TP CHÍ Y HC VIT NAM TP 490 - THÁNG 5 - S 1 - 2020
191
5. Sreehariprasad A. V., Krishnappa R.,
Chikaraddi B. Santosh, Veerendrakumar K.
(2012), Gastric Pull Up Reconstruction After
Pharyngo Laryngo Esophagectomy for Advanced
Hypopharyngeal Cancer. Indian J Surg Oncol, 3
(1), pp. 4-7.
6. Triboulet J. P., Mariette C., Chevalier D.,
Amrouni H. (2001), Surgical management of
carcinoma of the hypopharynx and cervical
esophagus: analysis of 209 cases. Arch Surg, 136
(10), 1164-70.
NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ MÔ BỆNH HỌC CỦA
BỆNH LOẠN DƯỠNG GIÁC MẠC DẠNG LƯỚI Ở VIỆT NAM
Lê Xuân Cung*
TÓM TẮT49
Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm lâm sàng
bệnh học của bệnh nhân bị bệnh loạn dưỡng giác mạc
dạng lưới Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu: 78
hồ nghiên cứu về bệnh loạn dưỡng giác mạc dạng
lưới tại khoa Giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung ương từ
năm 2007 đến năm 2017. Phương pháp nghiên
cứu: nghiên cứu tả hồi cứu, được tiến hành tại
khoa Giác mạc, bệnh Viện Mắt Trung ương từ tháng
10 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019. Kết quả
nghiên cứu: 78 bệnh nhân (156 mắt) 24 gia đình
Việt Nam bị bệnh loạn dưỡng giác mạc dạng lưới.
Trong đó có 3 gia đình (12,5%) bệnh xuất hiện 3
thế hệ, 16 gia đình (66,7%) bệnh xuất hiện ở 2 thế hệ
5 gia đình (20,8%) mới chỉ phát hiện bệnh một
thế hệ. Tuổi được phát hiện bệnh sớm nhất là 15 tuổi,
muộn nhất 58 tuổi, tuổi trung bình là 28,5 tuổi. Thị
lực ghi nhận tại thời điểm khám gần nhất những
mắt chưa ghép trước khi ghép giác mạc cho thấy
35 mắt (22,4%) thị lực < đếm ngón tay (ĐNT)
3m, 57 mắt (36,5%) thị lực từ ĐNT 3m đến
<20/60, 52 mắt (33,3%) thị lực từ 20/60 đến
<20/40 và 12 mắt (7,8%) có thị lực ≥20/40. Trong 78
bệnh nhân nghiên cứu 24 bệnh nhân (30,8%) loạn
dưỡng giác mạc dạng lưới type I, 6 bệnh nhân (7,7%)
type III, 48 bệnh nhân (61,5%) type IIIb, chúng tôi
không ghi nhận được bệnh nhân nào bị loạn dưỡng
giác mạc type II type IIIa. Tổn thương trên giác
mạc điển hình là những tổn thương dạng sợi mảnh lộn
xộn đan vào nhau như lưới tập trung chủ yếu nhu
với các đặc điểm khác nhau tùy hình thái, trong
đó type I hay gây bong biểu giác mạc viêm tái
phát. t nghiệm bệnh học cho thấy tổn thương
điển hìnhlắng đọng chất dạng tinh bột có hình thoi
trong nhu mô, đẩy dạt các lá collagen ra, tạo nên hình
ảnh “dòng nước chảy qua chân cầu”. Kết luận: Ba
hình thái loạn dưỡng giác mạc dạng ới được phát
hiện trên bệnh nhân Việt Nam type I, type III
type IIIb, với đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và đặc
tính di truyền điển hình. Trong đó type IIIb gặp nhiều
nhất ở bệnh nhân Việt Nam, type I hay gây bong biểu
*Bệnh viện Mắt Trung Ương
Chịu trách nhiệm chính: Lê Xuân Cung
Email: cunghienminh@yahoo.com
Ngày nhận bài: 11.2.2020
Ngày phản biện khoa học: 15.4.2020
Ngày duyệt bài: 21.4.2020
tái phát viêm nên thể hình thành sẹo giác
mạc gây giảm thị lực nhiều.
