Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh THPT thông qua bài Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:29

9
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu sáng kiến "Giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh THPT thông qua bài Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam" nhằm giáo dục HS kiến thức cơ bản về lịch sử đánh giặc giữ nước của dân tộc ta, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, tài thao lược đánh giặc của dân tộc, ông cha ta; Góp phần giáo dục HS về lịch sử, truyền thống đánh giặc giữ nước của nhân dân Con Cuông; Hình thành thái độ, hành vi đúng đắn trong việc giữ gìn, bảo tồn các địa điểm, cách di tích lịch sử trên địa bàn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh THPT thông qua bài Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA BÀI TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LĨNH VỰC: GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
  2. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT CON CUÔNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA BÀI TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM LĨNH VỰC: GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH Người thực hiện: Nguyễn Văn Nghĩa Trần Danh Cường Tổ chuyên môn: Khoa học xã hội Năm thực hiện: 2021 - 2022 Điện thoại: 0914968886 Con Cuông, tháng 4 năm 2022
  3. MỤC LỤC PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................... 4 1.1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................. 4 1.2. Mục đích và ý nghĩa của đề tài. ...................................................................... 5 1.2.1. Mục đích. .................................................................................................. 5 1.2.2. Ý nghĩa của đề tài. .................................................................................... 5 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................... 6 1.3.1. Đối tượng. ................................................................................................. 6 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu. ................................................................................. 6 1.4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu. .......................................................... 6 1.4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu. ............................................................................... 6 1.4.2. Phương pháp nghiên cứu. ......................................................................... 6 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .................................................................... 7 2.1. Cơ sở lí luận. ................................................................................................... 7 2.1.1. Lí luận chung về giáo dục truyền thống lịch sử và cách mạng. ............... 7 2.1.2. Vai trò của môn Giáo dục quốc phòng - An ninh trong việc giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh. .................................................................. 7 2.2. Cơ sở thực tiễn. ............................................................................................... 8 2.3. Thu thập, xử lý thông tin................................................................................. 9 2.3.1. Đối tượng và thời gian thực hiện. ............................................................. 9 2.3.2. Phương pháp tiến hành. ............................................................................ 9 2.3.3. Tổ chức thu thập, xử lí thông tin............................................................... 9 2.4. Thực nghiệm sư phạm................................................................................... 13 2.4.1. Mục đích ................................................................................................. 13 2.4.2. Nội dung thực nghiệm. ........................................................................... 14 2.4.3. Phương pháp tiến hành. .......................................................................... 14 2.4.4. Tiến hành áp dụng thực tế trên bài giảng có thêm phần mở rộng về tìm hiểu lịch sử, truyền thống cách mạng ở địa phương. ........................................ 14 2.5. Kết quả thực nghiệm. .................................................................................... 21 2.5.1. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập .......................................................... 21 2.5.2. Kết quả kiểm tra đánh giá. ...................................................................... 21 2.5.3. So sánh kết quả đối chiếu. ...................................................................... 22 1
