intTypePromotion=1
ADSENSE

Thái độ học tập của sinh viên tiếng Trung thương mại và vấn đề chất lượng giảng dạy

Chia sẻ: ViKakashi2711 ViKakashi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

67
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết tập trung làm rõ các vấn đề chất lượng giảng dạy, thái độ học tập và mối quan hệ của thái độ học tập với chất lượng giảng dạy, đồng thời đưa ra kết quả nghiên cứu về thái độ học tập của sinh viên chuyên ngành tiếng Trung thương mại tại trường Đại học Ngoại thương thông qua phương pháp điều tra cơ bản.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thái độ học tập của sinh viên tiếng Trung thương mại và vấn đề chất lượng giảng dạy

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI v<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> THÁI ĐỘ HỌC TẬP<br /> CỦA SINH VIÊN TIẾNG TRUNG THƯƠNG MẠI<br /> VÀ VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY<br /> HOÀNG THANH HƯƠNG*<br /> Đại học Ngoại thương, ✉ thanhhuongk12@yahoo.com<br /> *<br /> <br /> <br /> Ngày nhận bài: 28/8/2017; ngày hoàn thiện: 5/10/2017; ngày duyệt đăng: 15/11/2017<br /> <br /> <br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Thái độ học tập của người học là một trong những yếu tố đảm bảo chất lượng giảng dạy. Thực tế<br /> giảng dạy đại học cho thấy, nhiều sinh viên còn chưa có thái độ học tập đúng đắn trong quá trình<br /> học tập. Trong bài viết này, chúng tôi làm rõ các vấn đề chất lượng giảng dạy, thái độ học tập và<br /> mối quan hệ của thái độ học tập với chất lượng giảng dạy, đồng thời đưa ra kết quả nghiên cứu<br /> về thái độ học tập của sinh viên chuyên ngành tiếng Trung thương mại tại trường Đại học Ngoại<br /> thương thông qua phương pháp điều tra cơ bản.<br /> Từ khóa: chất lượng giảng dạy, thái độ học tập, tiếng Trung thương mại<br /> <br /> <br /> <br /> 1. KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY trị của một con người, một sự vật, sự việc” (Viện<br /> Ngôn ngữ học, 2010, tr.144).<br /> Bàn đến khái niệm “chất lượng”, chúng ta<br /> không thể nói đến chất lượng như một khái niệm Còn khái niệm giảng dạy, được Giáo sư<br /> đơn lập vì cơ bản chất lượng luôn gắn với một Nguyễn Ngọc Quang giải thích là sự điều khiển<br /> sự vật, sự việc cụ thể nhằm phản ánh các đặc quá trình học tập của người học nhằm giúp người<br /> tính vốn có của nó so với yêu cầu đặt ra. Do vậy, học tự chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và<br /> “chất lượng” là một khái niệm tương đối rộng hình thành hoặc tăng cường tình cảm, thái độ<br /> và đa chiều. Tùy thuộc vào góc độ tiếp cận cũng (Nguyễn Ngọc Quang, 1998, tr.57). Trong nghiên<br /> như sự phản ánh yêu cầu của từng lĩnh vực hoặc cứu này, bài viết tìm hiểu vấn đề chất lượng giảng<br /> các bên liên quan mà các nhà nghiên cứu đã đưa dạy đại học từ quan niệm của các nhà giáo dục<br /> ra nhiều quan điểm khác nhau về “chất lượng”. học về chất lượng giáo dục và chất lượng đào tạo.<br /> Chẳng hạn, từ vấn đề đo lường chất lượng, Tổng Về bản chất, giảng dạy đại học chủ yếu là dạy<br /> cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã định nghĩa nhận thức, dạy kỹ năng và dạy cảm nhận. Từ quan<br /> “chất lượng là mức độ mà một tập hợp các đặc niệm của các nhà giáo dục học về chất lượng giáo<br /> tính vốn có đáp ứng yêu cầu” (ISO 9000: 2000), dục, khái niệm chất lượng giảng dạy hình thành<br /> nhưng dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu ngôn và được hiểu là “giá trị gia tăng” về kiến thức, kỹ<br /> ngữ thì “Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá năng, thái độ ở người học trong quá trình dạy học<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 10 - 11/2017 93<br /> v NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI<br /> <br /> <br /> và các giá trị gia tăng đó góp phần phát triển năng các hành vi cụ thể như: học bài làm bài đầy đủ,<br /> lực, phẩm chất cho người học khi học một môn đảm bảo kỷ luật, tập trung chú ý nghe giảng trên<br /> học, bài học cụ thể (Đặng Xuân Hải, 2009, tr. 64). lớp, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập, hăng hái<br /> Theo quan điểm này, chất lượng giảng dạy chính nhiệt tình trong giờ học, tự đặt ra các yêu cầu về<br /> là sự tác động tích cực đến người học và tạo ra sự thành tích học tập, cố gắng đạt thành tích học tập<br /> khác biệt trong phát triển trí tuệ và cá nhân của tốt và có phản ứng vui buồn đối với những thành<br /> người học. công hay thất bại trong học tập.<br /> Từ quan niệm của các nhà giáo dục học về Thái độ học tập của người học có vai trò quan<br /> chất lượng đào tạo, chất lượng giảng dạy với đối trọng trong việc tiếp thu kiến thức, nâng cao hiệu<br /> tượng là “người học” được hiểu là kết quả của quá quả học tập. Dưới góc độ giảng dạy đại học, thái<br /> trình giảng dạy và được thể hiện ở các kiến thức, độ học tập là một trong những nhân tố quan trọng<br /> kỹ năng, thái độ, phẩm chất nghề nghiệp, năng lực quyết định việc hình thành kiến thức, kỹ năng và<br /> hành nghề mà người học đạt được như mục tiêu thái độ nghề nghiệp của người học và là một trong<br /> đặt ra trong quá trình giảng dạy (Đặng Bá Lãm, những yếu tố đảm bảo chất lượng giảng dạy. Bởi,<br /> 2005, tr.93-97). Theo quan điểm này, chất lượng trong cách tiếp cận hiện đại “giảng dạy” và “học<br /> giảng dạy được hiểu ngắn gọn là hiệu quả của việc tập” thực chất là mối quan hệ tác động hai chiều<br /> đạt được các mục đích giảng dạy, giữa người dạy và người học để đạt đến các mục<br /> Tuy nhiên, muốn có chất lượng giảng dạy tiêu đặt ra trong quá trình dạy học. Trong đó: Hoạt<br /> cần phải xây dựng các chuẩn mực cho hoạt động động giảng dạy (mà người dạy đóng vai trò cố<br /> giảng dạy và hoạt động học tập. Trong đó, chuẩn vấn học tập) là quá trình hỗ trợ người học chiếm<br /> mực hoạt động dạy học gắn liền với các yếu tố cấu lĩnh nội dung môn học, tạo điều kiện cho người<br /> thành hoạt động dạy học như môi trường dạy học, học chủ động tìm kiếm và xử lý thông tin thông<br /> nội dung dạy học, phương thức dạy học, kiểm tra qua sự điều khiển hoạt động học. Ngược lại, hoạt<br /> đánh giá kết quả dạy học và các yếu tố liên quan động học tập (mà người học đóng vai trò chủ thể)<br /> đến cá nhân người học. Điều đó có nghĩa, chất là một quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh<br /> lượng giảng dạy chỉ có thể được đảm bảo trong khái niệm khoa học (tức là nội dung học) dưới sự<br /> các điều kiện nhất định về chương trình giảng điều khiển sư phạm của giáo viên (Nguyễn Ngọc<br /> dạy, đội ngũ giảng viên, giáo trình, cơ sở vật chất Quang, 1998, tr.57).<br /> trang thiết bị, thái độ học tập, động cơ học tập và<br /> Khác với nhà trường phổ thông, hoạt động<br /> phương pháp học tập của người học…<br /> học tập ở đại học mang tính độc lập cao, đòi hỏi<br /> 2. THÁI ĐỘ HỌC TẬP CỦA NGƯỜI HỌC người học luôn phải là người chủ động trong việc<br /> VÀ VẤN ĐỀ CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY lập kế hoạch học tập và thực hiện các kế hoạch<br /> đặt ra, tích cực trao đổi với giảng viên và bạn<br /> Theo tác giả Đào Lan Hương: “Thái độ học<br /> bè về các vấn đề học tập. Trong quá trình trao<br /> tập là một bộ phận cấu thành đồng thời là một<br /> đổi người học phải có óc phê phán và chính kiến<br /> thuộc tính cơ bản toàn vẹn của ý thức học tập của<br /> riêng. Hoạt động học tập ở đại học còn đòi hỏi<br /> chủ thể, là yếu tố quy định tính tự giác, tích cực<br /> người học phải có năng lực nghiên cứu tài liệu<br /> học tập và thể hiện bằng những cảm xúc, hành<br /> nhằm phát huy tối ưu tư duy sáng tạo và khả năng<br /> động tương ứng” (Đào Lan Hương, 1998, tr. 7-8).