Một nền hội hoạ đang cần tìm
chuyên gia
Laurent Colin
Phạm Toàn dịch
Thoạt đọc cái tít chẳng mấy độc đáo - Hội hoạ Việt Nam, hành trình
giữa truyền thống và hin đại - ("La Peinture Vietnamienne, une
Aventure entre Tradition et Modernité" - AHRIS xuất bản) hoặc chỉ
nhìn giá bán nhng 95 Euro công trình Corinne de Ménonville viết về
nghệ sĩ Việt Nam mà thy nản thì hẳn là nhầm đấy. Và cũng không nên
để bìa sách (mt bức tranh vẽ cô dâu của Đỗ Quang Em) ngăn cản
chúng ta đừng mở sách này ra coi. Bn có thể thích hoặc không thích
cách vẽ của Đỗ Quang Em - tôi thì thấy thiên h không thích nhưng
nghe đồn là Tng thống Clinton lại đánh giá cao bức hoạ đó [1] - vậy là
chúng khu đồng từ cho rằng bức đó của Đỗ Quang Em chẳng hề tiêu
biểu cho nền hội hoạ Việt Nam cả về truyền thống và, lạy Chúa, cả
trong tính hiện đại. Nếu cần gắn bức hoạ ấy vào một trào lưu nào đó,
thì hẳn ta sẽ đưa nó vào dạng hiện thực gần như sao chụp đầy ảnh
hưởng của các hoạ sĩ Trung Quốc được các gallery Hồng Kông hết
lòng ưu ái để bán cho đám khách sộp trong cánh áp-phe bản địa hoặc
ngoại quốc chuyên vơ vét các chân dung lớn vẽ các kiều nữ Trung
Quốc với đầy đủ trang sức và áo quần. Nếu vận hội của Đỗ Quang Em
có làm cho vài ba người đua theo, hẳn ta sẽ nghĩ rằng những ai theo
đuôi ông hoạ sĩ này chỉ nhìn thấy trong vỉa mạch kia một hướng đi cơ
hội chủ nghĩa chẳng mang chút tham vng nghệ thuật thực thụ nào, và
cuối cùng thì đó là một cách làm hoàn toàn xa lạ và vô tác dụng đối với
nền hội hoạ Việt Nam.
Phân tích rộng mà kng đủ sâu
Nhưng thôi, ta hãy trở lại với nội dung cuốn sách Corinne de
Ménonville vừa tung ra ở Việt Nam. Điều đáng mừng, cái mới là - cho
dù chúng tôi sẽ đề cập đến những dè dặt sau -, ấy là phương pháp ci
mở và nghiêm túc hơn so với những mưu toan liều lĩnh trước đây trong
địa hạt này.
Điểm mạnh của công trình này là khâu chọn và chất lượng các phiên
bản. Lần này, tác giả tỏ ra có khả năng tuyển chọn và quan tâm đến
những tác phẩm xác đáng, giữa vô số bộ sưu tập đã có vị trí thì cũng ưu
tiên chọn những tác phẩm nhạy cảm (hình hocủa Mai Văn Hiến, chân
dung vẽ chì của các nghệ sĩ vẽ lẫn nhau) hơn là cho tràn ngập các "ph
Phái" hoặc các bức vẽ chèo truyền thống bán chạy giá cao nhưng nguồn
gốc thì đáng ngờ. Đặc biệt chất lượng cao là những bức Dương Bích
Liên trong bộ sưu tập của Hào Hi (xin chú ý đặc biệt bức Chân dung
cô bé học trò Hà Ni), những bức của Lưu Văn Sìn (bức chân dung
tuyệt vời của nhà thơ Hoàng Cầm [2] mặc quần áo chiến sĩ) và những
bức của Nguyễn Sáng.
Về cấu tạo, sách có phần viết qua về nguồn gốc nền văn hoá Việt Nam
và vnhng nghệ sĩ Pháp ở Đông Dương, nhắc nhớ lại những bước đầu
tiên của hội hoạ Việt Nam và sự trỗi dậy của một thế hệ mới, có phần
giới thiệu các hoạ sĩ trong cộng đồng lưu tán ngoài nước, rồi kết thúc
bằng phần tiểu sử những nghệ sĩ chọn lọc.
Đây là một nhận xét mở đầu không đặc biệt chĩa vào cun sách đang
xét: người ta muốn được giải thích vì sao phn lớn các tác phẩm loại
này (may mà cun sách này tỏ ra chắt lọc hơn các cuốn khác) vẫn cứ
phải giới thiệu một cách triệt để nền hội hoạ Việt Nam theo lối biện
luận về màu xanh xứ Huế, về đình làng và về văn nghệ dân gian nước
Vit. Cnhư thể là, để nói về Cézanne và Sainte-Victoire, thì các nhà
chuyên môn thế nào cũng phải giáng cho chúng ta một chương mở đầu
về kiến trúc điền trang vùng Provence, gốm s vùng Moustier và dầu ô-
liu vậy.