  4. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................. 24 3.1. Một số điểm mới, sáng tạo, khoa học trong phương pháp lồng ghép giáo dục lịch sử, truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh THPT qua môn học GDQP – AN. ........................................................................................................ 24 3.2. Những bài học kinh nghiệm. ......................................................................... 24 3.3. Khả năng ứng dụng và triển khai đề tài. ....................................................... 25 3.4. Những kiến nghị, đề xuất. ............................................................................. 25 2
  5. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT GDQP – AN: Giáo dục quốc phòng – An ninh GD&ĐT: Giáo dục và đào tạo XHCN: Xã hội chủ nghĩa THPT : Trung học phổ thông HS: Học sinh SGK: Sách giáo khoa 3
  6. PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. Lí do chọn đề tài. Môn học Giáo dục Quốc phòng – An ninh (GDQP - AN) là bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân là môn học chính khoá trong chương trình giáo dục cấp Trung học phổ thông hiện đang được xã hội và ngành Giáo dục quan tâm. Giáo dục quốc phòng bao gồm kiến thức khoa học xã hội, nhân văn, khoa học tự nhiên và khoa học kĩ thuật quân sự. Là môn học được thể hiện trong đường lối giáo dục của Đảng và thể chế hóa bằng các văn bản pháp quy của Nhà nước, nhằm góp phần đào tạo những con người có đủ phẩm chất và năng lực làm tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong những năm đất nước có chiến tranh, nhờ có chương trình huấn luyện quân sự trong các nhà trường, thanh niên trước khi nhập ngũ đã có kiến thức quân sự phổ thông, rút ngắn được thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, tham gia tích cực trong cuộc kháng chiến chống Mĩ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc. Nhiều tấm gương cao đẹp là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường đã trở thành anh hung, dũng sĩ trong chiến đấu và lao động xây dựng đất nước. Ngoài việc nâng cao dân trí về quốc phòng, GDQP - AN góp phần giáo dục ý thức trách nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc, giáo dục lòng tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc, xây dựng ý thức tổ chức, kỉ luật, coi trọng nếp sống tập thể, mình vì mọi người, chống thói ích kỉ; cùng với các hoạt động khác đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn xã hội. Hơn nữa, đất nước ta đã trải qua bao nhiêu thăng trầm bể dâu mới có được hòa bình và nền độc lập như hôm nay. Đó là nhờ vào sự nỗ lực cống hiến cũng như tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước sâu sắc của mỗi thế hệ. Cho đến ngày nay, lòng yêu nước vẫn luôn là thứ tình cảm thiêng liêng cần được trân trọng và phát triển hơn nữa. Nhận thấy ý nghĩa đó, năm 2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/NĐ- CP, quy định GDQP-AN là môn học chính khoá trong hệ thống giáo dục - đào tạo (GD-ĐT). Nhờ đó, công tác GDQP-AN đã có bước phát triển mới cả bề rộng và chiều sâu, chất lượng ngày càng cao. Qua đó, đã giáo dục cho thế hệ học sinh về những chủ trương, quan điểm cơ bản của Đảng về quốc phòng - an ninh, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng và rèn luyện những kỹ năng quân sự cần thiết, để tuổi trẻ góp phần vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nội dung “Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” trong chương trình lớp 10, môn GDQP và AN là một nội dung quan trọng của chương trình, giảng dạy lịch sử và truyền thống đánh giặc của ông cha ta có một ý nghĩa rất lớn đối với học sinh nói chung và học sinh miền núi Con Cuông nói riêng. Qua đó cung cấp được cho học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử, về truyền thống đánh giặc giữ nước, giúp các em hiểu được thế nào là lịch sử, truyền thống đánh giặc giữ nước cả dân tộc ta, ý thức được trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng tình yêu quê 4
