intTypePromotion=1

Nghệ thuật sử dụng thành ngữ, tục ngữ của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
25
lượt xem
1
download

Nghệ thuật sử dụng thành ngữ, tục ngữ của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Ngôn từ “không phải chỉ như là những cơ sở đầu tiên của tác phẩm văn học, mà còn như là những hiện tượng của phong cách” [4]. Với tư cách là một hiện tượng của phong cách, ngôn từ nghệ thuật thực hiện một chức năng phức tạp, tham gia tạo nên sắc thái nghệ thuật riêng cho mỗi nhà văn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghệ thuật sử dụng thành ngữ, tục ngữ của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới

51(3): 3 - 7<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 3 - 2009<br /> <br /> NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ<br /> CỦA MA VĂN KHÁNG TRONG TIỂU THUYẾT THỜI KỲ ĐỔI MỚI<br /> Mai Thị Nhung (Trường ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên)<br /> <br /> 1. Văn học là nghệ thuật ngôn từ. Ngôn từ “không phải chỉ như là những cơ sở đầu tiên<br /> của tác phẩm văn học, mà còn như là những hiện tượng của phong cách” [4]. Với tư cách là một<br /> hiện tượng của phong cách, ngôn từ nghệ thuật thực hiện một chức năng phức tạp, tham gia tạo<br /> nên sắc thái nghệ thuật riêng cho mỗi nhà văn. Như vậy, ngôn từ nghệ thuật có vai trò đặc biệt<br /> quan trọng bởi nó không chỉ là yếu tố “vật chất” duy nhất của tác phẩm văn học, mà còn là yếu<br /> tố khẳng định phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn. Qua ngôn từ nghệ thuật, nhà văn thể hiện<br /> tư tưởng và quan điểm nghệ thuật của mình. Chính vì vậy, việc nghiên cứu ngôn từ trong tác<br /> phẩm văn học có ý nghĩa đặc biệt.<br /> Lâu nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về sáng tác của Ma Văn Kháng thời kỳ<br /> đổi mới. Từ những bài báo đăng trên các tạp chí trung ương và địa phương đến những luận văn,<br /> luận án như Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới của Lê Thanh Hùng, Nghệ thuật tự sự<br /> trong sáng tác của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới của Đỗ Phương Thảo, Nghệ thuật tiểu thuyết<br /> của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới của Dương Hồng Liên... Tuy vậy, việc đi sâu nghiên cứu<br /> nghệ thuật sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới của Ma Văn Kháng vẫn<br /> chưa được quan tâm thích đáng. Chính vì vậy chúng tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề này. Trên cơ<br /> sở khảo sát, phân tích nghệ thuật sử dụng thành ngữ, tục ngữ của Ma Văn Kháng trong tiểu<br /> thuyết thời kỳ đổi mới chúng tôi tìm ra những nét sáng tạo riêng của nhà văn và khẳng định vai<br /> trò của thành ngữ, tục ngữ trong sáng tạo nghệ thuật.