NHẬN THỨC VỀ VẤN ĐỀ ĐẢNG VIÊN LÀM KINH TẾ TƯ NHÂN
DƯƠNG PHÚ HIỆP (*)
Vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân lần đầu tiên, Đ
ảng ta chính thức thông
qua tại Đại hội X của Đảng, không chỉ đơn thuần là vấn đkinh tế, m
à còn
vấn đề chính trị; không chỉ là vấn đề lý luận phức tạp, mà còn là v
ấn đề thực tiễn
cấp bách, có liên quan đến thái độ của chúng ta đối với chủ nghĩa tư b
ản, đối với
các thành phần kinh tế đối với vấn đề bóc lột. Để làm nh
ững vấn đề đó,
trong bài viết này, tác giđã đưa ra luận giải tiến trình đổi mới duy, đ
ổi
mới nhận thức của Đảng ta về những vấn đề này, tNghị quyết Trung
ương 5
khoá VI (1988) đến Văn kiện Đại hội X (2006).
Khác với các Đại hội trước, Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam (m 2006) đ
mạnh dạn quyết định vấn đề đảng viên th làm kinh tế t
ư nhân (trong đó
kinh tế tư bản tư nhân). Để thấy được ý nghĩa to lớn của quyết định này, cần nh
ìn
lại quá trình đổi mới tư duy kinh tế và tư duy chính tr
ị của Đảng, bởi vấn đề đảng
viên làm kinh tế bản nhân không chđơn thuần là vấn đề kinh tế, m
à n
vấn đề chính trị; không chỉ là vn đề luận phức tạp, mà còn v
ấn đề thực tiễn
cấp bách. Đây là vấn đề liên quan đến thái độ đối với chủ nghĩa tư b
ản, đối
với các thành phần kinh tế, đối với vấn đề bóc lột, v.v..
Nhìn lại quá trình 20 năm đ
ổi mới vừa qua, chúng ta thấy một trong những vấn
đề Đảng ta luôn phải trăn trở, thảo luận, cân nhắc, đắn đo rất nhiều là v
ấn đề
đảng viên được làm kinh tế tư bản nhân hay không. T
m 1988, Nghị
quyết Trung ương 5 (khoá VI) đã quyết định: Đảng cho phép những đảng vi
ên có
vốn góp cổ phần vào các đơn vkinh tế tập thể và kinh tế quốc doanh. Vào n
ửa
cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, Ban Tổ chức Trung ương, Ban tưởng -
Văn hoá Trung ương Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã tiến hành nhi
ều đợt
kh
ảo sát thực tế, nhiều cuộc hội thảo với nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái
ngược nhau xoay quanh vấn đề đảng viên được làm kinh tế bản t
ư nhân
không. Hội nghị Trung ương 10 khoá VI (năm 1990) cũng đưa vấn đề này ra th
ảo
luận, nhưng do ý kiến còn quá khác nhau nên chưa kết luận đư
ợc. Tiếp đó, vấn
đề này lại được đưa ra thảo luận tại Đại hội VII (năm 1991) Đại hội đã đi đ
ến
kết luận dứt khoát: “Đảng viên không được làm kinh tế bản t
ư nhân”. Không
những thế, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994) còn b
sung: “Đối với một số đảng viên đã m chc doanh nghiệp tư bản nhân, t
chức Đảng cần xem xét và giải quyết từng trường hợp cụ thể, hướng dẫn v
à giúp
đỡ chuyển đổi thành dạng nghiệp, công ty cphần, có sự tham gia của ngư
ời
lao động, của Nhà nước; hoặc thành hình th
ức kinh tế hợp tác, để vừa tận dụng
được vốn liếng năng lực làm kinh tế của đảng viên, v
ừa bảo đảm bản chất giai
cấp của Đảng”(1).
Đại hội VIII (1996) tiếp tục khẳng định kết luận của Đại hội VII và nh
ấn mạnh
thêm: Đảng viên không được làm hoặc mượn danh nghĩa người thân làm kinh t
bản nhân. Trong quá trình chuẩn bị Đại hội IX, Hội nghị Trung
ương 10
khoá VIII (2000) đã thảo luận ba vấn đề liên quan với nhau: (1) Thế nào là tư b
ản
nhân; (2) Thế nào bóc lột; (3) Nên giải quyết vấn đề đảng viên m kinh t
bản nhân theo hướng nào? Trung ương thảo luận nhưng ý ki
ến vẫn rất khác
nhau. Do đó, Bộ Chính trị đề nghị chưa biểu quyết để nghiên cứu tiếp.
