn máy bay. Chúng tôi tập trung quan sát một cách tỉ mỉ cho

tới khi nó đến gần. Rất đông bọn S.S. Bây giờ chúng tôi có thể thấy cả cổ áo và các gương mặt

bọn Đức một cách rõ ràng.

-“Kéo dây”, tôi gọi tổ thứ hai và lúc đó dây thừng kéo căng. Đầu dây bắt đầu kéo căng

quả mìn văng ra ngoài vòng tròn bán nguyệt lăn ra đường. Tôi nghĩ lúc ấy sao không phủ một ít

cỏ xanh lên nó.

Lúc này chiếc xe tải thấy quả mìn dừng lại thay vì nó sẽ húc phải. Bạn không phải tấn

công chiếc xe tải bọc thép khi nó đang chạy nhưng nếu nó thắng lại tôi sẽ nã chúng một phát

bằng khẩu bazooka đạn đầu to của Đức.

Chiếc xe bánh xích lao đến rất nhanh. Chúng tôi có thể thấy rõ những khuôn mặt trên xe

ấy. Bọn chúng nhìn xuống đường ngay vị trí đặt mìn. Claude và Onie thì mặt trắng bệch và Red

thì gò má động đậy. Tôi luôn cảm thấy trống rỗng. Sau đó một tên trên chiếc xe bánh xích thấy

những vết máu cùng với chiếc xe Volkwagen dưới mương và nhiều xác chết. Họ bắn vào những

người Đức, tên lái xe và viên sĩ quan chắc hẳn đã thấy mìn bên kia đường. Họ đổi hướng, đột

ngột khi tiếng bazooka nện tới. Cùng lúc đó, hai tổ phục kích cùng phát hoả. Đám người trên

chiếc xe bánh xích va phải mìn gai vội vã tìm chỗ nấp. Bazooka thụt vào, chiếc xe tải bị nổ

tung. Chúng tôi hứng một trận mưa các mảnh sắt vỡ và đủ thứ khác rơi xuống đầu như từ nguồn

phun nước. Tôi kiểm tra lại Claude và Onie, cả hai đều đang nả đạn. Tôi cũng đang bắn với

khẩu Smeizer qua các khe hở. Lưng của tôi ướt đẫm và quanh cổ tôi dính đủ thứ; nhưng tôi thấy

cái gì trên người chảy như suối. Tôi không hiểu tại sao chiếc xe tải không bị thổi văng ra xa

hoặc lật nhào. Nó chỉ bị văng đi một đoạn. Có khoảng năm mươi người trong chiếc xe tải đang

bị cháy và nhiều tiếng kêu gào mà bạn không thể nghe được gì. Không có ai ló mặt ra khỏi

chiếc xe bánh xích. Tôi nghĩ thế là xong và định vẫy tay ra hiệu cho họ xuống. Lúc đó có người

nào đó ném một quả lựu đạn và nó nổ tung ở mép đường bên kia.

-“Họ đang tự sát” Claude nói. “Tôi có thể leo lên và bồi thêm một phát vào trong nữa

không?”

-“Tôi có thể bắn một phát nữa.”

-“Không. Một phát thì không đủ. Toàn bộ đằng sau lưng tôi đã tập trung quân rồi.”

“OK. Làm đi.”

Anh ta trườn về phía trước như con rắn trong đám cỏ dưới làn đạn từ những tên trong xe

bắn ra. Rồi Claude kéo chốt lựu đạn và thả ra. Claude cầm lựu đạn đợi nhả khói xám và xoay

xoay trong bàn tay rồi ném vào trong chiếc xe bánh xích. Lựu đạn nổ cùng với tiếng la hét vang

lên. Bạn có thể nghe những tiếng kêu đôm đốp của các mảnh vỡ của kim loại.

-“Ra đi”, Claude nói bằng tiếng Đức. Tiếng súng máy và súng ngắn Đức bắt đầu nhả đạn

từ khe phía tay phải. Red bắn vào khe ấy lần thứ hai. Tiếng súng ngắn bắn trở lại. Dĩ nhiên

không trúng mục tiêu.