<br /> 2. Có thể nói, bước ngoặt quan trọng khẳng định sự chuyển hướng về tư tưởng nghệ thuật<br /> của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới là nhà văn đã có quan niệm nghệ thuật mới về con người và<br /> hiện thực cuộc sống. Trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, Ma Văn Kháng đã hướng cái nhìn nhân<br /> bản của mình vào tầng sâu hiện thực cuộc sống đời thường. Ở đó, ông phát hiện con người trên<br /> nhiều bình diện: tốt - xấu, trắng - đen, thiện - ác. Nhà văn không chỉ nhìn thấu sự đa dạng phức<br /> tạp trong tầng lớp thị dân, mà điều quan trọng là ông đã nhìn sâu, nhìn ra những bất cập, bất ổn<br /> trong tầng lớp trí thức. Có lẽ trước thời kỳ đổi mới đây là điều hoàn toàn mới mẻ và xa lạ. Thời<br /> kỳ đó khó có một nhà văn nào đưa lên trang sách của mình những cái xấu, thậm chí những cái ác<br /> đến tàn nhẫn của con người. Nhà văn còn mạnh dạn hơn, chủ động hơn và bức xúc hơn bởi cái<br /> xấu, cái ác còn ngang nhiên tồn tại trong lớp trí thức đang giữ địa vị chủ chốt trong các cơ quan,<br /> công sở, trường học. Để góp phần khắc họa sâu sắc thế giới nhân vật, qua đó phản ánh bức tranh<br /> hiện thực đa dạng, đa chiều, nhà văn đã tận dụng triệt để những thành ngữ, tục ngữ trong kho<br /> tàng ngôn ngữ dân tộc.<br /> Các tác giả trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã khẳng định: “Thành ngữ là<br /> cụm từ hay ngữ cố định, bền vững có tính nguyên khối về ngữ nghĩa không nhằm diễn trọn<br /> một ý, một nhận xét, mà nhằm để thể hiện một quan niệm dư ới một hình thức sinh động,<br /> hàm súc”. Và tục ngữ là “Một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúc kết<br /> kinh nghiệm, tri thức dưới những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hì nh ảnh, dễ<br /> nhớ, dễ truyền” [1].<br /> <br /> 1<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 51(3): 3 - 7<br /> <br /> 3 - 2009<br /> <br /> Trên cơ sở nhất trí với quan niệm đó, chúng tôi đi sâu nghiên cứu nghệ thuật sử dụng<br /> ngôn ngữ của một số nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại và thấy rằng: thành ngữ, tục<br /> ngữ đã được khá nhiều nhà văn sử dụng một cách có ý thức và đã để lại những dấu ấn riêng<br /> trong sáng tác của mình. Khảo sát thành ngữ, tục ngữ trong một số tác phẩm tiêu biểu của Ma<br /> Văn Kháng và một số tác phẩm của các nhà văn khác chúng tôi thấy:<br /> Tác phẩm<br /> <br /> Tác giả<br /> <br /> Mùa lá rụng trong vườn<br /> Côi cút giữa cảnh đời<br /> Đám cưới không có giấy giá thú<br /> Thời xa vắng<br /> Quê nhà<br /> <br /> Ma Văn Kháng<br /> Ma Văn Kháng<br /> Ma Văn Kháng<br /> Lê Lựu<br /> Tô Hoài<br /> <br /> Số<br /> trang<br /> 339<br /> 272<br /> 381<br /> 400<br /> 290<br /> <br /> Thành ngữ,<br /> tục ngữ<br /> 72<br /> 87<br /> 179<br /> 22<br /> 131<br /> <br /> Tần số xuất hiện trên<br /> trang văn bản<br /> 4,7<br /> 3,1<br /> 2,1<br /> 18<br /> 2,2<br /> <br /> Nhìn vào bảng thống kê ta thấy, tần số xuất hiện thành ngữ, tục ngữ trong tiểu thuyết Ma<br /> Văn Kháng khá nổi trội. Trong khi Thời xa vắng của Lê Lựu cứ 18 trang văn bản mới xuất hiện<br /> một thành ngữ, tục ngữ; tiểu thuyết Quê nhà của Tô Hoài lại 2,2 trang văn bản đã xuất hiện một<br /> thành ngữ, tục ngữ; thì trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới của Ma Văn Kháng trung bình cứ 3,3<br /> trang văn bản cũng đã xuất hiện một thành ngữ, tục ngữ.