<br /> nghiên cứu khoa học. Do đó, nếu người học tiếp<br /> Làm rõ các nội dung cơ bản trong khái niệm nhận các tác động sư phạm một cách thụ động,<br /> trên chúng ta thấy rằng, ý thức học tập, tính tự thiếu ý thức tự giác và tính tính cực, điều này sẽ<br /> giác tích cực học tập, cảm xúc và hành động trong khiến cho hoạt động giảng dạy khó đạt được các<br /> thái độ học tập của người học được thể hiện qua hiệu quả như mong muốn.<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 94 Số 10 - 11/2017<br /> NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI v<br /> <br /> <br /> <br /> Thực tế cho thấy, nhiều sinh viên có thái độ thái độ học tập của người học ở nhà để tìm hiểu<br /> học tập chỉ để đối phó với môn học có trong thái độ học tập của 83 sinh viên chuyên ngành<br /> chương trình giảng dạy. Các em không nhận thức tiếng Trung thương mại.<br /> được sự cần thiết của môn học đối với bản thân và<br /> 3.1. Thái độ học tập trên lớp của sinh viên<br /> công việc nên học tập trong trạng thái không có<br /> mục đích, không chủ động tích cực và không có Khi tìm hiểu thái độ học tập trên lớp của sinh<br /> động lực thúc đẩy. Trong thực tế giảng dạy, những viên, phiếu khảo sát của chúng tôi đã đưa ra các<br /> hành vi như đi học muộn, bỏ học, không nộp bài câu hỏi xoay quanh các biểu hiện về thái độ học<br /> tập đúng hạn, không ôn bài cũ, không chuẩn bị bài tập của người học trên lớp như: đi học đầy đủ và<br /> mới, không tham gia vào các hoạt động trên lớp… đúng giờ, tập trung chú ý nghe giảng, ghi chép bài<br /> cũng không còn là hiện tượng hiếm gặp. Đây đều giảng và chủ động tương tác với giảng viên để giải<br /> là những biểu hiện cụ thể của việc không có thái quyết bài học. Kết quả khảo sát chúng tôi thu thập<br /> độ học tập đúng đắn. Chính vì vậy, muốn không được phản ánh ở bảng 1.<br /> ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy, ngoài sự cố<br /> Kết quả tại bảng 1 cho thấy, với nội dung khảo<br /> gắng của người dạy qua các tác động sư phạm,<br /> sát tình hình “đi học đầy đủ và đúng giờ” thì có<br /> người học cần phải chú trọng rèn luyện và hình<br /> 83,1% sinh viên đáp ứng được yêu cầu, còn 16,9%<br /> thành cho mình một thái độ học tập nghiêm túc<br /> sinh viên thi thoảng nghỉ học một hai buổi hoặc<br /> và động cơ học tập rõ ràng. Một thái độ học tập<br /> thường xuyên đi học muộn với nhiều lý do khác<br /> tích cực sẽ giúp sinh viên dễ dàng làm chủ kiến<br /> nhau. Số liệu này phản ánh, sinh viên có ý thức cao<br /> thức và có thể vận dụng thành thạo các kiến thức đối với việc đi học đầy đủ và đúng giờ. Việc sinh<br /> đó vào trong thực tế. Hơn thế, một thái độ học tập viên đi học chuyên cần không chỉ thể hiện thái độ<br /> tích cực cũng sẽ giúp sinh viên phát huy tối đa yêu thích, sự tôn trọng của sinh viên đối với môn<br /> các thế mạnh của bản thân trong học tập cũng như học mà còn phản ánh mức độ hiểu bài của sinh<br /> trong công việc. viên qua các buổi học. Thông thường, dưới sự dẫn<br /> 3. THỰC TẾ KHẢO SÁT THÁI ĐỘ HỌC dắt của giảng viên, những sinh viên đi học chăm<br /> TẬP CỦA SINH VIÊN TIẾNG TRUNG chỉ và đầy đủ sẽ dễ dàng nắm được nội dung bài<br /> THƯƠNG MẠI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC giảng trong sách và những kiến thức được mở rộng<br /> NGOẠI THƯƠNG trên lớp. Ngược lại, với những sinh viên chưa thực<br /> sự tích cực trong việc đến lớp thì thời gian sinh<br /> Với cách hiểu về thái độ học tập của người học viên bỏ ra để tự tìm hiểu bài học trên lớp và những<br /> như trên, chúng tôi đã dựa vào các biểu hiện thái nội dung kiến thức nâng cao sẽ nhiều hơn so với<br /> độ học tập của người học trên lớp và các biểu hiện những bạn đã bỏ công đi học.