MỸ THUẬT ĐÔNG KINH - LAM KINH: RỪNG RỰC RỒNG - MÂY ĐAO
LỬA - HÀO KHÍ THỜI LÊ SƠ
thành bậc điện Lam Kinh
Triều Lê Sơ một trăm năm - mười vị vua (1427 -1527), khởi từ sau khi đánh tan
giặc Minh xâm lược, giành độc lập, Lê Thái Tổ lên ngôi, dựng lên một chính
quyền tự chủ, tiến hành xây dựng đất nước. Trong các vị vua kế tục, nổi bật vai tr
ò
của vua Lê Thánh Tông, người có công lao lớn trong công cuộc mở mang bờ cõi,
phát triển mọi mặt về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đưa Đại Việt trở
nên cường thịnh, để lại một dấu ấn đậm nét trong lịch sử Việt Nam. (Thời Lê
Thánh Tông nổi tiếng với: Hồng Đức hình luật (Bộ luật Hồng Đức), Hồng Đức
thiên hbản đồ (Bản đồ Hồng Đức), Hồng Đức quốc âm thi tập, Thiên Nam dư hạ
tập... Là những giá trị văn hóa, xã hội lớn lao. Lê Thánh Tông đề cao trí thức, sửa
sang tiếp Văn Miếu, khởi xướng lập bia Tiến sỹ, đưa nền giáo dục khoa cử nư
ớc ta
thịnh đạt. Hàn Lâm viện, Quốc Sử viện, nhà Thái học, Quốc Tử Giám là các
quan văn hóa giáo dục lớn của đất nước. Lê Thánh Tông lập Hội Tao đ
àn, sáng tác
văn thơ, xây dựng và tu bổ di tích đền, chùa. Lê Thán
Ngay tkhi lên ngôi Lê Lợi vẫn lấy tên nước Đại Việt, đổi t
ên thành Thăng
Long Đông Kinh. (Cuối thời Trần Thăng Long đổi là Đông Đô. Th
ời thuộc
Minh đổi là thành Đông Quan. Năm1430 Lợi đổi Đông Quan l
à Đông Kinh
(đối lại với Tây Kinh hay Lam kinh). Nghệ thuật Kiến trúc, Điêu khắc v
à Trang trí
thời Lê gắn với: xây dựng cung đình lầu gác, của nhà vua và hoàng t
ộc, dinh
thự quan lại trung ương và địa phương phục vụ vương triều. Các công trình Ki
trúc nghthuật tạo hình vương tri
ều tập trung hai khu vực: Đông Kinh (tức
Thăng Long) và Tây Kinh (Lam Kinh).
Mỹ thuật Đông Kinh:
Thành Đông Kinh, nhà Lê Sơ vẫn giữ nguyên bố cục thành Thăng Long (thời
Trần). Các cung điện trong thành Đông Kinh ngoài xây d
ựng mới, chủ yếu tu bổ
trên scũ. Cho xây dựng và tôn to nhiều cung điện lớn như: điện Kính Thi
ên
(dựng 1428 ngay trên nền điện cũ thời - Tr
ần), điện Cần Chánh, điện Vạn Thọ
tiếng thời bấy giờ. Các triều sau lại xây thêm các công trình khác như các đi
ện:
Hội Anh, Cần Đức, Tường Quang, Giảng Võ, Th
ủy Ngọc, Thừa Hoa, Kim Loan,
Bảo Quang.
Văn Miếu được đầu s
ửa sang, tu bmở mang phục vụ nhu cầu thời đại (phát
triển Nho), dựng 11 tấm bia đá Ti
ến Văn miếu. Các triều sau dựng tiếp. m
1483-1484 Thánh Tông cho mrộng thành trường đại học lớn n trư
ớc.
điện Đại Thành thKhổng Tử, và th các bậc ti
ên Nho. Khu bia đá nêu danh c
Tiến sĩ, được làm vào các m: 1484, 1487, 1486 1513,
1521. Qua các vương
triều tôn tạo hiện nay còn thấy 82 bia tiến sĩ ở Văn Miếu (Hà Nội).
