
LUẬN VĂN:
Nền kinh tế định hướng Xã hội
chủ nghĩa ở nước ta

Lời giới thiệu
Từ năm 1975, khi cả nước độc lập. Cách mạng dân tộc dân chủ hoàn thành
trên phạm vi cả nước thì cả nước cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa xã hội.
Đảng ta đã chủ trương giữ vững quan điểm cũng như con đường mà chủ tịch Hồ
Chí Minh đã lựa chọn là tiến lên chủ nghĩa xã hội, quyết tâm đưa đất nước trở thành
một nước giàu mạnh về kinh tế, ổn định về kinh tế chính trị, xã hội công bằng văn
minh. Để đạt được như vậy, Đảng ta đã chủ trương phải ưu tiên phát triển kinh tế và
coi đó là vấn đề sống còn và một trong số đó là xây dựng kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên thực tế vấn đề nhà nước và thị trường là mối quan tâm hàng đầu của
nhiều nhà kinh tế trong nhiều thập kỷ qua. Do đó mà ở nước ta cũng như các nước
khác trên thế giới muốn tìm tòi mô hình quản lý kinh tế vĩ mô thích hợp và hiệu quả
hơn. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khoá VIII trình đại
hội IX của Đảng ta có đề cập : “ Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật, chiến
lược, qui hoạch, kế hoạch, chính sách nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu
cực của nền kinh tế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động”
Chính vì vậy mà xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là một yếu tố tất yếu cơ bản của quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở nước ta,
và nhờ có đường lối đúng đắn kinh tế nước ta đã thoát khỏi những khủng hoảng đạt
tốc độ tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiên đáng kể, chính trị xã hội
ổn định, quốc phòng an ninh quốc gia được giữ vững. Nước ta từ một nứoc có nên
kinh tế quan liêu, bao cấp đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa dựa trên quy luật giá trị và tín hiệu cung cầu của thị trường.

I/ Nghiên cứu cơ sở lý luận về nền kinh tế định hướng Xã hội chủ nghĩa ở
nước ta:
1) Khái niệm về nền kinh tế thị trường:
Theo quan điểm của Samuelson trích trong kinh tế học thì: “ Một nền kinh tế
thị trường là một cơ chế tinh vi để phối hợp một cách không tự giác nhân dân và
doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả và thị trường. Nó là một phương tiện giao
thông để tập hợp tri thức và hành động của hàng triệu cá nhân khác nhau, không có
bộ não trung tâm nó vẫn giải được bài toán mà máy tính lớn nhất hiện nay cũng
không thể giải nổi. Không ai thiết kế ra nó. Nó tự xuất hiện và nó đang thay đổi
cũng như xã hội loài người.”
Theo quan điểm của đảng ta, một nền kinh tế mà trong đó những vấn đề cơ
bản của nó do thị trường quyết định được xem là nền kinh tế thị trường. Nói cách
khác nền kinh tế thị trường chính là nền kinh tế hàng hoá chịu sự điều khiển của cơ
chế thị trường. Nền kinh tế này khác với nền tập trung ở chủ thể xác định các vấn đề
cơ bản của nền kinh tế mà nền kinh tế tập trung chủ thể này là nhà nước thông qua
các mệnh lệnh hành chính. Chính sự khác biệt này tạo ra sức mạnh và là động lực
cho nền kinh tế phát triển.
Tại Việt Nam kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, chúng ta đã xác định
xây dựng nền kinh tế thị trường nhưng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tức là có
sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế nhưng không phải can thiệp vào nền kinh
tế theo kiểu mệnh lệnh hành chính mà can thiệp thông qua các chính sách kinh tế vĩ
mô nhằm ổn định nền kinh tế và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia
vào sản xuất và kinh doanh. Sự can thiệp này được xem là cần thiết nhằm thiết lập
khuôn khổ pháp luật phù hợp, sữa chữa những khuyết tật của thị trường, đảm bảo sự
công bằng xã hội và ổn định nền kinh tế vĩ mô ( Kinh tế học – Samuelson). Đây là
lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp đã được Samuelson đưa ra/ Theo ông phát triển kinh