-“Ra đi”, Claude gọi. Tiếng súng ngắn bắn trở lại nổ lốp bốp như bọn trẻ dùng gậy gõ

vào cột hàng rào. Tôi bắn trả và cũng gây ồn ào tương tự.

-“Quay lại, Claude” tôi nói. “Anh bắn vào một khe, Red. Còn Onie

bắn vào khe khác.”

Lúc Claude trở lại vội vã, tôi nói: “Mẹ cha ngữ Kraut này. Chúng ta loại một tên khác.

Chúng ta có thể loại thêm nữa. Cho mũi nhọn này tiêu luôn.

-“Đây là vật che chắn của chúng”, Onie nói. “Chiếc xe tải này.”

-“Đi ra phía trước và bắn nó”, tôi nói với Claude. Anh ta bắn và không có gì chắn phía

trước. Rồi họ đi chỗ khác sau khi bỏ lại tiền bạc và các quyển sổ lương. Tôi uống một chút rượu

và vẫy chiếc xe tải. Những gã đàn ông trong số năm mươi tên bắt tay trên đầu như các tù binh.

Một lát sau, tôi ngồi tựa lưng vào gốc cây nghĩ ngợi và nhìn xuống con đường.

Họ mang những quyển sổ lương. Tôi đặt chúng vào trong một túi vải bạt cùng với những

thứ khác. Không có gì khô ráo cả. Hầu hết số tiền đều ướt. Onie và Claude và các người khác

cắt các miếng vải có chữ S.S, những khẩu súng ngắn hữu dụng và một vài thứ khác được bỏ

trong chiếc bao bố có sọc xung quanh.

Tôi chưa bao giờ động đến tiền bạc. Đó là công việc làm ăn của họ. Dù sao tôi nghĩ chạm

vào tiền chẳng may tí nào. Nhưng tiền rất nhiều. Bertrand cho tôi cây thánh giá bằng sắt, loại

hảo hạng. Tôi cất nó trong túi áo sơ mi. Chúng tôi giữ các thứ một lúc và sau đó cho mọi người

tất cả. Tôi không bao giờ thích giữ thứ gì. Cuối cùng chỉ là sự may rủi. Tôi cảm thấy ngột ngạt.

Tôi ước gì bỏ lại phía sau hoặc cho gia đình của họ.

Những thành viên của đơn vị trông như bị tắm bởi các mảnh vụn thịt bị nổ tung như

trong lò sát sinh. Những người khác thì không thấy sạch sẽ gì khi họ dọn các thi thể trong chiếc

xe bánh xích. Tôi không biết nó tồi tệ như thế nào. Tôi phải xem lại mình khi tôi để ý có rất

nhiều ruồi quanh lưng, cổ và vai của tôi.

Chiếc xe bánh xích nằm ngang giao lộ và bất cứ chiếc nào muốn qua phải giảm tốc độ.

Mọi người bây giờ đều rủng rẻng tiền bạc. Chúng tôi không mất ai cả, chỉ một số nơi bị phá

huỷ, đổ nát. Chúng tôi phải chuẩn bị một trận khác. Tôi chắn chắn đây là quân cản hậu. Bây giờ

tất cả chúng tôi chuẩn bị những nơi đặt mìn và những chỗ phục kích khác.

-“Tháo gỡ hết mìn và thu gọn các thứ. Chúng ta về nông trại tắm rửa. Chúng ta có thể

phong toả con đường từ đó như đã quy định.”

Họ khuân vác các thứ một cách nặng nhọc và ai cũng phấn khởi. Chúng tôi rời chiếc xe

tải. Họ tắm giặt trong sân nông trại. Red rửa các vết thương bị mảnh kim loại cắt và các vết

trầy sướt bằng i-ốt rồi rắc sun-fa-mít cho Onie, Claude và tôi. Sau đó, Claude chăm sóc lại cho

Red.

-“Có gì uống được trong nông trại đó không?” Tôi hỏi René.

-“Tôi không biết. Chúng ta rất bận rộn.”

-“Đi vào trong xem thử.”