  7. hương đất nước và góp phần giữ gìn và phát huy các truyền thống vẻ vang của dân tộc ta trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước, đồng thời biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sẵn sàng tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Việc giáo dục truyền thống cách mạng cho học sinh miền núi trong nhà trường THPT nói chung và trường THPT Con Cuông nói riêng đã được thực hiện, nhưng nhìn chung chưa thật toàn diện và hiệu quả, một số giáo viên đang nặng về lý thuyết, chưa chú trọng nhiều về hoạt động thực nghiệm và giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy các truyền thống cách mạng, tình yêu quê hương đất nước cho học sinh, do đó nhận thức của các em về vấn đề này còn nhiều hạn chế. Lịch sử của một dân tộc, một địa phương là cả một tài sản quý giá, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia, mỗi địa phương, là niềm kiêu hãnh trước bạn bè quốc tế, là sự hãnh diện của một địa phương với bạn bè trong nước và trong khu vực. Nó khẳng định sức mạnh của dân tộc và cần được giáo dục, xây dựng, vun đắp cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau. Vì lẽ đó mà chúng tôi chọn đề tài: “Giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh THPT thông qua bài Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” để viết sáng kiến kinh nghiệm này. 1.2. Mục đích và ý nghĩa của đề tài. 1.2.1. Mục đích. Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích: - Đổi mới phương pháp giảng dạy, tạo hứng thứ học tập, tìm kiếm, lĩnh hội kiến thức mới cho học sinh. - Giáo dục HS kiến thức cơ bản về lịch sử đánh giặc giữ nước của dân tộc ta, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, tài thao lược đánh giặc của dân tộc, ông cha ta. - Góp phần giáo dục HS về lịch sử, truyền thống đánh giặc giữ nước của nhân dân Con Cuông. - Hình thành thái độ, hành vi đúng đắn trong việc giữ gìn, bảo tồn các địa điểm, cách di tích lịch sử trên địa bàn. 1.2.2. Ý nghĩa của đề tài. - Tác động trực tiếp đến đối tượng là người học, tăng tính hấp dẫn, thu hút được đông đảo học sinh tham gia. - Định hướng, giáo dục, tuyên truyền tình yêu quê hương đất nước thông qua bài dạy lịch sử đánh giặc giữ nước của dân tộc tới tất cả các đối tượng học sinh THPT nói chung và học sinh trường chúng tôi nói riêng. - Trên cơ sở kiến thức được học, tích lũy của bản thân giúp học sinh hiểu thêm về lịch sử, truyền thống và nghệ thuật quân sự mà cha ông ta đã xây dựng đúc rút, phát triển lên tầm cao mới qua hàng nghìn năm đánh giặc ngoại xâm qua đó các em 5
  8. làm tốt nhiệm vụ tuyên truyền cho gia đình, người thân, bạn bè…về những trang sử hào hùng của dân tộc ta đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc. 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 1.3.1. Đối tượng. - Giáo viên giảng dạy môn GDQP – AN ở trường THPT Con Cuông. - Học sinh lớp 10 trường THPT Con Cuông trong việc giáo dục truyền thống cách mạng tại một số địa danh lịch sử trên địa bàn. Cụ thể năm học 2021 – 2022 chúng tôi lựa chọn đối tượng là: Lớp thực nghiệm: 10C2 (44 học sinh), 10C4 (44 học sinh). Lớp đối chứng: 10C3 (43 học sinh), 10C5 (43 học sinh). Các lớp được chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về tỉ lệ giới tính, ý thức học tập, năng lực học tập, thái độ học tập với môn học. 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu. - Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu “Giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh THPT thông qua bài Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” vào dạy học Bài 1: Truyền thống đánh giặc gữ nước của dân tộc Việt Nam (SGK GDQP – AN lớp 10) ở trường THPT chúng tôi. - Thời gian thực hiện: Năm học 2021 - 2022. 1.4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu. 1.4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của nội dung giáo dục lịch sử, truyền thống đánh giặc giữ nước để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong học tập môn GDQP - AN, giữ gìn và phát huy truyền thống yêu nước gắn với giữ gìn và bảo tồn các di tích lịch sử tại địa phương. - Khảo sát thực trạng việc xây dựng và sử dụng phương pháp trong dạy học 1: (SGK GDQP – AN lớp 10) HS ở trường chúng tôi. - Tổ chức thực nghiệm sư phạm. 1.4.2. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu, thông tin - Phương pháp so sánh trước và sau khi tác động vào giáo dục Lịch Sử địa phương cho học sinh. - Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, tranh ảnh… 6