Từ khoá:
Loạn giác mạc dạng lưới.
SUMMARY
ASSESSMENT OF CLINICAL AND
HISTOPATHOLOGICAL CHARACTERISTICS
OF LATTICE CORNEAL DYSTROPHY
Objectives: Assessment the clinical and
histopathological characteristics of Vietnamese patients
with lattice corneal dystrophy. Subjects: 78 medical
records of patients with lattice corneal dystrophy, which
have been following from year 2007 to year 2017 in
The Cornea Department, Vietnam National Eye
Hospital. Method: retrospective study, conducted at
Cornea Department, Vietnam National Eye Hospital
from October 2018 to April 2019. Results: 78 patients
(156 eyes) in 24 Vietnamese families had lattice corneal
dystrophy. In which 3 families had affected members in
3 generations (12,5%), 16 families (66,7%) had
affected ones in 2 generations and 5 families (20,8%)
in one generation. The youngest patient in our study
were 15 years old, the oldest one was 58 years old, and
the average age was 28.5 years old. The most recent
visual acuity (VA) of unoperated eyes showed 35 eyes
(22.4%) with visual acuity (VA) lower than 3m finger
counting, 57 eyes (36.5%) had VA from 3m finger
counting to lower than 20/60, 52 eyes (33.3%) had VA
from 20/60 to lower than 20/40 and 12 eyes (8.7%)
had VA of 20/40 and higher. Of 78 patients, there were
24 patients (30.8%) with lattice corneal dystrophy type
I, 6 patients (7.7%) with type III and 48 patients
(61.5%) with type IIIb, we have not recorded any
patients with type II and type IV. The lesions in
corneas showed thin branching refractile lines in the
sroma, which had different structures between types.
Type I had recurent erosion and inflamation of corneas.
The histopathological study showed tromal deposition
of amyloid distorts the architecture of corneal lamellae,
which made “the image of water flows through pillar”.
Conclusion: Three types of lattice corneal dystrophies
in Vietnamese patients are type I, III and IIIb, wich
have typical clinical, pathological and genetic features.
Type IIIb is the most frequent in Vietnam. Type I of
lattice corneal dystrophy often causes recurrent erosion
and inflammation of corneas, which may result in
corneal scar.
Key words:
lattice corneal dystrophy.
vietnam medical journal n01 - MAY - 2020
192
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Loạn dưỡng giác mạc dạng lưới được Biber
tả lần đầu tiên vào năm 1890. Năm 1899,
Haab Dimmer đã xác định được tính di truyền
của bệnh. Franceschetti và Babel (1945) nhận
thấy rằng bệnh liên quan đến dạng tinh bột.
Nhưng phải đến năm 1967, Klintworth mới c
định được đây nhóm bệnh y lắng đọng tinh
bột (amyloidosis) tính di truyền chỉ biểu hiện
trên giác mạc [1]. Đây hình thái loạn dưỡng
giác mạc di truyền biểu hiện lâm sàng đa
dạng, với 5 hình thái dạng lưới type I bốn
biến thể: type II, III, IIIa, IIIb [2], một số hình
thái này đã xuất hiện trên bệnh nhân Việt nam.
Vì vậy chúng tôi làm nghiên cứu này để đánh giá
đặc điểm lâm sàng mô bệnh học của bệnh
bệnh nhân Việt Nam.
II. ĐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU
2.1 Đối tượng nghiên cứu. 78 bệnh
nhân (ở 24 gia đình) bị loạn dưỡng giác mạc
dạng lưới hồ theo dõi tại khoa Giác mạc,
bệnh viện Mắt Trung ương từ năm 2007 đến
năm 2017.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu. Nghiên cứu tả
hồi cứu.
- Quy trình nghiên cứu. Nghiên cứu hồi
cứu từ những hồ theo dõi bệnh nhân loạn
dưỡng giác mạc dạng lưới tại khoa Giác mạc,
bệnh viện Mắt Trung ương, chúng tôi ghi nhận:
- Tuổi, giới.
