
Nhồi máu cơ tim và can thiệp
mạch vành cấp cứu
Nhồi máu cơ tim là một tình trạng hoại tử một phần cơ tim cấp tính do
giảm sút đáng kể lượng máu cung cấp đến một vùng cơ tim. Đa số trường hợp,
nguyên nhân gây ra nhồi máu cơ tim là do sự lấp tắc một trong số các động mạch
vành nuôi tim, do cục máu đông hình thành trong mạch vành khi mảng xơ vữa bị
vỡ ra…. Một số ít trường hợp, nhồi máu cơ tim có thể do co thắt động mạch vành,
chấn thương, thiếu máu nặng nề, cấp tính…

2. Tần suất mắc bệnh
Nhồi máu cơ tim là một nguyên nhân tử vong và bệnh tật hàng đầu ở Hoa
Kỳ. Khoảng 1.3 triệu ca nhồi máu cơ tim không tử vong được ghi nhận hàng năm,
với tỉ lệ là 600 ca/ 100 000 dân. Trên thế giới, bệnh tim mạch là nguyên nhân gây
tử vong của 12 000 000 người mỗi năm, trong đó, nhồi máu cơ tim vẫn là vấn đề
phổ biến ở các nước phát triển và ngày càng trở nên phổ biến hơn ở các nước đang
phát triển.
3. Đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh là ai ?
- Tỷ lệ mắc nhồi máu cơ tim cao nhất ở nam giới tuổi trên 40 (trung nhiên
và cao tuổi).
- Nữ giới sau tuổi mãn kinh. Gần một nửa các trường hợp là gặp ở độ tuổi
dưới ngưỡng 60-65.
- Nhồi máu cơ tim gặp với tỷ lệ cao hơn đáng kể ở những người hút thuốc
lá, béo phì, rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, đái tháo đường.
- Tiền sử gia đình có người mắc bệnh tim mạch sớm trước tuổi 60.
Tuy nhiên không ít các trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra ngay cả ở người
trẻ hoặc người không hề có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào.

4. Triệu chứng của nhồi máu cơ tim
- Triệu chứng điển hình và thường gặp nhất là cơn đau thắt ngực, có thể
trước ngực sau xương ức,
- Đau ngực trái với cảm giác đau như bị đè ép, bóp chặt ở giữa ngực, diễn
ra trong khoảng 5-30 phút (kéo dài hơn hẳn so với cơn đau thắt ngực ổn định
thông thường), thường không quá 1 giờ. Cơn đau có thể lan lên vai, cổ, hàm hoặc
lan dọc theo cánh tay, đặc biệt là tay trái.
- Có thể có kèm vã mồ hôi, buồn nôn, chóng mặt hoặc khó thở.
- Nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim lại biểu hiện như một tình trạng rối
loạn tiêu hoá.
- Hoặc chẳng hề có triệu chứng (nhồi máu cơ tim thầm lặng), hoặc lại hết
sức đột ngột, biểu hiện bằng biến chứng rối loạn nhịp, ngừng tim hay đột tử...
5. Chẩn đoán
Chẩn đoán nhồi máu cơ tim dựa vào đặc điểm cơn đau thắt ngực, các biến
đổi trên điện tâm đồ, các thay đổi về nồng độ men tim, siêu âm tim, nghiệm pháp
gắng sức, xạ hình tưới máu cơ tim chụp động mạch vành bằng thuốc cản
quang…để chân đoán (không phải trường hợp nào cũng có thể dễ dàng chẩn đoán
nhồi máu cơ tim ngay lúc nhập viện.

6. Biến chứng nguy hiểm
- Nặng nề nhất và không hiếm xảy ra, đó là tử vong.
- Những biến chứng khác: rối loạn nhịp trầm trọng, suy tim tiến triển, sốc
tim và ngừng tim...
- Một vài trường hợp, vùng cơ tim bị hoại tử lớn, gây thủng buồng tim (vỡ
tim) có thể gây tử vong hoặc đòi hỏi phải phẫu thuật cấp cứu.
7. Xử trí tại nhà
- Khi có cơn đau ngực như mô tả, bạn nên ngưng ngay hoạt động, gọi điện
thoại cho thân nhân, nằm nghỉ, có thể sử dụng nitroglycerine ngậm dưới lưỡi (nếu
đã được bác sĩ khuyến cáo trước đó). Nếu cơn đau vẫn không giảm, đặc biệt sau
khi ngậm Nitroglycerine dưới lưỡi, cần vào bệnh viện hoặc cơ sở chuyên khoa để
theo dõi ít nhất 12-24 giờ nhằm loại trừ hoặc xác định chẩn đoán.
8. Những xử trí nào được thực hiện tại bệnh viện
Sau khi vào viện, bác sĩ đo huyết áp và thăm khám cho bạn, các xét nghiệm
cần thiết sẽ thực hiện khẩn trương . Nếu chẩn đoán được xác minh là có nhồi máu
cơ tim, người bệnh sẽ được chăm sóc chặt chẽ hơn tại giường.

- Điều trị ban đầu
Được theo dõi ECG liên tục tại giường, đo huyết áp thường xuyên
Thiết lập đường truyền tĩnh mạch .
Thở oxy
Sử dụng thuốc dãn mạch vành, thuốc làm chậm nhịp và ổn định tim, thuốc
chống kết tập tiểu cầu..
Nếu vẫn đau nhiều, bác sĩ sẽ dùng thuốc giảm đau mạnh
- Điều trị tiếp theo
Nhồi máu cơ tim là một tình trạng cấp cứu. Nguyên tắc chung là tái lập
dòng máu chảy trong đoạn động mạch vành bị tắc càng sớm càng tốt để cứu vãn
tối đa phần cơ tim thoi thóp do thiếu máu nuôi dưỡng nằm xen lẫn với những vùng
cơ tim đã chết vì hoại tử do thiếu máu.
- Dòng chảy động mạch vành chỉ được khôi phục khi loại bỏ được cục máu
đông bằng thuốc tiêu cục máu đông hoặc sử dụng các biện pháp can thiệp qua da
như nong bắng bóng và hoặc đặt giá đỡ trong lòng động mạch vành (chụp và can
thiệp động mạch vành) kết hợp với việc hút bỏ cục máu đông... Chỉ có một tỷ lệ
rất nhỏ cục máu đông tự tan còn đa số phải được can thiệp.