<br /> <br /> Bảng 1: Kết quả khảo sát sinh viên về thái độ học tập trên lớp<br /> <br /> Ý kiến sinh viên<br /> Nội dung khảo sát<br /> Có Không<br /> Đi học đầy đủ và đúng giờ 69/83 83,1% 14/83 16,9%<br /> Tập trung chú ý nghe giảng 47/83 56,6% 36/83 43,4%<br /> Chăm chỉ ghi chép bài giảng 50/83 60,2% 33/83 39,8%<br /> Chủ động tương tác giải quyết bài học 41/83 49,4% 42/83 50,6%<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 10 - 11/2017 95<br /> v NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI<br /> <br /> <br /> Việc “tập trung chú ý nghe giảng” trên lớp chú ý của người học, đặc biệt khi sinh viên không<br /> cũng thể hiện thái độ học tập của sinh viên đối với tìm thấy sự hứng thú ở môn học.<br /> môn học. Theo kết quả khảo sát, có 56,6% (tức là<br /> Song song với việc chú ý nghe giảng thì ghi<br /> hơn một nửa số sinh viên) chăm chú lắng nghe bài<br /> chép bài giảng là một việc không thể thiếu đối với<br /> giảng, nhưng cũng có đến 43,4% sinh viên thiếu<br /> những người đi học. Đây là cách giúp người học<br /> tập trung trên lớp. Khi được hỏi về lý do khiến sinh<br /> lưu giữ thông tin và kiến thức cần thiết của môn<br /> viên thiếu tập trung trên lớp, chúng tôi tập hợp<br /> học. Chính vì ngay tại buổi học, người học không<br /> được các ý kiến như sau: sự tập trung của các em<br /> thể nhớ hết những nội dung giảng viên trình bày<br /> sinh viên còn tùy thuộc vào từng chương, từng bài<br /> ở trên lớp, do đó người học cần ghi chép lại để về<br /> trong nội dung môn học. Đối với một số môn học<br /> nhà có thể xem, ôn lại những kiến thức đó và cũng<br /> có nội dung khó hiểu, khô khan, sinh viên thường<br /> để nắm chắc hơn về bài học. Tuy nhiên, việc ghi<br /> không hoàn toàn chú tâm vào bài giảng mà sẽ làm<br /> chép cần phải có phương pháp và nó phụ thuộc<br /> việc riêng trong giờ học. Có lúc môn học vốn đã<br /> vào sự lựa chọn của từng người học, nhưng yêu<br /> kém hấp dẫn, lại thêm phương pháp giảng dạy của<br /> cầu chung của việc ghi chép là phải chú ý đến tính<br /> giảng viên tẻ nhạt, không truyền được cảm hứng<br /> khoa học, tính rõ ràng thì mới đạt đến các hiệu<br /> học tập, không thu hút được sự chú ý của sinh<br /> quả học tập. Đối với nội dung “chăm chỉ ghi chép<br /> viên, vì thế mà các em lên lớp thiếu đi sự hứng<br /> bài giảng”, số liệu khảo sát của chúng tôi cho biết,<br /> khởi, chỉ chờ điểm danh và mong cho giờ học qua<br /> có 60,2% sinh viên chăm chỉ ghi chép bài học.<br /> nhanh. Tuy nhiên, bên cạnh các lý do khách quan,<br /> Nhưng 39,8% sinh viên cho ý kiến ngược lại, các<br /> bảng khảo sát cũng thu thập được một số lý do<br /> em không chăm chỉ ghi chép lại những nội dung<br /> chủ quan. Nhiều em sinh viên do ngày đi học kết<br /> đã có trong giáo trình và tài liệu mà chỉ ghi chép<br /> hợp đi làm thêm, tối về muộn học bài khuya nên<br /> những nội dung mới, những phần cần chú ý hoặc<br /> thường đến lớp với trạng thái thiếu ngủ, vì vậy sự<br /> những vấn đề các em quan tâm. Đây là một cách<br /> tập trung cho bài giảng cũng bị giảm sút. Ngoài<br /> ghi chép ngắn gọn và tiết kiệm thời gian. Đồng<br /> ra cũng có ý kiến cho rằng, mặc dù sinh viên có ý<br /> thời, nó cũng giúp các em sinh viên chưa có thói<br /> thức học tập tốt, nhưng nhiều bạn vốn có tính “lơ<br /> quen vừa ghi chép vừa nghe giảng có nhiều thời<br /> đãng” nên không thể tập trung quá lâu trong thời<br /> gian lắng nghe bài giảng mà khi ghi chép cũng<br /> gian học ở trên lớp. Vì thế mà nhiều bạn có lúc<br /> không bỏ sót những kiến thức quan trọng.