- Những triệu chứng năng của bệnh nhân,
thị lực gần nhất.
- Khám các tổn thương loạn dưỡng bằng sinh
hiển vi đèn khe, ghi nhận các tổn thương kèm
theo nếu . Phân type loạn dưỡng dạng lưới
dựa vào các tiêu chí: [1]:
+ Type I: lớp nhu ng vùng trung tâm
giác mạc có những lắng đọng dạng sợi mảnh lộn
xộn đan vào nhau như lưới, nhu xung quanh
đục nhẹ, có thể có xước giác mạc hoặc sẹo.
+ Type III: những tổn thương dạng lưới to và
thô hơn type I, nằm lớp nhu giữa, ra cả
vùng rìa. Khi bệnh tiến triển ít gây tróc biểu mô
tái phát.
+ Type IIIb: Bệnh xuất hiện muộn với tổn
thương dạng lưới t trên giác mạc. Điểm nổi
bật của hình thái này tổn thương không cân
xứng hai mắt.
- Ghi nhận nhng tổn thương bệnh học từ
bệnh phẩm giác mạc đưc lấy ở những bệnh nhân
đã được ghép giác mạc với phương pháp nhuộm
Hematoxylin Eosin (H.E), PAS và Rouge Congo.
- Phân tích phả hệ của các gia đình bệnh nhân
qua đó đánh giá đặc điểm di truyền bệnh.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Số ợng bệnh nhân. Trong thời gian
theo dõi 10 năm (từ năm 2007 đến năm 2017)
chúng tôi đã ghi nhận 78 bệnh nhân từ 24 gia
đình bị bệnh. Trong đó 24 bệnh nhân
(30,8%) bị loạn dưỡng giác mạc dạng lưới type
I, 6 bệnh nhân (7,7%) type III 48 bệnh nhân
(61,5%) type IIIb.
3.2 Tuổi của bệnh nhân. Tuổi bệnh nhân
được ghi nhận trong nghiên cứu thấp nhất 15
tuổi, cao tuổi nhất 58 tuổi, tuổi trung nh
28,5 tuổi.
3.3 Giới. Trong nghiên cứu 42 bệnh nhân
nam (53,8%) 36 bệnh nhân nữ (46,2%). Mặc
số lượng bệnh nhân nam nhiều hơn bệnh
nhân nữ nhưng sự khác biệt không ý nghĩa
thống kê với P>0,05.
3.4 Hoàn cảnh phát hiện bệnh. Loạn
ỡng giác mạc dạng lưới thường xuất hiện trong
khoảng từ 8-10 tuổi nhưng tiến triển chậm nên
bệnh nhân thường đi khám được phát hiện
khá muộn. Trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi
trung bình phát hiện bệnh là 28,5 tuổi, bệnh nhân
ít tuổi nhất 15 tuổi được phát hiện khi khám
điều tra gia đình, bệnh nhân được phát hiện
muộn nhất 58 tuổi. Hầu hết bệnh nhân được
phát hiện bệnh do đi khám vì thị lực nhìn mờ dần,
một số trường hợp nhất là bệnh nhân loạn dưỡng
type I đến khám ngoài triệu chứng nhìn mờ còn
bị kích thích chảyớc mắt từng đợt.
3.5 Thị lc. Thị lực của bệnh nhân trong
nghiên cứu được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 1. Thị lực bệnh nhân nghiên cứu
<ĐNT 3m
3m đến <20/60
20/60 đến <20/40
≥20/40
Tổng
Type I
16
5
2
1
24 (30,8%)
Type III
1
1
3
1
6 (7,7%)
Type IIIb
18
51
47
10
48 (61,5%)
Tổng
35 (22,4%)
57 (36,5%)
52 (33,3%)
12(8,7%)
Như vậy, phần lớn bệnh nhân thị lực trong
khoảng từ ĐNT 3m đến <20/40, trong đó nhiều
nhất những mắt loạn dưỡng giác mạc dạng
lưới type IIIb.
