THÁI ĐỘ XỬ TRÍ BỆNH NHÂN
HUNG BẠO
( MANAGEMENT OF THE
VIOLENT PATIENT )
1/ PHI CNG SỰ HUNG BẠO LÀ MT VẤN ĐỀ CỦA PHÒNG
CẤP CỨU ?
Vâng. Những hành động hung bạo dẫn đến tử vong, đã xảy ra nơi 7% các
bệnh viện giảng dạy lớn.
2/ CÁC BỆNH VIỆN PHẢIM GÌ ĐỂ LÀM GIẢM BỚT CÁC
NGUY CƠ BẠO LỰC ?
Tất cả các cánh cửa không cần thiết nên được khóa lại và lối vào
bệnh viện nên được hạn chế ở một vài cng ra vào có tun tra.
Các máy dò kim loại nên được sử dụng để kiểm tra xem bệnh nhân
hay người thăm viếng có mang theo vũ khí hay không.
Máy theo dõi truyền hình, mạch kín và giám sát liên tục, giúp đảm
bo sự an toàn ở bãi đậu xe và các khu đất sát ngay bnh viện.
Nhiu phương pháp để gọi cảnh sát hay nhân viên an ninh đến,
phải có th thực hiện được ở phòng cấp cứu, mà không phải gọi
qua người coi tổng đài của bệnh viện (hospital operator).
Cảnh sát hay nhân viên an ninh nên được huấn luyện và trang b
thích đáng.
3/ PHI LÀMĐỂ NGĂN NGỪA MỘT CƠN HUNG BẠO ?
Nhn biết các dấu hiệu sớm của hành vi hung bạo sắp xảy ra, như
kích động, chửi bới, và thách thức uy quyền.
Cởi hoàn toàn qun áo các nạn nhân bị chấn thương nặng càng sớm
càng tt, lấy đi bất cứ vũ khío trên người của họ.
Đừng để bất cứ dụng cụ nào, có thể được sử dụng làm vũ khí, gần
một bệnh nhân có kh năng trở nên hung bạo.
4/ THÁI Đ XỬ TRÍ BAN ĐẦU NÀO MT NGƯỜI THẦY
THUỐC CÓ TH THỰC HIỆN ĐỂ CHẾ NGỰ MỘT BNH NHÂN
KÍCH ĐỘNG HAY HUNG BẠO ?
Thái độ đầu tiên đối với bất cmột bệnh nhân kích động nào, phải là
giảm leo thang lời nói (verbal deescalation). Khi tiếp xúc với bệnh nhân,
người thầy thuốc phải tỏ ra trầm tỉnh và tự kiềm chế, dùng một giọng nói
thanh thản và đồng cảm, và bày tỏ mối quan tâm của mình đối với tình
trạng sức khỏe của bệnh nhân. Người thầy thuốc nên nhắc nhở bệnh nhân
là, ông hoặc bà ta, đang ở trong một môi trường an toàn và rng nhân
viên phòng cấp cứu có mặt ở đây để giúp đỡ họ. Việc cải thiện sự thoải
mái của người bệnh (như cho uống cái gì đó hoặc trao một cái mền ấm)
có thể thành côngm dịu bớt sự kích động của bệnh nhân. Bệnh nhân
cần được nói một cách đồng cảm, rằng nhân viên sduy trì skềm giữ đ
ngăn ngừa cho bệnh nhân và những người khác khỏi bị hại. Các nhân
viên an ninh đứng canh chừng trước bệnh nhân có thể ngăn cản những
hành vi không thích đáng xảy ra thêm nữa. Quan trọng nhất, nhân viên y
tế phải kềm chế những cảm xúc riêng trong khi xử lý với các bệnh nhân
kích động hoặc hung bạo. Quát tháo trở lại hoặc trao đổi những lời đe dọa
với bệnh nhân chỉ làm leo thang tình hình thêm nữa mà thôi.
5/ NẾU VIỆC GIẢM LEO THANG LỜI NÓI VẪN KHÔNG XONG,
PHI LÀM GÌ ?
Trong trường hợp skích động vẫn tiếp tục leo thang và bệnh nhân càng
ngày càng trnên mt mối nguy cơ bạo lực hoặc trốn chạy, thì nhiều kỹ
thuật kềm giữ (restraint techniques) khác nhau có thể đưc sử dụng. Đối
với những bệnh nhân mất định hướng (disorientated) và kéo giật lên các
dây truyền dịch và các ng hút dạ dày hay thông tiểu, các phương tiện
kềm giữ mềm (soft restraints) có thể được sử dụng để trói tay vào cạnh
thân người bệnh nhân.