<br /> chăm chú lắng nghe bài giảng, nhưng có lúc lại<br /> bị hấp dẫn bởi những âm thanh hoặc sự việc khác Bên cạnh việc nghe giảng và ghi chép nội dung<br /> xung quanh. Theo kết quả khảo sát, số sinh viên bài giảng, việc tương tác với giảng viên không chỉ<br /> chưa thực sự nghiêm túc trong việc lắng nghe bài tạo không khí sôi nổi cho lớp học mà còn giải đáp<br /> giảng trên lớp còn khá cao (43,4%). Sự thiếu tập được rất nhiều vấn đề liên quan đến nội dung bài<br /> trung sẽ có những ảnh hưởng không tốt đối với học. Kết quả khảo sát cho thấy, 49.4% số sinh<br /> kết quả học tập môn học, nhất là những môn học viên có tinh thần hợp tác với giảng viên. Sự hợp<br /> đòi hỏi có sự tập trung cao, mà sinh viên chỉ lơ là tác của sinh viên thể hiện ở việc chủ động giơ tay<br /> một chút thôi sẽ có thể bỏ lỡ rất nhiều thông tin phát biểu, đưa ra các ý kiến xây dựng bài học, đưa<br /> quan trọng. Cũng từ các ý kiến nói trên của các em ra các câu hỏi thắc mắc xung quanh nội dung bài<br /> sinh viên, chúng tôi thấy rằng ngoài ý thức học tập học. Tuy nhiên, vẫn còn nửa số sinh viên (50.6%)<br /> của bản thân sinh viên thì tỷ lệ sinh viên tập trung chưa thực sự chủ động và tích cực trong việc xây<br /> chú ý nghe bài giảng cao hay thấp còn phụ thuộc dựng bài học trên lớp cùng giảng viên. Khi được<br /> vào nội dung bài học và khả năng truyền nhiệt của phỏng vấn về vấn đề này, nhiều sinh viên đã đưa<br /> giảng viên. Điều đó cho thấy, giảng viên có vai trò ra lý do không hợp tác là vì: Thứ nhất, thái độ học<br /> vô cùng quan trọng trong việc thu hút sự tập trung tập hăng hái và tích cực của sinh viên còn phụ<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 96 Số 10 - 11/2017<br /> NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI v<br /> <br /> <br /> <br /> thuộc vào mức độ yêu thích môn học, mức độ tập 3.2. Thái độ học tập ở nhà của sinh viên<br /> trung trong giờ học, độ khó và số lượng các câu<br /> Cùng với việc học trên lớp, việc học ở nhà có<br /> hỏi mà giảng viên đưa ra; Thứ hai, một bộ phận<br /> ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ sinh viên học<br /> sinh viên có tâm lý ngại phát biểu ý kiến, cũng có<br /> tập tốt các môn học. Vì thời gian học trên lớp cho<br /> trường hợp sinh viên không biết cách biểu đạt và<br /> một môn học không nhiều nên việc sinh viên tự<br /> thể hiện ý nghĩ của mình hoặc còn sợ sai nên chưa<br /> giác học ở nhà cũng là một trong những yếu tố<br /> mạnh dạn, tự tin khi đưa ra ý kiến xây dựng bài<br /> quyết định lượng kiến thức sinh viên nắm được và<br /> học. Có lẽ, đây là vấn đề mà giảng viên cần hết<br /> nhớ được sau khi nghe giảng. Tuy nhiên, không<br /> sức chú ý khi lên lớp dạy học. Giảng viên với vai<br /> phải sinh viên nào cũng có ý thức học bài ở nhà,<br /> trò là “người tổ chức”, “người điều khiển” trong<br /> ngay cả khi các em biết rằng việc học ở nhà là rất<br /> lớp học nên khuyến khích sinh viên phát biểu ý cần thiết. Để hiểu hơn về thái độ học tập của sinh<br /> kiến bằng nhiều hình thức khác nhau để tăng sự viên khi ở nhà, chúng tôi đã tiến hành khảo sát<br /> hứng thú đối với việc học và cũng để sinh viên sinh viên về các nội dung chuẩn bị bài mới, ôn<br /> cảm thấy thoải mái, tự tin khi đưa ra quan điểm bài, làm bài tập và tự học. Khi được hỏi về các nội<br /> trước thầy cô giáo và bạn học. dung trên, 83 sinh viên được khảo sát cho kết quả<br /> Từ kết quả khảo sát thái độ học tập trên lớp điều tra như sau (xem bảng 2).