3.6 Những triệu chứng năng. Những
ghi nhận trong hồ nghiên cứu cho thấy tất cả
bệnh nhân nghiên cứu đều triệu chứng nhìn
mờ với c mức độ khác nhau, tiến triển nặng
TP CHÍ Y HC VIT NAM TP 490 - THÁNG 5 - S 1 - 2020
193
dần, 32 mắt (41,0%) những đợt kích thích
chảy nước mắt trong đó 5 mắt (6,4%) tiền
sử bị viêm loét giác mạc do bội nhiễm.
3.7 Đặc điểm tổn thương loạn dưỡng
trên giác mạc. Tổn thương loạn dưỡng trên
giác mạc những bệnh nhân nghiên cứu được
thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2. Tổn thương trên giác mạc
TT dạng lưới
type I
TT dạng lưới
type IIIb
Tróc biểu mô
tái phát
Sẹo giác
mạc
Số mắt
24
48
32
5
%
30,8%
61,5%
41,0%
6,4%
Như vậy, tổn thương loạn dưỡng dạng lưới
type IIIb gặp nhiều nhất với 48 mắt (61,5%), ít
nhất là tổn thương loạn dưỡng dạng lưới type III
chỉ 6 mắt (7,7%). Ngoài những tổn thương
dạng lưới điển hình trên giác mạc, phần lớn mắt
trong nghiên cứu đặc biệt type I kèm theo
đục nhu tỏa lan với các mức độ khác nhau
kèm theo những chấm đục. Trong đó 32 mắt
(41,0%) bị tróc biểu tái phát 5 mắt
(6,4%) bị sẹo giác mạc.
Hình 1: Loạn dưỡng giác mạc dạng lưới
type IIIb. (Gặp nhiều ở Việt Nam)
3.8 Đặc điểm di truyền của bệnh
Kết quả phân tích phả hệ những gia đình bị
bệnh được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3: Phả hcác gia đình bệnh nhân
loạn dưỡng giác mạc dạng lưới.
1 thế hệ
2 thế hệ
3 thế hệ
Tổng
Type I
2
5
1
8(33,4%)
Type
III
1
3
0
4 (16,6%)
Type
IIIb
2
8
2
12 (50%)
Tổng
5
(20,8%)
16
(66,7%)
3
(12,5%)
24
(100%)
Kết quả phân tích phả hệ những gia đình
bệnh nhân trong nghiên cứu cho thấy hầu hết
các gia đình bệnh được phát hiện 2 thế hệ với
16 gia đình (66,7%), những gia đình phát hiện
bệnh một thế hệ 3 thế hệ chiếm t lệ ít
hơn. Kết quả phân ch phả hệ đã cho thấy
đặc điểm di truyền của bệnh.
3.9 Đặc điểm bệnh học. Phân tích tổn
thương bệnh học t31 bệnh phẩm giác mạc
lấy sau khi ghép chúng tôi nhận thấy các mẫu
bệnh phẩm đều có đặc điểm chung là nhu mô có
lắng đọng chất dạng tinh bột hình thoi trong
nhu mô, đẩy dạt các collagen ra, tạo nên hình
ảnh “dòng nước chảy qua chân cầu”. Chất lắng
đọng này phần lớn nằm nhu mô trước,
phản ứng hoá đặc trưng với thuốc nhuộm
Rouge Congo, chúng bắt màu hồng, bắt màu đỏ
tươi với phương pháp nhuộm PAS H.E. một
số bệnh phẩm có tổn thương nằm nông thấy lớp
biểu dày mỏng không đều, các tế bào bề
mặt biến đổi ít, lớp u các tế bào trở nên
thon dài thoái hoá. Màng đáy bị đứt đoạn
chỗ dày lên, dưới biểu mô một lớp chất ưa
axit m biểu bị tách khỏi ng Bowman,
thành phần gồm chất dạng tinh bột collagen.
Màng Descemet và nội mô vẫn bình thường.
Hình 2:
Hình ảnh mô bệnh học với phương
pháp nhuộm HE, lắng đọng chất dạng tinh bột
đẩy dạt các collagen tạo hình ảnh “dòng nước
chảy qua chân cầu”.