Đại hội IX (2001) cũng chưa kết luận vvấn đề đảng viên m kinh tế tư b
ản
nhân Điều lệ Đảng đư
ợc thông qua tại Đại hội IX vẫn giữ một nội dung về
tiêu chuẩn đảng viên “có lao động, không bóc lột”. Điều đáng chú ý là H
ội
nghị Trung ương 5 khoá IX (2002) đã đánh giá: “Trong thực tế, những đảng vi
ên
làm kinh tế nhân đã có những đóng góp tích cực cho đất nư
ớc: góp phần phát
triển kinh tế, tạo thêm việc làm thu nhập cho người lao động, ổn định xã h
ội.
Phần lớn những đảng viên chdoanh nghiệp đều chấp hành nghiêm ch
ỉnh luật
pháp, chính sách của Nhà nước, quan tâm đến lợi ích của người lao động…”(2).
Tháng 5 năm 2002, B Chính trị đã giao cho Hội đồng Lý luận Trung
ương
nghiên cứu, thảo luận vấn đề đảng viên m kinh tế bản nhân. Hội đồng đ
t chức nhiều đợt khảo t thực tế, nhiều vòng hội thảo đưa ra nh
ững u hỏi
về tiêu chí xác định kinh tế tư bản tư nhân, như mức vốn đầu vào s
ản xuất kinh
doanh bao nhiêu: 20 tỷ, 50 tỷ, 100 tỷ, 500 tỷ hay 1.000 tỷ đồng? Mức thu
ớn lao động tối thiểu là bao nhiêu: 200, 300, 500 hay 1.000 lao đ
ộng? Mức lợi
nhuận ròng bao nhiêu? Mức sống của chủ doanh nghiệp tư bản t
ư nhân cao hơn
mc sống trung bình của người lao động là bao nhiêu? - gấp 30 lần hay h
ơn 30
lần? Xoay quanh những vấn đề này, ý kiến của các thành viên H
ội đồng luận
Trung ương ý kiến c địa phương còn r
ất khác nhau. c ý kiến thảo luận
này đều đã được trình lên B Chính trị.
Như vậy, vấn đề đảng viên m kinh tế bản nhân đã được thảo luận h
àng
chục năm, mãi đến tận Đại hội X, Đảng ta mới có thể kết luận. Đ
ương nhiên, đây
vấn đề khó, cần cân nhắc kỹ lưỡng, nhưng không nghĩa là ph
ải chờ mt
luận hoàn chỉnh rồi mới dám quyết. Vấn đnày đòi h
ỏi phải giải quyết bằng
thực tiễn, bằng cách tiến hành thnghiệm trong cuộc sống, vừa làm, v
ừa rút kinh
nghiệm, nếu thấy ích nước, lợi dân thì Đảng quyết định cho làm, nếu hại th
ì
ngừng lại, nghiên cứu thêm.
Trong lịch sử triết học câu chuyện vui: hai trư
ờng phái triết học tranh luận về
một khúc gỗ đầu nào gốc, đầu nào ngọn. Cuộc tranh luận kéo dài hàng ch
ục
năm, bên nào cũng đưa ra lý lcủa mình, không phân thắng bại, nên đành ph
ải
trình lên xin ý kiến của vua. Nhà vua phán cđem khúc gỗ ngâm xuống
ớc
rồi sẽ biết đâu là ngọn, đâu là gốc. Vấn đề mà các nhà lý lu
ận Việt Nam thảo luận
hàng chục m qua cũng tương tự. Cách giải quyết tốt hơn cả đưa vào th
ực tế
cuộc sống để tìm câu trả lời. Quyết định của Đại hội X cho phép đảng viên có th
làm kinh tế nhân quyết định dựa trên việc đúc kết thực tiễn là chính, đ
ồng
thời cũng là kết quả của quá trình đổi mới tư duy về chủ nghĩa xã hội và ch
nghĩa tư bản.