  9. PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1. Cơ sở lí luận. 2.1.1. Lí luận chung về giáo dục truyền thống lịch sử và cách mạng. Giáo dục truyền thống lịch sử và cách mạng có ý nghĩa lớn lao trong việc xây dựng con người mới. Nhớ về cội nguồn với những hy sinh cao đẹp của cha ông cho đất nước có tác dụng nuôi dưỡng tư tưởng, tâm hồn thế hệ sau để họ sống và làm việc xứng đáng với các thế hệ đi trước. Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã viết nên những trang sử hào hùng. Truyền thống đó đã đem đến cho mỗi người chúng ta niềm tự hào và sức mạnh tinh thần trong cuộc sống hôm nay. Giáo dục truyền thống lịch sử và cách mạng thật sự có ý nghĩa lớn lao trong việc xây dựng con người mới. Nhớ về cội nguồn và hiểu sâu sắc những bước đi đầy chông gai của cha ông, những hy sinh cao đẹp của lớp lớp người con ưu tú trên giang sơn này có tác dụng nuôi dưỡng tư tưởng, tâm hồn con người để sống và làm việc xứng đáng với các thế hệ đi trước. Có nhiều cách để giáo dục truyền thống, trước hết là ở trường học thông qua môn học lịch sử, giáo dục quốc phòng an ninh. Ðiều đáng suy nghĩ là, những năm gần đây kết quả học tập nội dung này của học sinh quá kém. Phải chăng bộ môn này chưa được quan tâm đúng mức, chưa có phương pháp giảng dạy sinh động hấp dẫn? Nhiều học sinh chưa thuộc sự kiện lịch sử nói gì đến việc hiểu và thấm sâu ý nghĩa của các sự kiện đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Dân ta phải biết sử ta". Lớp học sinh ngồi trên ghế nhà trường không thuộc sử, sau này khi ra trường bị cuốn hút vào công việc hằng ngày làm sao còn có điều kiện học sử nữa. Ngoài việc học tại trường lớp còn có nhiều hoạt động khác để hiểu biết về lịch sử đất nước. Các nhà truyền thống, các di tích tại đia phương là nơi học tập truyền thống sinh động bởi ở đó có những hình ảnh, hiện vật dễ gây ấn tượng và dễ nhớ. Những sản phẩm văn hóa mang nội dung lịch sử có ý nghĩa giáo dục truyền thống lớn. Tuy nhiên trong thực tế loại sản phẩm này lại hiếm, hoạt động trải nghiệm cho học sinh còn quá ít. Đây là hoạt động tốt để tuyên truyền, giáo dục lịch sử, truyền thống của dân tộc. Công tác giáo dục truyền thống lịch sử và cách mạng cần được vận dụng bằng nhiều hình thức sinh động, phong phú nhằm thấm sâu vào mỗi người lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần tự hào dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 2.1.2. Vai trò của môn Giáo dục quốc phòng - An ninh trong việc giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh. Như chúng ta đã biết, Giáo dục quốc phòng an ninh là một môn học có ý nghĩa rất quan trọng góp phần xây dựng tình yêu quê hương đất nước cho thế hệ trẻ, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà Thế giới và cả Việt Nam đã có rất nhiều thay đổi trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Là bộ môn khoa học trực tiếp tập trung vào việc xây dựng cho học sinh THPT có được thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng, lập trường vững vàng, không bị tha hoá, biến chất, có lý tưởng 7
  10. sống, có hoài bão và ước mơ cao đẹp, có ý chí vươn lên trong cuộc sống, có ý thức bảo vệ chủ quyền của dân tộc. Môn học Giáo dục quốc phòng – an ninh có nhiều ưu thế trong việc giáo dục các kỹ năng quân sự cũng như truyền thống của dân tộc, tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ...Những con người và những việc thực của quá khứ có sức thuyết phục, có sự rung cảm mạnh mẽ với thế hệ trẻ. Giáo dục quốc phòng không phải chỉ giáo dục cho học sinh tình cảm yêu, ghét trong đấu tranh giai cấp, những hiểu biết về chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà còn bồi dưỡng cho các em biết yêu quý lao động, yêu cái đẹp, có óc thẩm mĩ, biết cách ứng xử đúng đắn trong cuộc sống. Hơn thế nữa, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức nói chung và giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh nói riêng là một trong những nhiệm vụ của bộ môn Giáo dục quốc phòng – an ninh ở trường phổ thông mà người giáo viên phải quán triệt và thực hiện nhằm góp phần xây dựng con người mới XHCN. 2.2. Cơ sở thực tiễn. Hiện nay đa số giáo viên giảng dạy môn GDQP – AN nói chung và nội dung “Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” nói riêng, chủ yếu đang dạy theo phương pháp truyền thống, truyền tải kiến thức theo một chiều chứ chưa chú trọng đến các hoạt động trải nghiệm thực tiễn dẫn đến giờ học kém sôi nổi, chưa hứng thú, chưa hấp dẫn được học sinh. Dẫn đến học sinh vẫn còn thụ động chưa thật sự tự lực trong vấn để phát hiện ra kiến thức mới, chưa đam mê với môn học. Con Cuông là huyện miền núi cao biên giới của tỉnh Nghệ An, Toàn huyện có có 13 xã, thị trấn, 124 thôn (bản), Có ba dân tộc cùng sinh sống gồm: dân tộc Thái, Kinh, Đan Lai, Toàn huyện có hai trường THPT: THPT Con Cuông và THPT Mường Quạ. Đa số học sinh của trường là người dân tộc thiểu số, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, nên nhận thức của các em có phần hạn chế, quan điểm học tập của các em cũng rất đơn giản, chưa ý thức được là học để tiếp thu kiến thức sau này góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính những quan điểm đó cũng đã gây khó khăn cho công tác dạy học của giáo viên môn