IV. BÀN LUẬN
Loạn dưỡng giác mạc dạng lưới một trong
những hình thái loạn dưỡng giác mạc di truyền
được phát hiện rất sớm, với những mô tả đầu tiên
của Biber vào năm 1890. Ở nước ta, cùng với các
nh thái loạn dưỡng giác mạc khác, bệnh loạn
ỡng giác mạc dạng lưới được nghiên cứu từ
những năm 80 của thế kỷ trước [3,4], cho đến
nay đã phát hiện được 3 type loạn dưỡng giác
mạc dạng lưới (type I, III, IIIb) ở bệnh nhân Việt
Nam. Trong 10 năm theo dõi chúng tôi đã phát
hiện được 78 bệnh nhân 24 gia đình bị bệnh,
điều này cho thấy đây một bệnh ít gặp so với
các bệnh lý giác mạc khác, đặc điểm này cũng đã
được ghi nhận trong các nghiên cứu trên thế giới
[1,2]. Mặc dù theo y văn bệnh xuất hiện khá sớm
trong khoảng 8-10 tuổi nhưng trong nghiên cứu
của chúng tôi tuổi phát hiện sớm nhất 15 tuổi
và muộn nhất là 58 tuổi, do bệnh tiến triển chậm
với triệu chứng chủ yếu nhìn mờ dần nên hầu
vietnam medical journal n01 - MAY - 2020
194
hết bệnh nhân không đi khám giai đoạn sớm
mà thường chỉ được phát hiện sớm khi khám điều
tra gia đình, ngoài ra một số bệnh nhân không
được chẩn đoán xác định bệnh ngay từ đầu mà bị
nhầm viêm giác mạc, đục giác mạc, thoái hóa
giác mạc, một số trường hợp bị tróc biểu tái
phát gây viêm nhiễm trùng tạo sẹo giác mạc
che lấp tổn thương chính, nên bệnh nhân không
được phát hiện bệnh trong nhiều lần khám trước
đó, do vậy bệnh nhân nhiều tuổi nhất được chẩn
đoán xác định trong nghiên cứu của chúng tôi
58 tuổi. Ghi nhận về giới tính ở những bệnh nhân
nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nam nữ tỷ
lệ gần ơng đương nhau, kết quả này cũng
tương tự như tả trong y văn, do đây bệnh
di truyền trên nhiễm sắc thể thường nên không
sự khác biệt giữa 2 giới [1]. Về triệu chứng
năng của bệnh nhân, nghiên cứu cho thấy hầu
hết các bệnh nhân đều thlực giảm dần, một
số trường hợp có những đợt kích thích chảy nước
mắt, sợ ánh sáng do những đợt bong trợt biểu
mô tái phát, đặc biệt những bệnh nhân bị loạn
ỡng type I, ghi nhận của chúng tôi cũng giống
kết qunghiên cứu của các tác giả khác, các tác
giả giải rằng do bệnh liên quan đến đột biến
gen keratoepithelin gen vai trò trong việc
gắn kết biểu giác mạc nên biểudễ bị bong
[1,2]. Ngoài ra nghiên cứu của chúng tôi còn ghi
nhận 5 mắt (6,4%) sẹo giác mạc dày do bị
viêm loét trong những đợt bong biểu mô, làm che
lấp tổn thương loạn dưỡng chính.
Phân tích đặc điểm tổn thương loạn dưỡng
trên giác mạc bệnh nhân chúng tôi nhận thấy
nhiều nhất là tổn thương loạn dưỡng typ IIIb với
những lắng đọng dạng lưới thô trên giác mạc,
thưa, tập chung chủ yếu lớp nhu giữa,
điểm nổi bật của hình thái này tổn thương
không cân xứng hai mắt, đây cũng là hình thái
loạn dưỡng giác mạc dạng lưới điển hình của
bệnh nhân Việt Nam [7]. Gặp ít hơn loạn
dưỡng type I với những sợi lưới mảnh, đan vào
nhau, tập trung lớp nhu trước, nhu
xung quanh đục tỏa lan, hình thái này hay gây
bong trợt biểu mô, gây viêm nhiễm giác mạc, cả
5 mắt bị sẹo giác mạc đều thuộc type này, đặc
điểm này cũng giống như những tả của các
tác giả khác [1]. Type III rất ít gặp ở nước ta với
6 bệnh nhân (7,7%) được phát hiện với những
tổn thương dạng lưới to nằm lớp nhu mô giữa,
ra cả vùng rìa, ít gây giảm thị lực. Nhiều nghiên
cứu cho thấy hình thái này hay gặp trên bệnh
nhân Nhật Bản [1].