Anh ta tìm được vài chai vang đỏ có thể uống được. Tôi ngồi vòng quanh kiểm tra lại vũ

khí và nói đùa với mọi người. Chúng tôi thực hiện rất kỉ luật nhưng không câu nệ tính hình thức

trừ khi chúng tôi trở lại Division hoặc chúng tôi muốn giải tán đội ngũ này.

-“Một thứ còn thiếu đấy” (tiếng Pháp), tôi nói. Đó là một câu chuyện vui cũ và đó là cách

diễn tả một cây gậy có móc mà chúng tôi mang theo luôn nói đến. Chúng tôi để cái vô dụng trôi

qua để chờ cái tốt hơn đến với mình.

-“Thật tồi tệ”, Claude nói.

-“Quá quắt lắm”, Michel thốt lên.

-“Còn tôi, tôi có thể đi không xa hơn nữa”, Onésime nói.

-“Còn tôi, tôi là cả nước Pháp đấy” (tiếng Pháp), Red nói.

-“Anh đánh nhau không?” Claude hỏi anh ta.

-“Không phải tôi đấy!” (tiếng Pháp), Red trả lời. “Tôi ra lệnh.”

-“Anh đánh nhau không?” Claude hỏi tôi.

-“Không khi nào”.(tiếng Pháp)

-“Tại sao chiếc áo của anh dính đầy máu vậy?”

-“Tôi chăm sóc một con bê mới sinh.”

-“Anh là bà mụ đỡ đẻ hay là bác sĩ thú y?”

-“Tôi cho rằng đó chỉ là cái tên, cấp bậc hoặc chỉ là dãy số.”

Chúng tôi uống thêm rượu rồi quan sát con đường, chờ đợi và sắp xếp chỗ mai phục.

-“Hay là chỗ chết tiệt kia?” Red hỏi.

-“Tôi không phải kẻ tâm phúc của họ.”

-“Tôi vui mừng là chúng không xuất hiện lúc chúng ta có một cuộc cai nhau (tiếng Pháp)

nho nhỏ”, Onie nói. “Hãy nói với tôi, thưa đại uý, anh cảm thấy thế nào khi anh để chúng đi?”

-“Cực kì trống rỗng”.

-“Anh nghĩ về điều gì?”

-“Tôi hy vọng vào Chúa, nó sẽ không chảy ra ngoài.”

-“Chúng ta chắc chắn gặp may, chúng chở đủ thứ vớ vẩn.”

-“Hay là chúng không triển khai quân nữa.”

-“Đừng làm hỏng buổi chiều của tôi”, Marcel nói.

-“Hai tên Kraut đi xe đạp”, Red nói. “Đến từ hướng tây.”

-“Bọn chúng cả gan thật!” tôi nói.

-“Còn thiếu một thứ đấy” (tiếng Pháp), Onie nói.

-“Ai muốn xơi chúng?”

Không có ai muốn. Chúng đang đạp một cách đều đặn và ngồi sụp về phía trước. Đôi ủng

của chúng quá to so với bàn đạp.

-“Tôi sẽ xử một thằng với khẩu M-i nhé”, tôi nói. Auguste đưa nó cho tôi. Tôi đợi cho

đến khi tên Đức đầu tiên đi trên chiếc xe đạp vượt qua chiếc xe bánh xích và dọn những cành

cây. Sau đó ngắm hắn nhưng chệch mất.

-“Không tốt rồi” Red nói. Tôi thử lại lệch xa hơn phía đằng trước. Tên Đức rơi xuống

một cách luống cuống, đau đớn và nằm ngay trên đường với chiếc xe đạp đè lên trên và bánh xe

vẫn đang quay tròn. Tên Đức lái chiếc khác chạy hết tốc lực song chẳng mấy chốc bị các anh

bạn khác nổ súng. Chúng tôi nghe tiếng bùm bùm của những phát súng của họ mà không trúng

cho đến khi hắn chạy biến mất.

-“Anh bạn bắn không tốt” Red nói.

Sau đó chúng tôi thấy anh bạn ngả lưng một cách nặng nề để nghỉ ngơi. Một người Pháp

trong đội cảm thấy xấu hổ và xót xa.