GDQP – AN tại trường THPT miền núi Con Cuông. Học sinh THPT Con Cuông là những em có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị đội ngũ có trình độ, có tri thức cho các dân tộc, đồng thời là những hạt nhân tiêu biểu của dân tộc thiểu số ở địa phương. Việc giáo dục lịch sử, truyền thống đánh giặc giữ nước cho học sinh trường THPT Con Cuông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nếu làm tốt sẽ tạo ra sự tương tác hiệu quả nhất giữa GV và HS, gắn liền lý luận với thực tiễn điều này sẽ có tác động lớn đến sự hình thành ý thức tích cực trong việc giữ gìn và phát huy các truyền thống của dân tộc, của địa phương và sãn sàng tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 8
  11. 2.3. Thu thập, xử lý thông tin. 2.3.1. Đối tượng và thời gian thực hiện. * Đối tượng: Các di tích lịch sử gắn liền với truyền thống đánh giặc giữ nước của địa phương. * Thời gian thực nghiệm: Năm học 2021 – 2022. 2.3.2. Phương pháp tiến hành. - Xây dựng nội dung, kế hoạch cụ thể thông qua tổ, nhóm chuyên môn phê duyệt. - Tham khảo ý kiến góp ý của các giáo viên trong nhóm GDQP – AN và tổ xã hội về nội dung, hình thức tổ chức, những thuận lợi và khó khăn khi tiến hành thực nghiêm giáo dục lịch sử, truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh gắn với bài “Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam” môn GDQP – AN lớp 10. - Tiến hành thu thập và xử lí các tư liệu, minh chứng về lịch sử, truyền thống đánh giặc của địa phương. 2.3.3. Tổ chức thu thập, xử lí thông tin. Địa điểm 1: Bia Ma Nhai - Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Bia Ma Nhai (còn gọi là bia Thành Nam) là di tích lịch sử tại xã Chi Khê, gắn liền với chiến công của quân dân nhà Trần chống giặc Ai Lao. Bia được khắc vào vòm núi trước cửa hang đá, nằm cách thị trấn Con Cuông khoảng 300m về phía Tây Nam, nét chữ to bằng bàn tay, khắc sâu hơn 1 tấc. Ảnh: Hang núi nơi khắc văn bia 9
  12. Theo sử cũ, năm 1335, bọn cướp từ Ai Lao thường xuyên sang quấy phá, cướp bóc các bản làng vùng Tây Nam Nghệ An. Vua Trần Hiến Tông đích thân vào đốc chiến. Đại bản doanh đặt tại núi Cự Đồn, Mật Châu (nay thuộc địa phận xã Chi Khê). Với chiến thuật vừa tập kích tiêu diệt vừa chiêu dụ gọi hàng của vua quan nhà Trần, các đảng cướp dần dần tan rã và rút lui về bên kia biên giới. Duy chỉ có tên giặc Bổng không chịu khuất phục. Vì công việc triều đình, vua Trần Hiến Tông phải về Thăng Long; nhân cơ hội đó, giặc Bổng lại quấy phá mạnh hơn. Sau đó, Thượng hoàng Trần Minh Tông thân chinh lên Mật Châu dẹp giặc. Nguyễn Trung Ngạn được triều đình cử làm phát vận sứ chuyển lương đi trước. Trước binh hùng tướng mạnh của nhà Trần, Bổng đầu hàng, xin tha tội chết. Nội dung bia Ma Nhai như sau: “Đời vua thứ sáu triều Trần nước Đại Việt, Thái thượng hoàng đế Chương Nghiêu Văn Triết nhận được mệnh trời thương mến, làm chủ cả cõi Trung hạ, khắp trong đất ngoài bể không ai không thần phục, thế mà Ai Lao nhỏ bé kia còn ngang ngạnh với giáo hóa của triều đình. Cuối thu năm Ất Hợi, Thượng hoàng thống lĩnh sáu quân đi tuần ở cõi Tây. Thế tử nước Chiêm Thành, nước Chân Lạp, nước Xiêm và tù trưởng đạo thần là Quỳ, Cầm, Xa, Lặc rồi các bộ Mán mới phụ thuộc là tù trưởng rợ Bôi Bồn và rợ Thanh Xa đều dâng sản vật của địa phương mình và tranh nhau đón rước. Chỉ một mình tên giặc Bổng cứ giữ thói u mê sợ tội mà chưa tới chầu ngay. Đến cuối đông, Thượng hoàng đóng quân ở cánh đồng Cự Đồn thuộc Mật Châu rồi lệnh cho các tướng cùng quân lính mọi rợ vào nơi ở của chúng. Tên giặc nghịch Bổng nghe uy thế liền trốn chạy, (Thượng hoàng) bèn xuống chiếu đem quân về. Ngày tháng 12 nhuận, mùa Đông năm Ất Hợi, niên hiệu Khai Hựu thứ 7, khắc vào đá”. Ảnh: Tấm văn bia khắc trên đá. Bia Ma Nhai đã được Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia. 10
  13. Địa điểm 2: Nhà cụ Vi Văn Khang - di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia. Ngôi nhà của cụ Vi Văn Khang nằm bên bờ sông Giăng thuộc bản Thái Hoà, xã Môn Sơn, cách thị trấn Con Cuông 20 km về phía Nam. Ảnh: Nhà cụ Vi Văn Khang Ngôi nhà do bố đẻ của cụ Vi Văn Khang xây dựng từ năm 1919 theo kiểu nhà sàn truyền thống của người Thái trên vùng đất rộng khoảng 1000m2. Nhà gồm 3 gian, 2 hồi, cầu thang lên xuống đặt ở hai bên. Khung nhà bằng gỗ, mái lợp lá cọ, vách ngăn bằng phên nứa, sàn lát bằng gỗ, có 12 cột kê bằng đá tảng tròn. Tầng trên đặt bàn thờ, nơi tiếp khách, phòng ngủ, bếp. Phòng ngủ có một tấm sàn cao để lúa; khi có động, các chiến sỹ cách mạng lên đó ẩn nấp. Dưới sàn để nông cụ, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Xung quanh là khu vườn rộng trồng cây ăn quả. Đầu