PHẪU THUẬT GIẢI ÉP TỐI THIỂU TRONG ĐIỀU TRỊ
Y NHIỀU MẢNH CÁC ĐỐT SỐNG NGỰC-THẮTNG
TÓM TẮT
Đặt vấn đề. Giải ép lối trước thông thường là cắt gần toàn bthân đốt gãy
và hai đĩa kế cận. Phẫu thuật này tuy hiệu quả, nhưng phức tạp, mất nhiều máu và
mất nhiều xương. Giải ép tối thiểu nhằm bảo tồn phần lớn xương, giảm
thiểu mất máu, tạo thuận lợi lành xương và phục hồi thần kinh.
Phương pháp. Đối tượng là gãy nhiều mảnh các đốt sống ngực-thắt lưng
các mảnh xương chui vào lỗ đốt sống góc sau-trên. Khi mchỉ cắt đĩa gian
đốt trên, phần trên đốt gãy và góc sau-trên để giải ép. Có thể cắt một phần đĩa dưới
để ghép xương. Bảo tồn phần lớn mô xương của đốt gãy. Sau đó là ghép xương và
kết hợp xương. Ghi nhận thời gian mổ, lượng máu cần truyền, theo dõi phục hồi
thần kinh và sự lành xương.
Kết quả. 38 trường hợp được mổ. 25 nam và 13 nữ. Thời gian theo dõi
trung bình 35 tháng. Thời gian mổ trung bình 143 phút. Lượng máu cần truyền
trung bình 92 ml. Trong 33 trường hợp tổn thương thần kinh, tất cđều tiến
triển phục hồi. 30/38 ca lành xương độ I, 7/38 ca lành xương độ II và 1/38 ca
lành xương độ IV.
Bàn luận. Giải ép tối thiểu chỉ cắt một phần thân đốt gãy giúp giảm thời
gian m và lượng máu mất, nhưng vẫn đạt mục tiêu giải ép. Do phần lớn
xương được bảo tồn đã tạo điều kiện cho lành xương và phục hồi chức năng tốt.
Kết luận. Phương pháp giải ép tối thiểu làm cuộc mổ đơn giản, giảm mất
máu, cho kết quả tốt về lành xương và phục hồi thần kinh.
ABSTRACT
MINIMAL DECOMPRESSION IN SURGICAL TREATMENT OF
THORACOLUMBAR BURST FRACTURES
Nguyen Trong Tin * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 12 - No 4 – 2008: 212 -
216
Introduction: The classical decompression procedure consisted of
corpectomy and two adjacent discectomy. This procedure was effective but
complicated with more blood loss and bone loss. The goods of minimal
decompression method were preserving bone tissue, decreasing blood loss and
prompting the bone healing and neurologic recovery.
Objective: To apply the minimal decompression procedure in the
thoracolumbar burst fractures patients with retropulsion of the bone fragments into
the canal at posterior upper part of the vertebral body.
Methods: Minimal decompression procedure is only remove the upper disc
and upper part of the fractured vertebral body. Majority of bone was preserved.
Lower disc may be preserved or partially removed for fusion and instrumentation.
Results: Minimal from decompression procedure was performed in 38
cases (25 males and 13 females). Follow-up time ranged 15 to 62 months (mean,
35 months). Average operation time was 143 minutes. Average transfused blood
was 92 ml. Neurologic improvement showed in all 33 neurologic deficit patients
after surgery. Of the 38 cases were operated, 30 cases showed grade I fusion, 7
cases grade II and 1 case grade IV.
Conclusion. Minimal decompression decreased the operation time and blood loss
and achieved goal of decompression. The majority of bone tissue was preserved
that facilitated bone healing and rehabilitation.
MỞ ĐẦU
y nhiều mảnh các đốt sống ngực-thắt ng một chấn thương phổ biến của
ct sống nói chung và vùng cột sống ngực và thắt lưng nói riêng. Gãy nhiu mảnh
cũng là nguyên nhân chính gây liệt hai chân và tiểu đòi hi phải mgiải ép thần
kinh. chế y chèn ép thn kinh là do khi thân đốt sống bgãy, mt số mảnh
ơng chui vào lỗ đốt sống gây chèn ép thn kinh. Tuỳ vào tng loại gãy kc nhau
mà v t mảnh ơng chui vào lỗ đốt sống ng kc nhau. Theo c giả Denis, gãy
nhiu mảnh (loại II) được chia làm năm phân nhóm nhỏ là gãy IIA, IIB, IIC, IID
IIE(Error! Reference source not found.). Trong đó gãy IIB ph biến nhất. Đặc điểm loại gãy
y tn thương chủ yếu tấm cùng trên (phn trên thân đốt) nên vtrí các mảnh
ơng chui vào lđốt sốngng ở phần trên thân đốt.
hai phương pháp phẫu thuật giải ép chính, là gii ép lối sau và giải ép lối
trước. Giải ép lối sau hai phương pp cắt bảng sống và dùng dng cụ o căng
nhằm lợi dụng dây chằng dọc sau đẫyc mảnh xương về vtrí(Error! Reference source not
found.). Cả hai phương pháp này không gii ép trực tiếp, kết quả hạn chế nên ít được s
dng. Giải ép lối trước là cắt thân đốt gãy cùng hai đĩa gian đốt kế cận để vào lỗ đốt
sng lấy ra hết các mảnh xương gãy. Đây phương pháp giải ép trực tiếp, cho kết
qugiải ép tốt. Tuy nhiên, đây phẫu thuật lớn, phức tạp và tàn phá nhiều vì phần
ln mô xương đốt y b lấy bỏ. Phẫu thuật y thường y chảy máu nhiều nên cần
phải truyền máu lúc mổ. Phẫu thuật tàn phá nhiều nên làm ct sống mất vững nghiêm
trọngn và sau khi gp xương thì xương lành cũng lâu hơn do mất đoạnơng khá
i.
Đề tài này nghiên cu một phương pháp giải ép lối trước vừa đủ (xin tạm gọi
ti thiểu) sao cho đạt được mục tiêu gii ép mà vẫn giữ lại được phần lớn
ơng nhằm hạn chế chảy u c mổ và tạo điều kiện tốt cho quá trình lành xương
và phục hồi chức ng của người bệnh. Đề tài này không đi u nghiên cứu phương
tiện kết hợp xương.
PHƯƠNG PHÁP
Đối ợng nghiên cu là bệnh nhân gãy nhiu mảnh c đốt sống ngực-thắt
ng mảnh ơng chui o ống sống khu trú phần trên thân đốt gãy. Như vậy
thlà loi loại IIB và một số trường hợp gãy loại IIA theo phân loại Denis.
Chđịnh phẫu thuật giải ép:
- Hoặc tổn thương thần kinh như rối loạn vận động, cảm giác hoặc cơ vòng.
- Hoặc mất vững cột sống (góc gù trên 30 đ(Error! Reference source not found.))
- Hoc c mảnh ơng chui o lỗ đốt sống gây hẹp từ 50% trlên lđốt
sng(Error! Reference source not found.).
Phương pháp
Chun bị bệnh nhân như kinh điển: gây mê nội khí quản, nằm nghiên phải,
đường vào trước- bên hoc đường ngực, hoặc đường bụng hoặc phối hợp ngực-bụng.
Ni dung chính của phẫu thuật lối trước gồm: giải ép, ghép xương kết hợp
ơng bằng dụng cụ. Phẫu thuật giải ép kinh điển là ct bỏ gần toàn bộ thân đốt sống