Ngoài ra, nếu như cái thói quen làm ăn kiểu đó có nhấn đi nhấn lại vào
các hoạ sĩ thời thuộc địa, theo tôi điều đó không hề hấn gì, (lưu ý ngay
cả nhiều khi cách làm ăn này không được các nghệ sĩ Việt Nam ở trong
nước hiểu rõ và kết cục thì đúng là cái vòng luẩn quẩn, thì việc kể lể
quá nhiều về cái được coi là "hoạ sĩ hải ngoại " chỉ nhằm gom góp một
tập hợp lủng củng lỉnh kỉnh và tương đối khó hiểu những nghệ sĩ có
chất lượng chí ít là không đồng đều và mối quan hệ của họ với Việt
Nam thì không hn là khi nào cũng rành mạch.
Trong phn nói về nghệ sĩ Việt Nam và lịch sử của họ, phần quan trọng
nhất và đáng chú ý nhất của cuốn sách, điều đáng trân trọng là cái
phạm vi thường được đề cập tới nay đã mở rộng hơn ra ngoài bối cảnh
thuộc địa vẫn quen được đem ra xem xét, và tác giả lần này có khéo léo
đưa vào sách những tâm sự, những k niệm, những suy tư được nhặt
nhạnh từ những nguồn tốt nhất ở trong nước (Hào Hi về Dương Bích
Liên, Đỗ Phương Qunh…), những nguồn này bn đọc mong được
thấy nhắc đến nhiều hơn nữa trong cuốn sách.
Vấn đề là, nhng tâm sự thu nhặt được và những cuộc gặp gỡ mang
tính giai thoại qua các chặng đường Hà Nội [3] , cho dù chúng rất dễ
thương, cũng không thay thế nổi một cách tiếp cận mang tính phân tích
có hệ thống đối với lịch sử hội hoạ Việt Nam, một công việc hẳn là đòi
hỏi một sự am hiểu sâu sắc bối cảnh lịch sử, là điều chỉ có nổi nếu tiến
hành nghiên cứu thực thụ và phải vùi đầu vào sách báo chuyên nnh
thi kỳ đó. Nếu ta chú ý đến một vài n lực đáng khen (đặc biệt là v
tác động của phong trào Nhân văn Giai phẩm qua công trình nghiên
cứu của Georges Boudarel, sự phân tích tính hiện đại của Nguyễn Văn
Ký, nhng lời dẫn văn chương thú vị), thì phải thấy rằng có nhiều yếu
tố khác vẫn còn được xem xét một cách không đầy đủ (tác động thực sự
của Cải cách ruộng đất hoặc của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa).
Nhìn rộng hơn nữa, thì chođãđề cập đến mối quan hệ giữa nghệ
sĩ với chính trị, lần đầu tiên công bố trong xuất bản phẩm tiếng Pháp, ta
thấy rõ rằng cái chủ đề to tát và phức tạp đó hẳn sẽ còn phải được đào
sâu hơn nữa. Để có được một tầm nhìn sâu hơn về địa hạt này, ta có th
dựa vào công trình của giáo sư người Mỹ Nora Taylor [4] (hình như
không được bà Mme de Ménonville biết tới) để mà thú vị theo dõi tác
giả trong cách phân tích chính trị: một cách làm nghiêm túc đầu tiên
nhưng hẳn là cũng vẫn chưa đầy đủ về cái giai đoạn đặc biệt xáo trộn
và bạo lực này khi các nh hưởng, các dòng khuynh hướng, các số phận
cá nhân cũng như các cuộc phiêu lưu tập thể tỏ ra khó nắm bắt.
Một hạn chế khác của việc phân tích, đó là lập trường hơi có vẻ mập
mờ của tác giả khi tổ chức bán sách trên danh nghĩa là "chuyên gia"
hay là "vấn". Vì vậy mà bà đã không sao tránh bị vấp phải tình trạng
vừa phải đem lại một thông tin khách quan và lịch sử, đồng thời - đây
là điều ta hoàn toàn có thể hiểu được - lại vẫn chăm chút các nguồn
cung cấp và bảo lãnh tiềm tàng cho việc bán sách, nghĩa là các ngh
hoặc các gia đình nghệ sĩ. Việc tác giả nhắc đến vai trò của vị giám đốc
thứ nhì Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương Evariste Jonchère
khiến ta phải tự hỏi, lối xáo trộn chủng loại như thế có khả năng sinh ra
nguy cơ gì. Corinne de Ménonville nói rõ rằng vai trò ca ông này "chí
ít là trong thời gian đầu đã bphản đối" và nhng điều người ta trách cứ
ông ta "nay chẳng còn mang tính thời sự nữa" - Jonchère ngay từ khi
mới qua đã nói vi tờ Opinion de Saïgon rằng ông tới đây để đào tạo
th thủ công hơn là đào tạo nghệ sĩ. Về căn bản thì điều đó hoàn toàn
đúng. Ở một nước mà giđây người ta giang rộng hai tay đón rước mọi