<br /> của sinh viên, chúng tôi có thể đánh giá như sau: “Chuẩn bị bài mới” (ví dụ như xem trước nội<br /> Phần lớn sinh viên (83,1%) đã nghiêm túc trong dung bài học, tìm hiểu các vấn đề liên quan, tự giải<br /> việc “đi học đầy đủ và đúng giờ” Đối với việc đáp câu hỏi, xem trước phần bài tập...) thường là<br /> “tập trung chú ý nghe giảng” (56,6%) và “chăm công việc sinh viên phải làm trước ở nhà. Để khi<br /> chỉ ghi chép bài giảng” (60,2%), mặc dù đã có đến lớp, các em có thể tận dụng tối đa thời gian<br /> hơn ½ số sinh viên được khảo sát đạt yêu cầu trên lớp nắm bắt nội dung bài học, tự tin tham gia<br /> nhưng con số đạt được chưa thực sự cao, mới chỉ các hoạt động phát biểu ý kiến xây dựng bài, đưa<br /> dừng ở mức trung bình. Ngoài ra, số sinh viên ra các câu hỏi thảo luận, yêu cầu giải đáp những<br /> tích cực tương tác với giảng viên qua việc giơ tay chỗ chưa rõ ràng và tương tác được với giảng viên<br /> phát biểu xây dựng bài cũng chỉ đạt 49.4%, tức là nhiều hơn. Với ý nghĩa như vậy, đối với bất kỳ<br /> chưa vượt qua con số 50%. Tổng hợp các số liệu môn học nào thì việc chuẩn bị bài mới cũng là một<br /> trên cho thấy, sinh viên chưa hoàn toàn có thái độ công việc có vai trò quan trọng và có ảnh hưởng<br /> học tập tích cực trên lớp. Điều này ít nhiều sẽ ảnh đến hiệu quả học tập trên lớp của sinh viên. Theo<br /> hưởng đến chất lượng học tập và giảng dạy trên như kết quả khảo sát tại bảng 2, chỉ 44,6% sinh<br /> lớp cho sinh viên. viên có chuẩn bị bài trước khi đến lớp, nhưng có<br /> <br /> Bảng 2: Kết quả khảo sát sinh viên về thái độ học tập ở nhà<br /> <br /> Ý kiến sinh viên<br /> Nội dung khảo sát<br /> Có Không<br /> Chuẩn bị bài mới 37/83 44,6% 46/83 55,4%<br /> <br /> Ôn bài 49/83 59% 34/83 41%<br /> Làm bài tập 48/83 57,8% 35/83 42,2%<br /> <br /> Tự học 47/83 56,6% 36/83 43,4%<br /> <br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 10 - 11/2017 97<br /> v NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI<br /> <br /> <br /> tới 55,4% sinh viên không chuẩn bị bài. Giải thích viên sẽ hiểu rõ bản thân đã nắm được kiến thức<br /> về việc không chuẩn bị bài: Một số sinh viên nêu bài học như thế nào, khả năng vận dụng kiến thức<br /> lý do (khi được phỏng vấn) là không chắc chắn về ra sao, từ đó có thể củng cố ôn lại các kiến thức lý<br /> nội dung sẽ học; nhiều sinh viên lấy lý do không thuyết mà các em cảm thấy chưa chắc chắn trong<br /> có thời gian hoặc ngại chuẩn bị bài; còn lại một số quá trình thực hành. Xét ở góc độ ý nghĩa của việc<br /> ít sinh viên mức độ chuẩn bị không thường xuyên, làm bài tập thì như vậy, song kết quả nghiên cứu<br /> có bài chuẩn bị có bài không, tùy vào thời gian của chúng tôi cho thấy, bên cạnh 57,8% sinh viên<br /> rảnh rỗi của bản thân hay là nội dung của bài học. chăm chỉ làm bài tập, cũng có tới 42,2% sinh viên<br /> Những con số trên cho thấy, ý thức chuẩn bị bài chưa nhiệt tình với công việc này. Mặc dù các em<br /> ở nhà của đa số sinh viên vẫn còn chưa tốt, điều sinh viên ý thức được vai trò của việc làm bài tập<br /> đó có nghĩa sinh viên chưa có sự chủ động và tích trên lớp cũng như ở nhà, nhưng nhiều em thực<br /> cực trong việc học ở nhà, chưa biến việc chuẩn bị tế lên lớp vẫn chưa làm bài hoặc có làm thì cũng<br /> bài ở nhà thành một công việc đương nhiên phải làm với thái độ miễn cưỡng, làm lấy lệ cho đủ để<br /> làm trước khi lên lớp. Điều này sẽ hạn chế việc không bị giảng viên trừ điểm chuyên cần.<br /> giảng viên cung cấp thêm các kiến thức mới và<br /> Tự học vốn là quá trình người học tự giác và<br /> các kiến thức nâng cao đối với một bài giảng trong<br /> tích cực chiếm lĩnh tri thức. Trong nhà trường đại<br /> khuôn khổ số tiết và thời lượng cho phép của một<br /> học, tự học là một trong những kỹ năng quyết định<br /> môn học trên lớp.