Những chuyện đời thường quanh ta
5
“Thiên thần sở dĩ bay được vì không mang theo gánh nặng”
Vừa rời ghế giảng đường, tôi ngỡ mình may mắn khi được nhận vào làm tại một
cơ quan nhà nước. Vậy mà sau một năm, từ cô bé vô tư, luôn nhìn mọi thứ bằng
màu hồng, tôi trở nên lầm lì, khép kín, sống lặng lẽ, nhìn đời bằng cặp mắt hoài
nghi, hằn học.
Sự hụt hẫng, bất mãn nhân lên khi phải làm việc chung đội với những người chèn
ép, bới móc người khác. Mâu thuẫn nội bộ giữa họ đã vô tình đẩy tôi vào chiến
tuyến những kẻ đối đầu. Tôi tự tách mình ra và cô độc. Tôi trở nên hờ hững, lạnh
lùng vì biết dứt bỏ là điều không thể.
Rồi tôi gặp chú H. trong một lần cơ quan tôi và cơ quan chú tham gia triển lãm tại
hội chợ. Vẻ thẫn thờ của tôi khi ngồi cạnh gian hàng một mình khiến chú “động
lòng” nên lại bắt chuyện.
Tôi thầm cám ơn số phận cho tôi gặp chú… như một phép màu làm thay đổi cuộc
sống và thế giới quan của tôi. Vẻ điềm đạm và chân thành của chú khiến tôi cảm
thấy được an ủi và thật ấm áp. Tôi thường kể cho chú nghe những gì tôi đã và
đang phải chịu đựng… Chú bảo tôi rằng: Trong cuộc thi Hoa Hậu Hoàn Vũ, Ban
Giám Khảo ra câu hỏi “Điều quan trọng đối với người phụ nữ là gì?” Thí sinh đoạt
được vương miện hoa hậu vì trả lời rất hay: “Đó là giữ được sự lạc quan trong
cuộc sống”.
Dần dần tôi tìm được lại cân bằng cho chính mình. Tôi đón nhận mọi thứ nhẹ
nhàng hơn khi xin chuyển sang chỗ mới để làm. Tình yêu sống lại trong tôi, khi
nhận ra trong tôi vẫn còn sự yêu thương. Với sự chỉ bảo của chú, tôi đã lựa chọn
được tình yêu đích thực của mình. “Cháu hãy chú ý về trình độ, nhân cách và tình
thật thương cháu”. Nhờ chú, tôi như hồi sinh trong hạnh phúc của một người đang
yêu và được yêu. Dường như tôi luôn tìm được chìa khóa cho mọi câu hỏi từ chú.
Chú đem lại cho tôi niềm tin về những điều tốt đẹp của cuộc sống và không ai có
quyền tước đi điều đó của tôi.
Những ám ảnh về sự tồn tại của những người giả nhân giả nghĩa không còn làm tôi
mệt mỏi trong giấc ngủ. Tôi bớt đi phần nào cay nghiệt với bản thân về sự kém
may mắn của mình vì bệnh tật, công việc, tình cảm, gia đình. Tôi trở về với con
người vốn có của mình vì Tiền Bối đã giúp tôi nhận thức được rằng “Thiên thần
sở dĩ bay được vì không mang theo gánh nặng”. Tôi phải sống trong lửa từ niềm
say mê công việc và sự đam mê của tình yêu thật sự, không được nửa vời, trốn
chạy. Đó là những gì tốt đẹp nhất chú làm cho tôi mà tôi sẽ không bao giờ quên dù
có lẽ với chú điều đó thật bình thường và giản dị.
Bắc cầu Kiều trên đôi chân tật nguyền
Cô giáo Huỳnh Thị Xinh được người dân phường Hoà Hiệp gọi bằng cái tên trìu
mến: "Cô giáo làng!". Cô giáo Xinh 37 tuổi và đã có hơn 10 năm mở lớp học tình
thương cho trẻ em nghèo của vùng Hoà Hiệp Nam, Hoà Khánh, Đà Nẵng.
Tật nguyền do nhiễm chất độc da cam từ người cha, với đôi nạng gỗ, cô đã bắc
cầu Kiều cho hơn năm trăm em nhỏ. Không được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm,
thế nhưng bao thế hệ học trò của cô giáo Xinh giờ đây đã trưởng thành, nhiều em
tốt nghiệp đại học...
Từ đôi chân tật nguyền...
Đến phường Hoà Hiệp Nam, thuộc quận Liên Chiểu, "lọ mọ" hỏi 2 - 3 lần tôi mới
tìm ra lớp học của cô Xinh. Chiếc xe lăn màu xanh đang dựng trước con hẻm nhỏ
đã giúp tôi đoán đúng địa chỉ. Thấy tôi tần ngần, một người hàng xóm đon đả:
"Anh tìm cô giáo làng bị tật hả? Đó... đó kìa, đang chống nạng đó! Mấy đứa con
tui cũng học ở đó. Cô dạy có tâm lắm! Mấy anh em xe ôm đón khách ở đây hay
nói nhỏ với nhau, cô đang bắc cầu Kiều bằng nạng gỗ ...".
Mở đầu dăm ba câu hỏi thăm, cô Xinh đi thẳng vào chuyện, bằng giọng "rặt"
Quảng. Sinh ra trong một gia đình nghèo, đông anh chị em, lúc mới sinh được 7
tháng, cơn sốt đã làm cho đôi chân cô bại liệt. Thế là, đôi nạng gỗ đã gắn với cô từ
đấy. Mới đầu, nhìn con mình tật nguyền đi lại khó khăn, cha mẹ cô cứ lắc đầu thở
dài.