-“Các anh có thể là những tên lính biết bắn?” (tiếng Pháp) Claude nói.

-“Không. Chúng tôi không bắn mấy thằng say rượu ấy.”

-“Còn thiếu một thứ đấy” (tiếng Pháp), Onie nói và mọi người cảm

thấy khá hơn song tình hình cũng không gì tốt cho lắm.

Người bạn đầu tiên, khi hắn dừng lại chìa tay ra với chai rượu để lộ trong túi áo và món

quà trong tay, nói: “Thưa đại uý, người ta đã tàn sát nhau thật sự”.(tiếng Pháp)

-“Câm mồm đi”, Onie nói. “Và đưa tôi phần của anh.”

-“Nhưng chúng ta là quân chính nghĩa”, anh bạn nói với giọng nồng nặc rượu.

-“Mày là đồ bỏ đi” Claude nói. “Mày chỉ làm bạn với rượu thôi. Câm mồm đi và cút xéo

ngay.”

-“Nhưng người ta đánh nhau rồi!” (tiếng Pháp)

“Đánh nhau à, xạo!” Marcel nói. “Đưa tôi về doanh trại.” (tiếng Pháp).

-“Các anh biết chúng là những tay súng cừ đấy.”(tiếng Pháp) Red hỏi. Anh ta nhớ như

vẹt.

-“Anh cũng câm mồm đi”, tôi nói. “Claude, tôi hứa cho họ hai chiếc xe đạp.”

-“Thật chứ”, Claude nói.

-“Anh và tôi đi xuống. Còn họ di chuyển hai khẩu Kraut và chiếc xe đạp đi. Các anh

khác án ngữ con đường đã cắt”.

-“Ngày trước không làm giống như thế này” một người bạn nói.

“Không có gì giống như ngày trước cả. Mặc dù ngày trước anh có thể uống say sưa.”

Trước tiên, chúng tôi đi đến chỗ các người Đức trên đường. Hắn không chết nhưng bị

bắn xuyên qua phổi. Chúng tôi đỡ hắn dậy một cách nhẹ nhàng và đặt xuống chỗ thuận tiện

hơn. Tôi tháo thắt lưng và sơ-mi của hắn. Chúng tôi rắc sun-fa-mít vào vết thương của hắn.

Claude băng bó tạm cho hắn. Hắn có khuôn mặt đẹp và độ trên 17 tuổi. Hắn cố nói điều gì

nhưng không được. Hắn cũng cố nghe điều gì đó.

Claude lấy một bộ quân phục từ xác chết gần đấy làm vật gối đầu cho hắn. Rồi anh ta

vuốt đầu hắn và nắm tay hắn để đo nhịp tim. Cậu nhóc quan sát hắn từ đầu đến cuối nhưng cậu

không nói gì. Cậu cũng tránh nhìn hắn. Claude cúi xuống hôn trán tên Đức.

-“Mang chiếc xe đạp kia ra khỏi đường”, tôi bảo anh bạn lạ mà quen kia.

-“Cuộc chiến bỉ ổi”(tiếng Pháp), Claude nói. “Cuộc chiến bỉ ổi nhơ nhớp này”.

Cậu con trai không biết rằng tôi là người bắn tên tù binh vừa rồi. Vì vậy cậu ta không

biết sự ái ngại của tôi. Tôi cũng cảm thấy nhịp đập của tên Đức. Và tôi biết tại sao Claude đã

làm như vậy. Nếu tôi muốn nhẹ nhõm thì tôi nên hôn hắn. Đó là một trong những thứ mà bạn

nghĩ rằng bạn làm tròn bổn phận. Nó sẽ ám ảnh bạn.

-“Tôi muốn ở lại với tên này thêm một chút nữa”, Claude nói.

-“Cảm ơn anh rất nhiều”, tôi nói. Tôi đi khỏi chỗ đó. Chúng tôi có bốn chiếc xe đạp dựng

đằng sau gốc cây; anh bạn đã dựng ở đó một đống.

-“Lấy chiếc này hoặc lấy chiếc kia”, tôi tháo băng tay cất trong túi.