<br /> chất lượng học tập và giảng dạy. Thực tế giảng<br /> Đối với sinh viên, một công việc quan trọng dạy cho thấy, nếu người dạy có giỏi đến mấy mà<br /> không kém việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp đó người học không chịu khó học tập và tự mình<br /> là ôn lại những nội dung đã học. Việc ôn lại những nghiên cứu mở rộng kiến thức thì người học khó<br /> nội dung đã học sẽ giúp sinh viên củng cố kiến đạt được kết quả học tập tốt hơn và cũng khó tránh<br /> thức và vận dụng thành thạo những kiến thức đó khỏi việc bị lạc hậu so với sự phát triển của xã hội.<br /> vào thực tế. Mặc dù việc ôn bài có ý nghĩa như Trong cùng một điều kiện môi trường học như<br /> vậy, nhưng khi được hỏi về việc “ôn bài” trước khi nhau, sự khác biệt giữa các sinh viên thể hiện ở<br /> đến lớp, thì vẫn còn 41% sinh viên chưa có thói năng lực tự học. Đối với vấn đề “tự học”, kết quả<br /> quen giành một khoảng thời gian nhất định trong khảo sát sinh viên cho biết, có 47 sinh viên (tức là<br /> ngày để thực hiện công việc ôn bài. Số 59% sinh 56,6%) có kỹ năng tự học. Việc tự học của các em<br /> viên còn lại, tuy trả lời có ôn bài, nhưng khi được thể hiện ở sự sắp xếp một cách hợp lý thời gian và<br /> hỏi thêm chúng tôi biết rằng, việc ôn bài của các không gian học tập trong ngày, tham gia nghiên<br /> em có lúc là sự ngẫu hứng, có lúc là sát ngày thi cứu khoa học, tìm kiếm tài liệu, chuẩn bị bài học,<br /> chứ không phải là công việc đều đặn hàng ngày. tự đặt tình huống và tìm cách giải quyết các vấn<br /> Trong con số 59% này, số sinh viên ôn bài với đề đặt ra… Số 43,4% sinh viên còn lại, các em<br /> mức độ thường xuyên chỉ đạt 25%. Kết quả điều vẫn phụ thuộc vào sự truyền thụ tài liệu của giảng<br /> tra cho thấy bên cạnh những sinh viên có ý thức viên mà chưa rèn luyện được cho bản thân ý thức<br /> trong việc ôn bài ở nhà thì vẫn còn nhiều sinh viên tự học. Con số này sẽ là cơ sở để giảng viên đại<br /> chưa ý thức được tầm quan trọng của việc ôn bài. học chú ý điều chỉnh phương pháp dạy học hướng<br /> đến “dạy tự học” nhằm dẫn dắt sinh viên ra khỏi<br /> “Học đi đôi với hành”, trong đó “học” là quá<br /> cách học thụ động và kém hiệu quả.<br /> trình tiếp nhận kiến thức, còn “hành” là quá trình<br /> áp dụng kiến thức vào thực tế. Như vậy, “làm bài Từ kết quả khảo sát thái độ học tập ở nhà<br /> tập” chính là sự cụ thể hóa kiến thức lý thuyết của sinh viên (thể hiện ở bảng 2), chúng tôi có<br /> thông qua các dạng bài tập thực hành từ đơn giản thể đánh giá tổng hợp như sau: Hơn một nửa số<br /> đến nâng cao. Thông qua việc làm bài tập, sinh sinh viên được khảo sát (khoảng 56,6% ~ 59%)<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 98 Số 10 - 11/2017<br /> NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI v<br /> <br /> <br /> <br /> đã có ý thức trong việc ôn bài, làm bài tập và tự chiếu, so sánh với những kiến thức lẽ ra sinh viên<br /> học. Mức độ tập trung cho các công việc trên cần tìm hiểu và chuẩn bị trước đó. Ngoài ra, kết<br /> chưa phải là cao nhưng tương đối đồng đều, do đó quả nghiên cứu cũng cho thấy, bên cạnh những<br /> mức chênh giữa việc ôn bài, làm bài tập và tự học<br /> sinh viên có ý thức tích cực chủ động chiếm lĩnh<br /> không nhiều. Số liệu khảo sát cho thấy, sinh viên<br /> rất có ý thức trong việc ôn bài (đạt mức cao nhất kiến thức, thì vẫn còn nhiều sinh viên ngại học,<br /> 59% trong toàn bộ kết quả khảo sát thái độ học hoặc học theo cảm hứng và học để đối phó, thậm<br /> tập ở nhà của sinh viên). Ngoài ra, bảng số liệu chí sinh viên còn tranh thủ giờ học để làm việc<br /> cũng cho thấy, sinh viên không thích nhất là việc riêng. Sở dĩ còn hiện tượng như vậy là do sinh<br /> chuẩn bị bài mới nên cũng có quá nửa số sinh viên viên chưa nghiêm túc trong học tập và chưa nhận<br /> được khảo sát không làm việc này (55,4% ). Điều thức đúng đắn về vai trò của việc học trên lớp<br /> này càng làm rõ hơn tâm lý học thụ động của sinh<br /> cũng như việc học ở nhà./.