Ghi nhận về đặc điểm bệnh học cho thấy
tổn thương chung trên các bệnh phẩm giác mạc
sự lắng đọng của chất dạng tinh bột trong
nhu mô, bắt u đỏ với phương pháp nhuộm
H.E, rouge Congo, PAS, mức độ vị trí các lắng
đọng tùy thuộc vào type loạn dưỡng, nhưng
không thấy xuất hiện ở lớp nhu mô sâu màng
Descemet, đặc điểm này cũng đã được ghi nhận
trong các nghiên cứu khác về bệnh [1,2,3].
Kết quả khám điều tra giá đình cho thấy
19 gia đình [79,2%] có bệnh xuất hiện 2-3 thế
hệ, như vậy đặc điểm di truyền của bệnh đã thể
hiện rõ. Phân tích gen trên bệnh nhân loạn
dưỡng giác mạc dạng lưới Việt Nam chúng tôi đã
phát hiện được vị trí đột biến gen H626R
(His626Arg) trên gen TGFBI [7], vị trí đột biến
này cũng đã được ghi nhận trong các nghiên
cứu của các tác giả khác [1,5,6]
V. KẾT LUẬN
Ba hình thái loạn dưỡng giác mạc dạng lưới
được phát hiện trên bệnh nhân Việt Nam type
I, type III type IIIb, đặc điểm lâm sàng
đặc trưng lắng đọng chất bất thường dạng sợi
mảnh trong nhu giác mạc. Mô bệnh học biểu
hiện sự lắng đọng chất dạng tinh bột trong nhu
với các mức độ khác nhau. Đặc điểm di
truyền thể hiện qua phả hệ của các gia đình
bệnh nhân. Trong 3 type gặp bệnh nhân Việt
nam, type IIIb gặp nhiều nhất, type 1 hay y
bong biểu mô tái phát.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ming X. Wang. Corneal Dystrophies and
Degenerations. Oxford University Press 2003.
2. Stix B, Leber M, Bingemer P, et al. Hereditary
lattice corneal dystrophy is associated with orneal
amyloid deposits enclosing C-terminal fragments of
keratoepithelin. Invest Ophthalmol Vis Sci.
2005;46:11331139
3. Nguyễn Duy Tân, Hoàng Minh Châu, Thế
Sao: Tiếp cận lâm sàng-giải phẫu bệnh về các
loạn dưỡng giác mạc di truyền-gia đình. Kỷ yếu
công trình nghiên cứu khoa học, 1993, 15-22.
4. Xuân Cung: Nhận xét đặc điểm lâm sàng
bệnh lý giải phẫu của bệnh loạn dưỡng giác mạc di
truyền gia đình. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội
trú bệnh viện, Trường đại học Y Hà Nội, 1999.
5. Kannabiran C, Klintworth GK. TGFBI gene
mutations in corneal dystrophies. Hum Mutat.
2006;27:615625.
6. Klintworth GK, Bao W, Afshari NA, et al. Two
mutations in the TGFBI (BIGH3) gene associated
with lattice corneal dystrophy in an extensively
studied family. Invest Ophthalmol Vis Sci.
2004;45:13821388.
7. Hoang Minh Chau, Nguyen Thanh Ha, Le Xuan
Cung, Ton Kim Thanh, Keiko Fujiki, Akira
Murakami, Atsushi Kanai (2003). H626R and R124C
mutations of the TGFBI (BIGH3) gene caused lattice
corneal dystrophy in Vietnamese people. British
Journal Ophthalmology, 87, 686-689.