Phương tiện kềm giữ hai chỗ (two-point restraints), trong đó chỉ một chi
trên và chi dưới được đặt trong một xích tay chân bằng da khóa lại, có thể
thích hợp hơn đối với các bệnh nhân không hung bạo nhưng mất định
hướng hoặc những bệnh nhân bị ngộ độc có nguy cơ cao té ra khỏi
giường hoặc tự gây thương tổn.Trong trường hợp những bệnh nhân hung
bo, một phương tiện kềm giữ 4 chỗ (four-point locking restraint) nên
được sử dụng. Các phương tiện kềm giữ này nên được thiết đặt bởi một
toán nhân viên ít nhất 5 người : mi người phụ trách mi chi, còn người
thứ 5 thì giám sát động tác và giải thích với bệnh nhân về những gì đang
xảy ra và tại sao.Tốt hơn là người thầy thuốc không nên can d vào động
tác này bởi vì mối quan hệ điều trị đối với bệnh nhân có thể bị phương
hại về sau.
6/ NHỮNG GÌ CẦN PHẢI GHI NHỚ KHI KỀM GIVẬT LÝ
MỘT BỆNH NHÂN ?
Vài nguyên tc áp dụng cho tất các các bệnh nhân được kềm giữ, dầu cho
loại sử dụng là loại nào. Các kềm giữ chỉ hơi đủ chặt để duy trì skềm
kẹp nhưng không làm trở ngại sự lưu thông máu. Các thanh giường bên
phải luôn luôn được đặt cao đối với những bệnh nhân bị kềm giữ, đlàm
giảm thiểu nguy cơ té ngã ra khỏi giường. Các bệnh nhân bị kềm giữ
không bao giđược đặt nm sấp trên giường, do nguy cơ tỷ lệ tử vong
gia tăng. c bệnh nhân có nguy cơ hít dịch gia tăng, nên được đặt nằm
nghiêng. Mt khi các phương tiện kềm giữ đã được thiết đặt, chúng phải
được theo dõi xem có cần được tiếp tục sử dụng hay không. Những đánh
giá lại sau đó thể cho thấy rằng các biện pháp kềm giữ có thể được
giảm mức hay thôi không dùng nữa. Những hành vi của bệnh nhân,
những toan tính dùng những biện pháp ít hạn chế hơn, và những đánh giá
lại về trạng thái tâm thần của bệnh nhân và những dấu hiệu sinh tồn sau
khi bnh nhân được kềm giữ, tất c phải được ghi vào h sơ.
7/ CÓ NHỮNG PHƯƠNG CÁCH O KHÁC THAY TH
NHỮNG BIỆN PHÁP KỀM GI ?
Lý tưởng là một phòng cấp cứu nên có một phòng cách ly (isolation
room), trong đó có thể đặt một bệnh nhân bị kích động, để làm giảm thiểu
skích thích. Những phòng cách ly này cần được theo dõi một cách dễ
dàng (ví dụ quac cửa sổ hay qua video camera) và bất cứ đồ vật nào
thể được sử dụng làm vũ khí phải được lấy đi. Những bệnh nhân cần phải
được săn sóc y tế tức thời không phải là ứng viên của loại can thiệp này.
8/ LÚC NÀO DÙNG THUC Đ KỀM GIỮ MỘT BỆNH NHÂN ?
Nếu những cố gắng tiếp tục để làm giảm leo thang lời nói không thành
công, và bệnh nhân vẫn kích động hay hung bạo mặc dầu các biện pháp
kềm giữ cơ hc (mechanical restraints), khi đó an thần bằng thuốc
(chemical sedation) được chỉ định. Các biện pháp kềm giữ vật lý thường
có thể làm gia tăng tình trạng kích động của bệnh nhân mặc dầu làm gim
mối nguy cơ cho chính họ và nhng người khác. Càng ngày, việc kềm
giữ bằng thuốc (chemical restraint) được xem là nhân đạo và có hiệu quả
hơn sự kềm giữ vật lý. Đôi khi cả hai đều cần thiết.
9/ NHỮNG THUỐC NÀO ĐƯỢC KHUYÊN SỬ DỤNG ĐỂ KỀM
GIỮ BỆNH NHÂN ?
Tùy thuộc vào nguyên nhân gây nên skích động (agitation). Hai loại
thuốc thường được s dụng để kềm giữ hóa học (chemical restraint) :
butyrophenones, như haloperidol (Haldol) và droperidol (DHBP),
benzodiazepines, như lorazepam (Témesta) và diazepam (Valium).
BUTEROPHENONES : Droperidol (Dehydrobenzperidol : DHBP) đã
được sử dụng rộng rãi nhưng do những cảnh cáo của Cơ Quan Quản Trị
Thc Phẩm và Dược Phẩm nên không còn được khuyên ng nữa.
Haloperidol (Haldol), 5-10 mg tiêm tĩnh mạch, là thuốc được ưa thích
hơn để kềm chế hóa học.