<br /> viên. Các em cho rằng những kiến thức mới trong<br /> bài học dù gì cũng sẽ được giảng viên truyền thụ Tài liệu tham khảo:<br /> trong các buổi lên lớp, vì thế các em không cần<br /> mất thêm thời gian chuẩn bị và lâu dần với cách 1. Đặng Xuân Hải (2002), “Lý luận và phương<br /> nghĩ này sẽ khiến sinh viên nảy sinh tâm lý ỷ lại pháp dạy học đại học”, Tài liệu tham khảo cho<br /> và phụ thuộc vào người dạy. học viên cao học, Viện Đảm bảo chất lượng giáo<br /> dục – Đại học Quốc gia Hà Nội.<br /> 4. KẾT LUẬN<br /> <br /> Thái độ học tập là những suy nghĩ, việc làm, 2. Đặng Xuân Hải (2009), “Quản lý chất<br /> cảm xúc của người học đối với việc học tập. Biểu lượng”, Tài liệu bồi dưỡng Cán bộ quản lý nhà<br /> hiện của thái độ học tập sẽ phản ánh người học trường các cấp, Viện Đảm bảo chất lượng giáo<br /> đối với việc học tập có nghiêm túc hay không và dục – Đại học Quốc gia Hà Nội.<br /> là yếu tố quyết định không nhỏ đối với kết quả học<br /> tập của sinh viên và chất lượng giảng dạy của một 3. Đào Lan Hương (1998), “Tự đánh giá thái<br /> nhà trường đại học. độ học tập môn Toán của sinh viên”, Tạp chí<br /> Nghiên cứu giáo dục, số 3.<br /> Từ lý luận đến thực tế nghiên cứu, số liệu của<br /> bài viết cho thấy ý thức tự giác học tập của sinh 4. Đặng Bá Lãm (2005), “Quản lý nhà nước<br /> viên vẫn chưa đạt 100%. Đối với nội dung mang về giáo dục - lý luận và thực tiễn”, NXB Chính trị<br /> tính bắt buộc, có kiểm tra thường xuyên như đi Quốc gia, Hà Nội.<br /> học đầy đủ và đúng giờ thì số sinh viên nghiêm<br /> túc thực hiện đạt mức cao nhất 83,1%. Còn ở 5. Nguyễn Ngọc Quang (1998), “Nguyễn Ngọc<br /> những nội dung khác như tập trung nghe giảng, Quang - Nhà sư phạm, Người góp phần đổi mới<br /> ghi chép bài giảng, tương tác với giảng viên, ôn lý luận dạy học”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.<br /> bài, làm bài tập và tự học, tuy số sinh viên có ý<br /> thức thực hiện không quá thấp, nhưng số liệu bài 6. Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng,<br /> viết thu thập được cũng chỉ đạt ở mức trung bình Bộ tiêu chuẩn về hệ thống quản lí chất lượng (ISO<br /> (50%~60%). Kết quả nghiên cứu này phản ánh, 9000:2000).<br /> một bộ phận sinh viên vẫn thích cách dạy áp đặt<br /> và tiếp thu kiến thức một cách bị động qua việc 7. Viện Ngôn ngữ học (2010), “Từ điển tiếng<br /> truyền đạt của giảng viên mà không có bước đối Việt”, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 10 - 11/2017 99<br /> v NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> LEARNING ATTITUDES OF THE STUDENTS OF BUSINESS CHINESE AND THEIR<br /> EVALUATION OF TEACHING QUALITY<br /> HOANG THANH HUONG<br /> Abtracts: Learners’ learning attitude is one of the important factors that assure teaching quality.<br /> The current teaching situation shows that college learners seem not to have the positive attitude<br /> to the learning process. This article will clarify the issues of teaching quality, learners’ learning<br /> attitudes and their interlock relationships. To do it, the result of a survey on learning attitudes of<br /> Business Chinese learners at the Foreign Trade University will be analyzed, which will set a base<br /> for the improvement of teaching and learning business Chinese at the Foreign Trade University.<br /> Keywords: teaching quality, learning attitude, business Chinese<br /> Received: 28/8/2017; Revised: 05/10/2017; Accepted for publication: 15/11/2017<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 100 Số 10 - 11/2017<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2