<br /> Như vậy trước Ma Văn Kháng, Tô Hoài sử dụng thành ngữ, tục ngữ khá đậm đặc trong<br /> sáng tạo nghệ thuật và đã góp phần tạo dựng phong cách riêng của nhà văn. Qua nghiên cứu<br /> chúng tôi thấy, tuy tần số xuất hiện thành ngữ, tục ngữ của hai nhà văn khá đậm đặc, nhưng mục<br /> đích sử dụng thành ngữ, tục ngữ của hai nhà văn này lại có những nét riêng biệt. Nếu nhà văn Tô<br /> Hoài sử dụng một cách nhuần nhuyễn và linh hoạt các thành ngữ, tục ngữ để chủ yếu miêu tả<br /> cuộc sống vất vả, lam lũ và số phận của những người nông dân thợ thủ công nghèo qua đó tạo<br /> mầu sắc bình dị, gần gũi trên từng trang sách của nhà văn, thì Ma Văn Kháng lại sử dụng thành<br /> ngữ, tục ngữ để phán ánh hiện thực cuộc sống và con người trong chiều sâu nhân bản, từ đó nhà<br /> văn truyền tải bức tranh xã hội nhiều màu sắc trong thời cơ chế thị trường đầy biến động hôm nay.<br /> Trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới của Ma Văn Kháng, từ lớp thị dân đến bậc trí thức; từ<br /> nhân vật lý tưởng đến loại nhân vật tha hóa, thành ngữ, tục ngữ đều được sử dụng rất phù hợp và<br /> sáng tạo. Trước hết, trong tư tưởng của Ma Văn Kháng, tầng lớp trí thức chân chính phải là<br /> người vừa có vốn kiến thức uyên bác, vừa có nhân cách đạo đức trong sáng, nên việc sử dụng<br /> thành ngữ, tục ngữ của những nhân vật này mang đặc điểm riêng. Khi sử dụng, mỗi lời ăn tiếng<br /> nói của họ không những thể hiện sự am hiểu tình đời, lẽ đời, mà còn thể hiện giá trị văn hóa<br /> trong cốt cách tâm hồn họ.<br /> Tự trong Đám cưới không có giấy giá thú là một thầy giáo có tài, có tâm. Anh luôn mang<br /> trong mình niềm say mê, khao khát với nghề, nhưng anh lại gặp quá nhiều khó khăn trong cuộc<br /> sống, mà trước hết là gánh nặng cơm áo hàng ngày. Trước cuộc mưu sinh quá chật vật, Tự đã<br /> không khỏi xót xa, đau đớn và anh nhận thấy sự bất lực trớ trêu của bản thân: “Vào cái thời buổi<br /> gạo châu củi quế, người người đang lao đầu quyết tử vào cuộc giành giật danh lợi hỗn mang, ở<br /> cái gác xép chật chội đang bắt đầu ngôn ngốt vì cái nắng trưa hè này mà lại còn cao đàm khoát<br /> luận về cái sâu xa, thâm thúy của văn chương, lại còn say sưa, mày mò tìm kiếm cái gọi là ngữ<br /> pháp nghệ thuật” [2]. Chỉ trong một câu văn dài mà tác giả dùng tới hai thành ngữ: gạo châu củi<br /> quế và cao đàm khoát luận. Thành ngữ gạo châu củi quế chỉ đời sống khó khăn trong thời buổi<br /> giá cả đắt đỏ; thành ngữ cao đàm khoát luận chỉ giây phút thăng hoa trong tâm hồn người say mê<br /> 2<br /> <br /> 51(3): 3 - 7<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 3 - 2009<br /> <br /> thưởng thức vẻ đẹp của văn chương. Sử dụng hai thành ngữ cùng với giọng điệu mỉa mai, nhà<br /> văn đã thể hiện sự nhạy cảm của người trí thức tài năng, đức độ, uyên thâm. Lời của Tự nhẹ<br /> nhàng mà sâu sắc thể hiện những sự suy nghĩ và trăn trở của anh trong thời buổi khó khăn bề bộn<br /> này.<br /> Với kẻ ít học như Xuyến - vợ Tự, người phụ nữ thực dụng, coi trọng vật chất hơn tình<br /> nghĩa, trắng trợn khinh rẻ, phản bội chồng, thì những thành ngữ, tục ngữ mà cô sử dụng khác hẳn<br /> với nhân vật Tự. Hãy xem lời đay nghiến của Xuyến với chồng: “Người ta thì khôn cậy khéo<br /> nhờ. Mình thì “rõ cứt nát còn đòi có chóp. Đói dài đói rạc lại còn xe với pháo”, hoặc “Im đi để<br /> ông vu vạ tôi, hả! Sao cái thân tôi khốn khổ khốn nạn thế này! Một thân tôi lo toan gánh vác.