năm 1931, các đồng chí Lê Xuân Đào (Trưởng ban Tài chính của Xứ uỷ Trung kỳ), Lê Mạnh Duyệt và Nguyễn Hữu Bình (Đặc phái viên của Tỉnh ủy Nghệ An) lên Môn Sơn xây dựng phong trào cách mạng. Được cán bộ Đảng giác ngộ, cụ Vi Văn Khang hăng say tham gia hoạt động cách mạng. Chỉ trong một thời gian ngắn, cụ đã vận động được nhiều thanh niên như Vi Văn Hanh, Vi Văn Quí, Vi Văn Lâm, Hà Văn Hoa, Vi Văn Noọng, Vi Thị Lan, Hà Văn Thị cùng tham gia hoạt động. Nhờ đó, nhân dân Môn Sơn đã giác ngộ cách mạng, biết đoàn kết, đấu tranh. Nhiều quần chúng tích cực rải truyền đơn, bảo vệ, nuôi dưỡng cán bộ Đảng. Tháng 4 năm 1931, chi bộ Đảng Môn Sơn được thành lập tại nhà cụ Vi Văn Khang gồm có 6 đồng chí, do cụ Vi Văn Khang làm Bí thư. Đây là chi bộ đầu tiên ở miền núi vùng cao Nghệ An. Tại ngôi nhà này, cơ sở Đảng đã bí mật in tài liệu, truyền đơn, đem đi rải khắp các bản làng. Đêm đêm, bà con thường tập trung tại đây để học chữ, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ. Từ đó phong trào Môn Sơn chuyển sang thời kỳ đấu tranh mới. Môn Sơn trở thành đầu mối liên lạc giữa cách mạng miền xuôi và miền ngược, giữa phong trào 11
  14. của đồng bào Kinh với các dân tộc miền núi Nghệ An. Ảnh: Đồng Chí Tòng Thị Phóng, nguyên phó chủ tịch Quốc hội thắp hương tại Di tích nhà cụ Vi Văn Khang Nhờ sự hoạt động tích cực của chi bộ Đảng, các tổ chức quần chúng như nông hội đỏ, tự vệ đỏ… ở Môn Sơn lần lượt ra đời; khí thế cách mạng của quần chúng ngày càng lên cao. Ngày 9/8/1931, chi bộ Đảng đã lãnh đạo nhân dân biểu tình, kéo đến nhà Chánh đoàn Ba Uôn tịch thu lúa, tiền, vải, bạc nén chia cho những gia đình nghèo. Bốn ngày sau, thực dân Pháp cho lính vào Môn Sơn đàn áp, bắt đi 30 người và 3 đồng chí đảng viên trung kiên (Vi Văn Khang, Vi Văn Hanh, Trần Ngân). Số đảng viên còn lại rút vào rừng hoạt động bí mật để nhen nhóm lại phong trào. Ngôi nhà cụ Vi Văn Khang đã được Bộ Văn hoá - Thông tin ra Quyết định số 152/QĐ-BT ngày 25/1/1994 xếp hạng là di tích lịch sử cách mạng cấp Quốc gia. Từ năm 1994, ngày thành lập chi bộ Đảng đã trở thành ngày lễ hội truyền thống văn hoá hàng năm của nhân dân Môn Sơn. Các hoạt động lễ hội được tổ chức tại nhà cụ Vi Văn Khang và cây đa Cồn Chùa. Địa điểm 3: Cây đa Cồn Chùa, nơi ra đời của Chi bộ Môn Sơn - chi bộ Đảng đầu tiên ở miền Tây xứ Nghệ. Cây đa Cồn Chùa ở làng Môn, xã Môn Sơn là di tích lịch sử gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân Con Cuông thời kỳ 1930 - 1931. Tháng 4/1931, chi bộ Đảng xã Môn Sơn được thành lập do đồng chí Vi Văn Khang làm bí thư. Vừa mới thành lập, chi bộ đã tổ chức được các đoàn thể quần chúng như Nông hội, Thanh niên, Hội cứu tế đỏ… Riêng tại Môn Sơn đã có 5 tổ Nông hội đỏ. Ngày 9/8/1931, chi bộ Đảng Môn Sơn đã vận động quần chúng ở các bản Kẻ Yên, Sơn Vều, Khe Môn, Động Khùa, Cửa Rào, Bàu Dạ, Kẻ Tại… mít tinh tại cây đa Cồn Chùa. Lần đầu tiên ở Con Cuông, lá cờ đỏ búa liềm được tự vệ đỏ treo trên cây đa Cồn Chùa. Với khí thế hừng hực, đoàn biểu tình gồm 300 người tuần hành thị uy, dương cao cờ đỏ búa liềm và 12
  15. các khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Pháp!”, “Đả đảo Nam triều phong kiến!”, đòi miễn sưu, hoãn thuế và đến những nhà giàu để vay lúa. Đoàn biểu tình kéo đến nhà Phó tổng và Chánh đoàn phu là những kẻ giàu nhất trong vùng vay lúa cứu đói cho dân địa phương và tiếp tế cho số đồng bào Phúc Sơn (huyện Anh Sơn) vì bị địch khủng bố phải đến lánh nạn ở đây. Đoàn biểu tình vây chặt nhà Ba Uôn - một tên chánh đoàn gian ác trong vùng, buộc người nhà Ba Uôn phải đưa 5 tạ lúa, tiền, bạc nén nộp cho cách mạng. Bọn thổ ty và hào trưởng các thôn bản đều bỏ chạy, hoặc nằm im. Ngày 13/8/1931, thực dân Pháp đưa quân vào đàn áp. Chúng bắt đi 30 người và 3 đồng chí đảng viên: Vi Văn Khang, Vi Văn Hanh, Trần Ngân. Ảnh: Cây đa Cồn Chùa, nơi treo cờ búa liềm tập trung nhân dân Môn Sơn đấu tranh tháng 8/1931 Hiện nay, cây đa Cồn Chùa vẫn sừng sững đứng đó như một minh chứng hùng hồn cho tinh thần đấu tranh cách mạng kiên cường của nhân dân Con Cuông dưới sự lãnh đạo của Đảng. 2.4. Thực nghiệm sư phạm. 2.4.1. Mục đích. Xuất phát từ tình hình thực tiễn dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT hiện nay cùng với việc phân tích tầm quan trọng của việc gắn dạy học lịch sử đánh giặc giữ nước ở trường THPT với thực tiễn địa phương nhằm giáo dục lịch sử, truyền thống cách mạng của nhân dân cho học sinh tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm gắn dạy học với thực tiễn. Để kiểm chứng, khẳng định tính khả thi của 13