-“Nhưng chúng ta đánh nhau nữa chứ. Đó là hai thằng đáng ghét.”

-“Mẹ kiếp có gì nào?”, tôi nói. “Anh có nghe tôi không? Cút xéo ngay.”

Họ bỏ đi trong sự bất mãn.

Một cậu nhóc khoảng 14 tuổi đi ra từ quán rượu hỏi xin chiếc xe đạp mới.

-“Họ sẽ lấy lại chiếc xe đạp này vào sáng sớm nay.”

-“Được. Lấy đi.”

-“Còn hai chiếc khác thì sao?”

-“Đi khỏi con đường này trước khi du kích đặt mìn.”

-“Nhưng chính các chú là người gài mìn.”

-“Không” tôi nói. “Rất tiếc các chú không phải là đội quân gài mìn.”

Cậu con trai cưỡi xe đạp còn nguyên và chạy xuống quán rượu. Tôi đi bộ trở lại sân nông

trại dưới cái nóng mùa hè và chuẩn bị phục kích. Tôi không biết tôi cảm giác tồi tệ như thế nào.

Nhưng bạn cứ yên tâm. Tôi có thể hứa với bạn điều đó.

-“Tối nay chúng ta sẽ vào thị trấn chứ?” Red hỏi tôi.

-“Chắc chắn rồi. Bây giờ chúng hành động. Chúng đến từ hướng tây. Anh có nghe tiếng

xe của chúng không?”

-“Có. Anh có thể nghe từ lúc trưa. Đó là một thị trấn sung túc chứ?”

-“Anh sẽ thấy chốc nữa thôi, khi bố trí mai phục xong. Chúng ta sẽ hợp đồng tác chiến và

đi xuống đường, phía trên quán rượu”. Tôi chỉ cho anh ta trên bản đồ. “Anh có thể thấy nó

trong vòng một dặm. Anh xem kĩ đoạn đường cong này trước khi anh rót đạn xuống đó chứ?”

-“Chúng ta đánh thêm trận nào không?”

-“Ngày hôm nay thì không.”

-“Anh nên mặc chiếc áo khác.”

-“Chiếc kia còn tệ hơn chiếc này.”

-“Không có chiếc áo nào tệ hơn chiếc này được. Tôi sẽ giặt nó. Nếu anh cứ mặc chiếc áo

nhễ nhại mồ hôi và máu như vậy sẽ rất khó chịu trong ngày nóng nực như hôm nay. Anh không

cảm thấy khó chịu à?”

-“Vâng. Không sao cả.”

Claude nán lại làm gì thế?”

-“Anh ta ở lại với thằng nhóc tôi đã bắn chết.”

-“Đó là một thằng nhóc à?”

-“Vâng.”

-“Ồ, một kẻ đê tiện”, Red nói.

Sau đó một lúc Claude chạy đến với chiếc xe đạp. Anh ta giao cho tôi cái Feldbuch của

thằng bé.

-“Đưa áo của anh tôi giặt cho, Claude. Tôi lấy chiếc áo của Onie và của tôi để giặt và

chúng sắp khô.”

-“Cảm ơn rất nhiều”. Claude nói. “Red, có mang rượu không?”

-“Chúng tôi tìm thêm vài chai và một ít xúch xích.”

-“Tốt”, Claude nói. Anh ta cùng trở lại điểm đen.

-“Chúng ta đi vào thị trấn sau khi địch phá huỷ. Sẽ không còn xa đâu”, Red nói.

-“Trước đây tôi đã đến đó”, Claude nói. “Đó là một thị trấn sầm uất.”

-“Chúng ta sẽ đánh vào đó mấy ngày nữa.”

-“Chúng ta đánh vào ngày mai đi.”

-“Có lẽ không.”

-“Có lẽ có.”

-“Chúc mừng.”

-“Thôi im đi. Tôi chúc mừng.”

-“Tốt”, Red nói. “Mang chai rượu và xúc xích ra đi, tôi đi giặt chiếc áo và vào ngay.”

-“Cảm ơn rất nhiều”, Claude nói. “Chúng ta chia ra đi, không ai là không có phần.”

----------------------------------------------------