<br /> Một thân tôi đầu tắt mặt tối để cái quân ăn cháo đái bát nó chửi rủa, móc máy tha hồ. Này, tôi<br /> truyền đời báo danh cho ông biết từ nay ông đi đâu thì cứ đi! Của anh anh mang. Của nàng<br /> nàng xách. Ông đừng có mà bén mảng đến cái nhà này nữa”.<br /> Có thể thấy Ma Văn Kháng rất chủ động lựa chọn thành ngữ, tục ngữ cho phù hợp với<br /> tính cách của từng nhân vật. Để bộc lộ sự vô học, kém hiểu biết của Xuyến, tác giả sử dụng một<br /> loạt thành ngữ, tục ngữ thô tục qua đó nhân vật hiện diện rõ bản chất xấu xa, nanh nọc của mình.<br /> Khác với Xuyến, bà cụ Lãng trong Côi cút giữa cảnh đời tuy ít học nhưng bà lại là người<br /> có tâm, có bản lĩnh và có vốn hiểu biết phong phú. Vì thế ở bất kỳ hoàn cảnh nào, với bất kỳ thế<br /> lực nào bà cũng chủ động ứng phó. Qua bao gian truân, vất vả, góp nhặt kinh nghiệm của cuộc<br /> đời, bà đã có đủ tài trí để đương đầu với bọn người xấu ở địa phương. Lời nói của bà luôn thấu<br /> tình đạt lý, vừa thể hiện cái đáo để, vừa thể hiện cái sắc sảo của một người thấu hiểu lẽ đời. Hãy<br /> xem bà đối đáp với tên Hứng - tay chân của ông Luông chủ tịch phường, những kẻ rắp tâm<br /> chiếm đoạt nhà và hãm hại bà cháu bà:<br /> “- Thế nào, hai bà cháu có chuyện gì mà vui vẻ thế?<br /> Bà tôi đang trải đầu, tết tóc cho cái Thảm, bình thản:<br /> - Bà cháu tôi lúc nào mà chả vậy.<br /> - À, tôi thấy bà và cháu cười nên...<br /> - Ra ông cũng biết đo lòng người đấy. Nhưng mà dò sông, dò biển, dò nguồn. Biết sao<br /> được bụng lái buôn mà dò...<br /> Vẫn giọng điềm nhiên, bà tôi nói:<br /> - Thì đêm rủ rỉ rù rì; tiếng nặng bằng bấc, tiếng chì bằng bông, tôi sợ người ta bàn mưu<br /> tính kế với nhau, rồi không chừng sau khi bị kiểm điểm ở tổ hưu, lại bị chường mặt với bà con<br /> dân phố không biết chừng...<br /> - Anh Luông định là sẽ cấp cho cụ một cái đăng ký kinh doanh, một chỗ ngồi ở khu chợ<br /> phường mới thành lập. Buôn bán ở đâu, ăn ở luôn ở đó, cũng là một sự tiện lợi cụ ạ...<br /> - Nghĩa là chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi!<br /> - Cụ nói thế nghĩa là thế nào?<br /> - Nghĩa là rằng: ông thày ăn một, bà cốt ăn hai, còn cái thủ, cái tai thì đem biếu chú. Để<br /> chú, khi vui nước nước non non. Khi buồn thì giở quân son bài ngà, chứ gì” [3].<br /> Rõ ràng là từ những thành ngữ, tục ngữ, bà cụ Lãng đã thể hiện rất rõ bản chất và tính cách<br /> của mình. Hơn thế qua thành ngữ, tục ngữ, cụ đã khéo léo chỉ mặt đặt tên những trò bỉ ổi của tên<br /> 3<br /> <br /> 51(3): 3 - 7<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 3 - 2009<br /> <br /> Hứng. Dựa vào thành ngữ tục ngữ, cụ bày tỏ quan điểm của mình một cách dứt khoát, cứng cỏi,<br /> không khoan nhượng đồng thời vạch trần ý định xấu xa, bỉ ổi của những kẻ lòng lang dạ thú.