Thái độ của người cộng sản đối với chủ nghĩa tư bản là m
ột trong những vấn đ
được tranh luận nhiều nhất trong phong trào cộng sản quốc tế từ đầu thế kỷ
XX
đến nay. Đã từng có quan niệm cho rằng, chủ nghĩa xã hội và chnghĩa tư bản l
cách xa nhau, được ngăn cách tuyệt đối bởi một bức tường dày n c
Vạn
trường thành; rằng chủ nghĩa bản “cái đuôi” của phải lập tức tiêu di
ệt
triệt để. Nhận thức đó là không phù hợp với thực tế và ch
hại cho chủ nghĩa
hội mà thôi. Ngôi nhà của chủ nghĩa xã hi chỉ thể được xây dựng tr
ên
snhững thành tựu loài người đã đạt được qua nhiều thế kỷ trư
ớc đây, chủ
yếu là trong chnghĩa tư bản. Nếu vt bmọi cái của chủ nghĩa tư bản thì đi
ều
đó không có lợi gì cho chủ nghĩa xã hội cả.
Trong quá trình đổi mới duy, Đảng ta đã những bước tiến xa so với t
ư duy
cũ. Từ lối duy siêu hình muốn xoá bỏ ngay lập tức và xoá sạch chủ nghĩa t
ư
bản, tại Đại hội IX, Đảng ta đã tiến đến một quan niệm rằng, bỏ qua chế độ t
ư
bản chủ nghĩa nước ta là “b
qua việc xác lập vtrí thống trị của quan hệ sản
xuất và kiến trúc thượng tầng bản chủ nghĩa, nhưng ti
ếp thu, kế thừa những
thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ b
ản chủ nghĩa”(3). Trong khi
nước ta còn thái độ khác nhau đối với chủ nghĩa tư bản, người thì mu
ốn đi
theo con đường bản chủ nghĩa, người thì muốn vứt btất cả những thành t
ựu
của nó. Luận điểm nói trên của Đảng ý nghĩa chỉ đ
ạo rất quan trọng đối với
nhận thức và hành động của mọi người.
Quyết định của Đại hội X cho phép đảng viên thlàm kinh tế tư nhân k
ết
quđổi mới duy của Đảng ta đối với các thành phần kinh tế, đặc biệt l
à thành
phần kinh tế bản nhân. Từ ch
chủ quan, nóng vội muốn xoá bỏ ngay c
thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhất là mu
ốn nhanh chóng biến kinh tế
bản nhân thành quốc doanh, Đảng ta đã đi đến chủ trương “khuy
ến khích
phát triển kinh tế bản nhân rộng rãi trong những ngành ngh
sản xuất, kinh
doanh mà luật pháp không cấm”(4). Đó là một chủ trương phù h
ợp với thực tế của
đất nước thế giới và cũng là một trong những cơ s
để đi đến quyết định đảng
viên có th làm kinh tế tư nhân, trong đó có cả kinh tế tư bản nhân.
Quyết định nói trên của đại hội X đã dn đến sự đồng bộ và nh
ất quán trong đổi
mới tư duy, bởi nếu đã chủ trương th
ực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh
tế nhiều thành phn và coi các thành ph
ần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều
là bphận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã h
ội chủ
nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, cùng bình đ
ẳng
trước pháp luật, thì không nên đặt ra vấn đề phân biệt đảng viên được làm
thành phần kinh tế này, không được làm thành phần kinh tế kia. Vì đ
ặt ra vấn
đề như thế sẽ tự xoá bỏ nguyên tắc bình đẳng giữa các thành phn kinh tế, khi m
trong Nghquyết nói không phân biệt đối xử, nhưng trên th
ực tế lại sự phân
biệt đối xử. Điều đó nghĩa là nói không đi đôi với làm, nếu như thế th
ì uy tín
của Đảng Nhà nước sẽ bị giảm sút, gây ra tình trạng mất lòng tin của n
ời
dân.
Quyết định của Đại hội X cho phép đảng viên thlàm kinh tế t
ư nhân hoàn
toàn phù hp với Hiến pháp nước Cộng hoà h
ội chủ nghĩa Việt Nam m
1992, bởi trong đó đã ghi: “M
ọi tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật” (Điều 4); “Công dân có quy
ền tự do kinh doanh theo quy định
c
ủa pháp luật” (Điều 57); “Công n quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của
cải để dành, nhà ở, liệu sinh hoạt, liệu sản xuất, vốn và tài s
ản khác trong
doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” (Điều 58). Đảng viên cũng l
những công dân của nước Cộng hoà hội chnghĩa Việt Nam và do v
ậy, cũng
quyền tự do kinh doanh và các quy
ền khác. Nếu Đảng ta hạn chế hoặc không
cho phép đảng viên m kinh tế tư bản tư nhân thì đảng viên đã btước đi m
ột
trong những quyền công dân của mình là quyền tự do kinh doanh.