tế phải dựa trên hai bàn taylà cơ chế thị trường và nhà nước: “điều hành một nền
kinh tế không có cả chính phủ lẫn thị trường thì cũng như định vỗ bằng một bàn
tay”. Tuy nhiên trong hoàn cảnh nước ta thì sự can thiệp của nhà nước còn đóng vai
trò giữ cho nền kinh tế đi theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
2) Sự cần thiết tồn tại kinh tế thị trường:
Việt Nam đang tồn tại đủ các điều kiện cần thiết là cơ sở tồn tại của nền kinh
tế hàng hoá. Phân công lao động đang phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
nhiều ngành nghề mới đã ra đời, đặc biệt là những ngành công nghiệp có hàm lượng
kỹ thuật kết tinh trong sản phẩm cao như điện tử, tin học… Bên cạnh đó các làng
nghề cổ truyền cũng đang phát triển mạnh mẽ. Các sản phẩm của ngành đang từng
bước khẳng định thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế. Đây chính là
2
những thế mạnh củaViệt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới.Sự
phát triển này đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất.
Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần VI. Việt Nam đã chính thức thừa nhận
sự tồn tại của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Nhờ đó các thành phần kinh
tế này đã có những điều kiện cần thiết để phát triển. Từ đó xuất hiện sự khác biệt
giữa các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động. Đây chính là
điều kiện đủ để nền kinh tế hành hoá có cơ sở ra đời. Khác biệt về sở hữu về tư liệu
sản xuất và sản phẩm lao động đã tạo ra động lực to lớn để thúc đẩy kinh tế phát
triển mặc dù mặt trái của nó là sự phân hoá về giàu và nghèo.
Sau một thời gian dài duy trì cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã đến lúc
chúng ta cần một sự chuyển đổi để phát triển kinh tế. Cơ chế thị trường với những
ưu thế không thể chối cãi là một sự lựa chọn hợp lý và cần thiết. Cơ chế quản lý cũ
cồng kềnh, kém năng lực đã không còn phù hợp với tình hình trong nước và quốc
tế. Những căn bệnh đặc trưng của cơ chế cũ như bảo thủ, trì trệ, kém năng lực hình
thành nên bộ máy quản lý thiếu chuyên môn nghiệp vụ nhưng lại có thái độ quan
liêu, cửa quyền cần phải được thay đổi. Thực tế cho thấy trải qua gần hai mươi năm
đổi mới gây dựng nhưng chúng ta vẫn phải thực hiện các cuộc chỉnh đốn Đảng, cải

cách bộ máy hành chính chứng tỏ những quan niệm cũ sai lầm đã ăn sâu bám rễ như
thế nào. Việc xoá bỏ hoàn toàn không dễ dàng, không thể hoàn thành trong một sớm
một chiều nhưng đó là việc cần thiết để thúc đẩy kinh tế phát triển. Cùng với cơ
chế cũ cũng là sự bất cập khi nhà nước can thiệp quá sâu vào sản xuất kinh doanh,
điều hành không tuân theo các qui luật kinh tế mà theo cảm tính dẫn đến sự
thất bại trong thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra. Chuyển sang cơ chế
mới sẽ tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển theo đúng những qui luật
kinh tế khách quan.
Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng việc chuyển đổi sang mô hình kinh
tế thị trường của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ mô hình kinh tế đó chúng ta
đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước đi đôi với thu hút vốn và kỹ thuật
nước ngoài, giải phóng được năng lực sản xuất trong xã hội, phát triển lực lượng
sản xuất, góp phần quyết định bảo đảm nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân hằng
năm trong những năm 2000 là 7%. Trong đó nông nghiệp phát triển liên tục, đặc
biệt là sản xuất lương thực đưa Việt Nam trở thành nước thứ ba trên thế giới về xuất
khẩu lương thực. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 13,5%. Hệ
thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội được tăng cường. Đời sống nhân dân được
cải thiện, nâng cao tích luỹ xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển trong tương lai.
3) Bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có một số điểm
như sau:
Thứ nhất , quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường
đồng thời cũng là quá trình thực hiện nền kinh tế mở, nhằm hoà nhập với thị
trường thế giới.
3
Thứ hai, bản chất của quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là quá trình chuyển nền kinh tế còn
mang nặng tính chất tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá tiến tới nền kinh tế