<br /> Còn kiểu nhân vật như Lý (Mùa lá rụng trong vườn), Ma Văn Kháng lại sử dụng thành<br /> ngữ, tục ngữ để khắc họa tính cách và sự tha hóa trong lời nói và suy nghĩ của cô. Hãy xem cô<br /> suy nghĩ đen tối về Phượng và rủa xả Luận: “Vểnh tai mà nghe cho rõ nhé. Tiên trách kỷ, hậu<br /> trách nhân. Anh có biết rằng, con vợ anh nó có được chỗ chui ra chui vào là nhờ ở cái con quỷ<br /> sa tăng nào không? Và vợ anh cùng với anh đã ăn cháo đá bát như thế nào không? Định mỗi<br /> chài ai? Định chiếm đoạt cái gì? A, cứ vỗ ngực ta đây là cao thượng, là tốt đẹp nữa đi! Tốt đẹp<br /> thì về nhà đóng cửa dạy con vợ của anh đã nhé. Đối xử với anh chồng phải đứng đắn nhé. Đừng<br /> nên có cơm rồi lại muốn ăn quà nhé! Đừng khỏi vòng cong đuôi nhé!”[2].<br /> Có thể thấy rất rõ thành ngữ, tục ngữ trong đoạn văn đã tham gia bộc lộ suy nghĩ đen tối<br /> và cách đối xử cạn tàu ráo máng như thế nào của Lý đối với vợ chồng người em chú.<br /> Trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới của Ma Văn Kháng, nhà văn đã sử dụng rất nhiều thành<br /> ngữ, tục ngữ trong lời ăn tiếng nói của nhân vật. Điều quan trọng là qua thành ngữ, tục ngữ, nhà<br /> văn đã thể hiện được tư tưởng nghệ thuật của mình. Có thể nói, vốn từ ngữ và nghệ thuật sử dụng<br /> thành ngữ, tục ngữ của Ma Văn Kháng đã làm nên những sáng tạo mới mẻ trên từng trang tiểu<br /> thuyết thời kỳ đổi mới của ông.<br /> 3. Ma Văn Kháng đã rất thành công trong việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ khi phản ánh<br /> hiện thực cuộc sống và khắc họa tính cách nhân vật. Bằng cái nhìn hiện thực đa diện, đa chiều<br /> trong tầng sâu nhân bản, bằng khả năng sử dụng thành ngữ, tục ngữ điệu luyện, sáng tạo, Ma<br /> Văn Kháng đã phản ánh bức tranh hiện thực đời sống đa diện, đa chiều. Với việc sử dụng thành<br /> ngữ, tục ngữ vô cùng phong phú, đa dạng và giàu có của tiếng Việt, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới<br /> của Ma Văn Kháng đã đem đến sự thú vị cho người đọc. Vốn từ ngữ và tài năng sử dụng thành<br /> ngữ, tục ngữ đã góp phần làm nên “thương hiệu” Ma Văn Kháng <br /> Summary<br /> Ma Van Khang is one of the many having a lot of new contributions to the contemporary<br /> literature of Vietnam. To participate in building types of character and reflecting the polyhedron<br /> of the real life, the writer used quite a lot of systems of idioms and proverbs. The appearance of<br /> those in the sayings of the characters confirms the richness and diversity of the language, the<br /> seriousness and creation of the artistic labour of the writer, and the deeply attached relationship<br /> between literature and life.<br /> Tài liệu tham khảo<br /> [1]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo<br /> dục, Hà Nội 1992, tr. 297; 377<br /> [2]. Ma Văn Kháng (2003), Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Nxb Hội<br /> Nhà văn, Hà Nội.<br /> [3]. Ma Văn Kháng (2006), Côi cút giữa cảnh đời, Nxb Kim Đồng, Hà Nội.<br /> [4]. M.Khrapchenkô (1978) - Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học (Lê Sơn, Nguyễn<br /> Minh dịch), NxbTác phẩm mới, Hà Nội, tr. 191.<br /> <br /> 4<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2