Năm 1465 Thánh Tông lại cho sửa sang lại điện Kính Thiên đẹp h
ơn. Năm
1467 quân ngũ phủ được lệnh xây và sửa chữa Hoàng Thành. Năm 1474 triều đ
ình
cho sửa chữa phía Tây Thành trong. Năm 1477 sửa chữa Thành
ngoài. Năm
1490 Lê Thánh Tông cho đắp Thành trong rộng 8 dặm ra phía ngoài trường đấu v
õ
đài, trong 8 tháng. m 1499, lại cho xây tư
ng phía Đông. Trong việc sửa sang
và mở rộng Thành, Lê Thánh Tông giao cho ti
ến sĩ Vũ Hữu tính toán đo đạc. Thời
Hồng Đức triều Lê Thánh Tông việc xây dựng được quy định rất rõ ràng.
Nói chung, kiến trúc thời nh
ững bố cục theo khuôn mẫu, gợi vẻ trang
nghiêm song kém phần đồ sộ, bề thế so với thời Lý, Trần. Cũng tùy theo m
ức độ
quan trọng mà kiến trúc kích thư
ớc to, nhỏ khác nhau. Các trụ sở to của
triều đình 5 gian, 2 chái. Thường là 3 gian 2 chái. Ki
ến trúc Lăng mộ quy mô
cũng không to bằng thời - Trần. Các triều cuối của đặc biệt l
à Lê Tương
Dực do ăn chơi sa đọa còn cho xây d
ựng các lầu gác phục vmục đích đó. Kiến
trúc dân dã với tường xây đất, mái lợp gianh.
Kiến trúc cung đình triều trải qua thời gian và bi
ến động của lịch sử, bị
mất mát rất nhiều. Hiện nay chỉ còn lại mặt bằng phế tích và m
ột số di vật. Với
thành Đông Kinh xin dẫn hai di tích, qua đó thấy lại hiện tồn của Mỹ thuật L
ê Sơ.
Đó là: Thành bậc đá Đàn Nam Giao ( Thái ấp Hà Nội) dựng vào thi niên hi
Hồng Đức (1470-1497) kích thước: (ngang 3m. dọc 2,60m, cao 1,30m). Th
ành
bậc đá được tạo là những dải khối cuộn, uốn khúc (trừu tượng hình r
ồng). Trang
trí mặt ngoài của thành bậc là các mảng chạm hình mây xo
ắn, trong đó đôi chỗ vút
lên hình mũi đao dài như dáng ngọn lửa. Khung tam giác vuông phần dư
ới có viền
hình hoa chanh. Trong khung chạm đề tài dân như: “Đôi vịt bơi”,
“Cá hóa
Rồng”, ng nước”. Thành bậc đá điện Kính Thiên (trong thành N
ội) có
kích thước: (ngang 14m, dọc 4,45m, cao 2,10m), niên đại 1467 thời vua L
ê Thánh
Tông. Gm 4 dải thành bậc, chạy dài suốt 9 cấp từ dưới đất lên th
ềm điện, tạo
thành ba lối lên điện. Nghệ thuật điêu khắc đá còn tương đối nguyên vẹn. Lối l
ên
chính giữa là hai hình Rng uốn khúc, bò ttrên n
ền thềm điện xuống. Đầu Rồng
to nhô cao, hai nhánh sừng, mắt lồi, bờm mượt cuộn ra sau. Lưng R
ồng nhô
hình vây nhọn theo khúc uốn. Một tay Rồng cầm lấy râu. Hai dải thành b
ậc (tạo
lối lên hai bên) được chạm thành khối cuồn cuộn nhịp nhàng (ph
ỏng theo khúc
uốn của hình Rồng). Mặt dựng ngoài thành b
ậc trang trí bằng chạm khắc các
hình mây xoắn vút lên hình mũi đao dài hình ngọn lửa. Chúng tôi gọi là mây
hình
đao lửa, típ trang trí điển hình thi Sơ. Khung tam giác vuông vi
ền
hình hoa chanh, trong khung chm hoa cách điệu với đặc trưng riêng. Nét ch
ạm
sắc sảo, điêu luyện của nghệ thuật chạm khắc đá cổ truyền.