Vừa nói cô vừa chỉ vào đôi chân đã bị teo nhỏ xíu: "Thấy mấy đứa trẻ trong
xóm cùng tuổi nhởn nhơ xách cặp đi ngoài đường, tôi không chịu ở yên, cứ muốn
lê chân ra ngoài. Rồi tôi đòi gia đình cho đi học, năn nỉ mãi cuối cùng cha mẹ
cũng đồng ý. Buổi sáng đến trường, tôi phải đi thật sớm để khỏi bị muộn, tan học,
đợi bạn bè ra khỏi lớp hết tôi mới lê đôi nạng ra về. Tôi nhớ, lớp học của tôi nằm ở
lầu 2, nên lên xuống cầu thang tôi phải mất 10 - 15 phút, tôi không muốn vì mình
mà các bạn phải đợi.
Những ngày trời nắng đối với tôi là một cực hình, chân tôi chẳng mang được
dép. Trời nắng, đường nóng, có khi đến lớp học cách nhà gần 1km đôi chân tôi
bỏng rộp. Nhiều đứa bạn thương tình đi học cạnh tôi bẻ theo một nắm lá cây tới
chỗ nào nắng thì thả xuống cho tôi đi. Thời đấy nghèo lắm, làm gì có xe đạp, xe
lăn mà đi học. 12 năm trời ròng rã đến trường bằng đôi nạng gỗ, tôi chưa vắng một
buổi học"...
Cô nhìn đồng hồ, đã đến giờ học, đành dở câu chuyện và lê đôi nạng vào lớp.
Nhóm học trò nhanh chóng ngồi vào bàn, điểm danh một lượt, cô ra bài kiểm tra.
Tranh thủ các em làm bài, cô kể tiếp: "Những khiếm khuyết, khổ cực không thể
ngăn cản tôi học, từ năm cấp 1 rồi đến cấp 2, tôi luôn đứng nhứt, nhì trong lớp.
Tôi học đều tất cả các môn học, đến năm cấp 3, tôi thiên về các môn xã hội. Người
ta còn có tiền đi học thêm dưới phố, chứ tôi điều kiện thì chẳng có nên tự học mà
thôi.
Học xong cấp 3, suy đi tính lại mãi, chẳng biết có nên thi vào đại học hay
không? Tôi thích làm giáo viên nhưng tật nguyền như tôi chắc chắn sẽ không đủ
tiêu chuẩn để thi vào trường đó. Nộp đơn thi liều vào khoa Ngoại ngữ của Trường
ĐH Sư phạm Đà Nẵng, nhưng rủi cho tôi chỉ thiếu một ít điểm, thế là giấc mộng
vào đại học không thành. Lẽ nào trở thành gánh nặng cho gia đình suốt đời? Tôi
mạnh dạn đăng ký vào học tại Trung tâm ngoại ngữ và vi tính với ý nghĩ trong
đầu: "Kiến thức này có thể giúp mình tìm được một công việc sau này".
Cô Xinh lê đôi nạng xuống từng bàn chỉ bài cho học sinh.
Đến lớp học tình thương
Sau khi nhận chứng chỉ tin học văn phòng và tiếng Anh, cô Xinh dự định đi tìm
việc làm. "Người có đủ chân tay xin việc còn khó, huống hồ là người khuyết tật
như tôi" - cô nghĩ. Cả xóm lao động nghèo khi người lớn lo bươn chải kiếm ăn
từng bữa, thấy lũ trẻ tóc khét lẹt mùi nắng, người đen nhẻm, ốm nhom thường
chạy chơi ngoài đường, cô kêu lại chỉ chúng bài toán, câu tiếng Anh. Lần nào cũng
được cô chỉ vẽ tận tình dễ hiểu nên bọn trẻ cứ tụm năm tụm ba nhờ cô bày.
Một lần nọ, một phụ huynh dắt đứa trẻ đến nhà đề nghị cô mở lớp dạy kèm, mới
đầu cô e ngại: "Tui rảnh thì giúp mấy đứa nhỏ chứ mở lớp thì không được vì tui
đâu có bằng cấp nghiệp vụ chi mô. Tôi từ chối khéo". Thế nhưng, nhìn mấy đứa
nhỏ suốt ngày chỉ mê chơi, cô cầm lòng không đậu. Đến năm 1995, lớp học tình
thương ra đời. Cô giáo Xinh tiếp nhận tất cả các học sinh nghèo từ cấp 1 đến cấp
2.
Căn nhà cũ kỹ ọp ẹp của gia đình cô với bàn ghế ăn cơm, bàn học được tận dụng
tối đa cho bọn trẻ ngồi. Từ sáng đến chiều, hễ bọn nhỏ cắp sách từ trường trở về là
chạy sang lớp học này. Đến năm 2002, người anh của cô làm lại nhà, UBND
phường, Hội Chữ thập Đỏ quận cũng ủng hộ 5 triệu đồng xây cho một căn phòng
riêng rộng hơn 50m2 ở phía sau để làm phòng dạy học. Lớp học tình thương của
cô Xinh giờ đây ngày 2 buổi sáng chiều đều nghe tiếng bọn trẻ đọc bài ê a.
Buổi tối bắt đầu từ 18 giờ, cô Xinh lại lăn xe ra ngôi nhà 903 Nguyễn Lương
Bằng của người anh trai, mượn phòng sau bếp để dạy cho các học sinh từ lớp 5
đến lớp 7. Cô nói với vẻ tự hào: "Nhiều người nói tôi lo cho thân mình chưa xong