  16. đề tài và khả năng áp dụng vào thực tế một cách có hiệu quả tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm. 2.4.2. Nội dung thực nghiệm. Chúng tôi tiến hành thực nghiệm qua bài 1: Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam – Môn GDQP – AN lớp 10. Để tránh hiện tượng, ôm đồm, sử dụng nhiều tài liệu lịch sử, truyền thống của địa phương dẫn đến địa phương hóa bài học, hoặc sử dụng tài liệu còn sơ sài, gò gượng, áp đặt, ảnh hưởng đến nội dung và mục tiêu giáo dục của bài học nên trong quá trình nghiên cứu, soạn bài và đọc tài liệu tham khảo, chúng tôi lựa chọn những nội dung tư liệu về lịch sử, về phong trào cách mạng sau đây để đưa vào bài giảng: Chi bộ Đảng đầu tiên ở miền Tây Nghệ An; Bia ma nhai – Di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia; Nhà cụ Vi Văn Khang – Di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia. 2.4.3. Phương pháp tiến hành. - Đối với giáo viên: + Nghiên cứu bài giảng, đọc tài liệu tham khảo có liên quan. + Lên kế hoạch, lựa chọn những tư liệu, hình ảnh thực tế lịch sử về phong trào cách mạng, truyền thống đánh giặc của nhân dân địa phương. + Trao đổi với đồng nghiệp. + Xây dựng kế hoạch và áp dụng vào thực tiến bài giảng. + Hướng dẫn học sinh cùng sưu tầm tài liệu, hình ảnh thực tế lịch sử địa phương, tài liệu về phong trào Cách mạng trên địa bàn huyện Con Cuông. Trong các tiết học của bài, giáo viên ứng dụng CNTT nhằm mục đích để học sinh quan sát hình ảnh để hiểu rõ hơn về quá trình đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam, của địa phương Con Cuông và qua hình ảnh trực quan kết hợp giảng dạy học sinh sẽ nắm sâu hơn kiến thức cũng như nhớ kiến thức lâu hơn. - Đối với học sinh: Để chuẩn bị cho bài giảng, với tinh thần phát huy vai trò chủ động sáng tạo của học sinh, chúng tôi hướng dẫn học sinh sưu tầm các nguồn tư liệu, hình ảnh thực tế về lịch sử, truyền thống đánh giặc giữ nước của nhân dân huyện Con Cuông có liên quan đến bài học. Định hướng về nội dung, tư vấn các địa chỉ có thể sưu tầm nguồn tư liệu lịch sử ở huyện Con Cuông có liên quan. Thời gian chuẩn bị: Trong khoảng hai tuần, các em thực hiện công tác sưu tầm tài liệu và nộp lại bằng văn bản cho giáo viên để kiểm tra quá trình chuẩn bị của học sinh. 2.4.4. Tiến hành áp dụng thực tế trên bài giảng có thêm phần mở rộng về tìm hiểu lịch sử, truyền thống cách mạng ở địa phương. Cấu trúc giáo án cũng tương tự như giáo án thông thường nhưng có thêm phần mở rộng về tìm hiểu lịch sử, truyền thống cách mạng ở địa phương. 14
  17. Cụ thể, chúng tôi thiết kế giáo án giảng dạy có lồng ghép nội dung như sau: BÀI 1: TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM TIẾT 2: LỊCH SỬ ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM (Mục 3, 4, 5, 6 SGK) I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức: Hiểu được những kiến thức cơ bản về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. 2. Năng lực - Năng lực chung: Năng lực tự học; Năng lực hợp tác; Năng lực thẩm mỹ; Năng lực giao tiếp - Năng lực chuyên biệt: + Bước đầu hình thành ý thức trân trọng với truyền thống dân tộc Việt Nam trong đấu tranh dựng nước và giữ nước qua các thời kỳ. + Xác định trách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc. 3. Phẩm chất - Phát huy tinh thần, ý chí kiên cường và đoàn kết dân tộc. - Có thái độ học tập và rèn luyện tốt, sẵn sàng tham gia vào sự nghiệp xd và bảo vệ tổ quốc. II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU 1. Giáo viên - Tranh ảnh về lịch sử đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam. - Hình ảnh, video thực tế về các di tích lịch sử trên địa bàn huyện Con Cuông. - Sách giáo khoa GDQP – AN lớp 10. 2. Học sinh - Đọc trước bài 1 trong SGK GDQP – AN lớp 10. - Tham quan, tìm hiểu các di tích lịch sử trên địa bàn huyện Con Cuông. III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC A. HOẠT ĐỘNG MỞ ĐẦU (2 phút) a. Mục tiêu: Tạo tâm thế cho học sinh đi vào tìm hiểu bài mới. b. Nội dung: GV giới thiệu bài mới c. Sản phẩm: HS lắng nghe GV 15