Mỹ thuật Lam Kinh:
Thái Tkhông những xây dựng Đông Kinh còn chú tr
ọng cho xây dựng, sửa
sang vùng Lam Sơn. Đó mảnh đất quê hương Hoàng tộc của Lê Lợi, v
à nơi
tụ nghĩa, của nhiều anh hùng hào kiệt, nơi phong trào kh
ởi nghĩa chống quân Minh
xâm lược, giải phóng dân tộc. Các vua thời Sơ k
ế nghiệp đều nghĩ việc xây
dựng và tu bổ. Lam Sơn mảnh đất thiêng của dân tộc, trở thành kinh đô th
hai,
nằm phía Tây. Được gọi Tây Kinh (Tây Đô hay Lam Kinh - nay thuộc x
ã Xuân
Lam, huyện Thọ Xuân Thanh Hóa).
Điện Lam Kinh là công trình xây dựng m Thuận Thiên 6, t
ức năm 1433, ngay
sau khi Lợi mất (1418 - 1433). Cuối m 1448 m các cung đi
ện. m 1456
sửa 3 cung điện: Quang Đức, Diên Khánh Sùng Hiếu. Điện Lam Ki
nh nguy
nga, bthế y dựng trên triền đồi thoai thoải, được cải tạo thành 3 l
ớp nền phẳng
hình chnhật (315m x 256m). Sau các lần bcháy, đã tu b vào thời L
ê Trung
Hưng thời Nguyễn, rồi cũng bị đổ nát. Ngày nay còn thấy toàn b
mặt bằng
nền, bốn bề còn những dấu tích thành bao. Lớp nền 1: dài 126m, cổng ngo
ài,
cổng trong, và sân. Qua khe Ngọc xây Cầu (dài15m), r
ồi Hồ bán nguyệt. Cổng
trong dấu tích còn lại một số tảng đá kê chân cột. Lớp nền 2: dài 65m, đây n
ền
Điện chính (48m x 37m). Trước nền Điện hiện còn khá nguyên vẹn lối lên đi
với Thành bậc của điện Lam Kinh, có kích thước: (ngang 5,6m; d
ài 4,15m; cao
1,85m). Quy cách trang trí của 4 thành bậc, chia làm 3 lối lên (gi
ống kiểu
Thành bậc điện Kính Thiên). Mặt trước thành bậc với hai hàng Rồng chạm đá l
àm
lối lên chính giữa (rộng 1,9m). Hai lối bên (mỗi lối rộng 1,3m). Trên hai mặt ngo
ài
thành bậc trang trí hoa văn là: những hình mây xoắn cuộn, nổi giữa nét
ợn
hình đao lửa (gọi là mây nh đao lửa), mang đặc trưng nổi bật điển
hình trong
khá nhiều trong trang tkiến trúc thời Sơ. Bên dưới l
à khung hình tam giác
vuông, dải khung viền hoa văn hình hoa chanh. Trong khung ch
ạm hoa Sen
hoa cúc cách điệu. Lối chạm sắc nét, điêu luyện, bố cục chặt trẽ của ngh
thuật chạm khắc đá cổ truyền do nghệ nhân thời Lê Sơ tạo nên.
Trên mặt nền điện vẫn còn các tr đá kê chân cột. Còn m th
ấy một số gạch
(47cm x 47cm) trang trí hoa văn hoa lá, Hoặc một số gạch để tr
ơn (47cm x
74cm). Lớp nền 3:i 65m, gồm 9 nền nhà nhỏ cấu trúc thành hàng ngang (so v
ới
khu điện) và giếng nước phía sau.
Cạnh khu điện còn có), bia Vĩnh Lăng (tôn tạo lại vào thời Nguyễn, nhà bia xây l
ại