  18. d. Tổ chức thực hiện: Giới thiệu bài: Trong lịch sử đấu tranh dựng nước, ông cha ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn nhiều lần về quân sự, kinh tế. Song với tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, với cách đánh mưu trí, sáng tạo, ông cha ta đã đánh thắng tất cả kẻ thù xâm lược. B. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI Hoạt động 1: Cuộc đấu tranh giữ nước của dân tộc ta (30 phút) a. Mục tiêu: Giúp HS tìm hiểu các cuộc đấu tranh giữ nước của dân tộc ta b. Nội dung: HS dựa và SGK, kiến thức đã biết hoàn thành nhiệm vụ của GV giao c. Sản phẩm: HS hoàn thành tìm hiểu kiến thức d. Tổ chức thực hiện: HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS SẢN PHẨM DỰ KIẾN Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ: 3. Các cuộc chiến tranh giữ nước(TK X-TK GV giao nhiệm vụ tìm hiểu nội XIX) dung bài cho các nhóm. - Nước Đại Việt thời Lý, Trần và Lê Sơ với Nhóm 1: Các cuộc chiến tranh giữ kinh đô Thăng Long là một quốc gia cường nước (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX) thịnh ở châu á, là một trong những thời kì phát triển rực rỡ nhất, thời kì văn minh Đại Việt. Nhóm 2: Các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực - Dân tộc ta phải đứng lên đấu tranh chống xâm dân nửa phong kiến (thế kỉ XIX lược, tiêu biểu là: đến năm 1945) + Các cuộc kháng chiến chống quân Tống: Nhóm 3: Cuộc kháng chiến chống - Lần thứ nhất (981) do Lê Hoàn lãnh đạo thực dân Pháp xâm lược (1945- - Lần thứ hai (1075- 1077) dưới triều Lý. 1954) + Các cuộc kháng chiến chống quân Mông- Nhóm 4: Cuộc kháng chiến chống Nguyên (1258 – 1288) đế quốc Mĩ (1954-1975) - Lần thứ nhất (1258); GV hỏi: nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự ở giai đoạn này là gì? - Lần hai (1285); Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ: - Lần ba (1287 – 1288) HS xem SGK và tìm câu trả lời. +Cuộc kháng chiến chống quân Minh (đầu TK XV) Bước 3: Báo cáo, thảo luận: - Do Hồ Quý Ly lãnh đạo - HS thảo luận nhóm - Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi, - Đại diện nhóm trả lời Nguyễn Trãi lãnh đạo. - Các nhóm khác bổ sung + Cuộc kháng chiến chống quân Xiêm – Mãn 16
  19. Bước 4: Kết luận, nhận định: Thanh (cuối TK XVIII) GV GV nhận xét và rút ra kết luận * Nét đặc sắc về NTQS (TK X đến cuối TK chung XVIII): - Từ thực tiễn chống giặc ngoại - Tiên phát chế nhân. xâm của dân tộc, các thế hệ ông cha - Lấy đoản binh thắng trường trận. ta đã viết nên truyền thống vẻ vang - Lấy yếu chống mạnh, ít địch nhiều. rất đáng tự hào và những bài học quý báu đối với các thế hệ mai sau. - Lúc địch mạnh ta lui, địch yếu ta bất ngờ chuyển sang tiến công tiêu diệt địch. 4. Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực đân nửa phong kiến: - Tháng 9 – 1858 thực dân pháp tiến công xâm lược nước ta, tiều Nguyễn đầu hàng. Năm 1884 Pháp chiếm cả nước ta, nhân dân Việt Nam đứng lên chống Pháp kiên cường. - Năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam trải qua các cao trào và giành thắng lợi lớn: + Xô viết nghệ tĩnh năm 1930 – 1931 + Phong trào phản đế và tổng khởi nghĩa năm 1940 – 1945, đỉnh cao là cách mạng tháng 8 năm 1945 lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. 5. Cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược (1945 – 1954 -23/9/1945 thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai. - Ngày 19/12/1946 Chủ Tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến. - Từ năm 1947 – 1954 quân dân ta đã lập được nhiều chiến công trên khắp các mặt trận: + Chiến thắng Việt Bắc thu - đông năm 1947. + Chiến thắng biên giới năm 1950. + Chiến thắng đông xuân năm 1953 – 1954, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ, buộc 17
  20. pháp phải kí kết hiệp định Giơ-ne-vơ và rút quân về nước. 6. Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954 - 1975 - Đế quốc Mỹ thay thực dân pháp xâm lược nước ta, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm biến miền nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới, hòng chia cắt lâu dài đất nước ta. - Nhân dân miền nam lại một lần nữa đứng lên chống Mỹ: + Từ 1959- 1960 phong trào đồng khởi, thành lập mặt trận dân tộc giải phóng miền nam. + Đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” năm 1961 – 1965. + Đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” năm 1965 – 1968. + Đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” năm 1968 – 1972, buộc Mỹ phải kí hiệp định Pa-ri, rút quân về nước. + Đại thắng mùa xuân 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, cả nước đi lên CNXH. * Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, mọi tinh hoa truyền thống đánh giặc, giữ nước qua mấy nghìn năm của cả dân tộc đã được vận dụng một cách sáng tạo. Đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa vừa đánh, vừa đàm, đánh địch trên 3 mũi giáp công, trên cả 3 vùng chiến lược. Hoạt động 2: Tìm hiểu về lịch sử, truyền thống đánh giặc giữ nước tại địa phương (10 phút) a. Mục tiêu: HS tìm hiểu lịch sử, truyền thống đánh giặc giữ nước thông qua các địa điểm di tích tại địa phương. b. Nội dung: HS dựa vào kiến thức hiểu biết của mình hoàn thành nhiệm vụ của GV giao c. Sản phẩm: HS hoàn thành tìm hiểu kiến thức d. Tổ chức thực hiện: 18
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2