
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
259TCNCYH 197 (12) - 2025
THỜI GIAN, ĐẶC ĐIỂM VÀ TRẢI NGHIỆM NGƯỜI BỆNH
NHẬP VIỆN THÔNG QUA “KÊNH TIẾP NHẬN NHANH”
TẠI BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC
TỪ THÁNG 12/2024 ĐẾN THÁNG 06/2025
Nguyễn Quốc Vụ Khanh1, Trần Thị Thiên Kim1, Nguyễn Ngọc Sang1,
Phan Vũ Anh1 và Ngô Thị Thùy Dung2,
1Bệnh viện Truyền máu Huyết học
2Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Từ khóa: Tiếp nhận nhanh, thời gian chờ, huyết học, trải nghiệm người bệnh, tối ưu quy trình.
Người bệnh huyết học thường phải nhập viện nhiều lần để điều trị, nghiên cứu được thực hiện nhằm xác
định thời gian chờ và các yếu tố liên quan của “Kênh tiếp nhận nhanh” tại Bệnh viện Truyền máu - Huyết học.
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang (12/2024 - 06/2025) trên 169 người bệnh, sử dụng dữ liệu trích xuất từ hồ
sơ bệnh án điện tử và bảng câu hỏi khảo sát trải nghiệm. Kết quả: Tỷ lệ tiếp nhận thành công là 86,4%, trong đó
người bệnh tại TP.HCM có tỉ lệ thành công cao hơn người bệnh tỉnh thành khác (p < 0,05). Tổng thời gian chờ
trung bình là 82,8 ± 18,3 phút, khâu chờ xét nghiệm chiếm thời gian lâu nhất (41,0 ± 11,7 phút). Tổng thời gian
chờ không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) theo các đặc tính nhân khẩu-xã hội. “Kênh tiếp nhận nhanh”
đã rút ngắn thời gian chờ, thời gian chờ nhập viện bị kéo dài có ý nghĩa thống kê thuận với trải nghiệm trì hoãn
tại khâu tiếp nhận và chờ đợi tại khâu lấy mẫu xét nghiệm. Để nâng cao chất lượng của “Kênh tiếp nhận nhanh”,
Cần rà soát cải tiến ở khâu xét nghiệm, rút ngắn thời gian trả kết quả xét nghiệm và chuẩn hoá quy trình điều trị.
Tác giả liên hệ: Ngô Thị Thùy Dung
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Email: dungngo.yhcd@gmail.com
Ngày nhận: 28/10/2025
Ngày được chấp nhận: 15/11/2025
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học, người
bệnh (NB) điều trị theo phác đồ, như hóa trị và
ghép tế bào gốc thường phải nhập viện nhiều
lần trong suốt quá trình điều trị.1 Việc cải thiện
và quản lý quy trình tiếp nhận cho nhóm người
bệnh này không chỉ đóng vai trò quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng điều trị mà còn
góp phần nâng cao trải nghiệm người bệnh.
Một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến trải
nghiệm của người bệnh là thời gian chờ trong
các quy trình y tế, từ việc tiếp nhận ban đầu
cho đến việc khám bệnh và thực hiện các xét
nghiệm.2,3
Theo các báo cáo các năm 2023 và 2024
từ phòng Quản lý chất lượng Bệnh viện Truyền
máu Huyết học, thời gian trung bình cho quy
trình khám chữa bệnh lần lượt là 57,4 phút đối
với khám lâm sàng thông thường và 160,9 phút
cho các khám kết hợp xét nghiệm cơ bản.4 Kết
quả này cho thấy nhu cầu cải thiện thời gian
chờ cho người bệnh phải nhập viện thường
xuyên, thời gian chờ đợi làm tăng thêm gánh
nặng cho các khoa phòng và ảnh hưởng đến
trải nghiệm người bệnh.
Khảo sát hài lòng nội trú tại TP.HCM năm
2020 (được Sở Y tế thực hiện tại các bệnh viện)
cho thấy những vấn đề người bệnh mong muốn
bệnh viện cải tiến: rút ngắn thời gian làm thủ tục
nhập/xuất viện, giảm thời gian chờ bác sĩ thăm
khám ban đầu tại khoa, và tăng cường hỗ trợ
công tác xã hội cho các hoàn cảnh khó khăn.5

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
260 TCNCYH 197 (12) - 2025
“Kênh tiếp nhận nhanh” dành riêng cho
người bệnh hóa trị liệu theo phác đồ đã được
Bệnh viện Truyền máu Huyết học triển khai từ
năm 2020, với mục tiêu nhằm giảm thiểu thời
gian chờ và tối ưu hóa quy trình nhập viện; tại
thời điểm bắt đầu triển khai, kết quả sơ bộ trên
13 người bệnh về thời gian chờ đợi theo “Kênh
tiếp nhận nhanh” tại bệnh viện trên 13 người
bệnh là 31,2 ± 20,8 phút.4 Tuy nhiên, kết quả
sơ bộ chưa phản ánh đầy đủ các khía cạnh của
“Kênh tiếp nhận nhanh”, đồng thời chưa trả lời
được câu hỏi về tổng thời gian chờ nhập viện
trung bình qua “Kênh tiếp nhận nhanh” là bao
nhiêu, bao gồm phân bố thời gian chờ trung
bình của từng giai đoạn trong quy trình tiếp
nhận nhanh(chờ nhập viện, chờ xét nghiệm,
chờ xem xét chỉ định điều trị), và những yếu tố
nào (đặc điểm nhân khẩu-xã hội, chế độ điều
trị, cảm nhận về sự chờ đợi) có tác động đến
các thời gian chờ của các giai đoạn này?
Chính vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi
nhằm xác định thời gian chờ nhập viện trung
bình qua “Kênh tiếp nhận nhanh” và các yếu tố
liên quan đến thời gian chờ nhập viện, bao gồm
các đặc điểm dân số, phân nhóm người bệnh
và trải nghiệm người bệnh tại khâu nhập viện.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu bao gồm người bệnh
nội trú hoặc người nhà của người bệnh (NNNB)
dưới 18 tuổi đang điều trị tại 06 khoa lâm sàng
của Bệnh viện Truyền máu Huyết học được tiếp
nhận thông qua “Kênh tiếp nhận nhanh”.
Tiêu chuẩn chọn mẫu và loại trừ
Người bệnh hóa trị liệu đặc hiệu được đăng
ký và/hoặc nhập viện qua “Kênh tiếp nhận
nhanh” tại 06 khoa lâm sàng trong thời gian
nghiên cứu.
Đối tượng khảo sát trải nghiệm (NB và
NNNB) đạt các tiêu chuẩn: từ 18 tuổi trở lên, có
điều kiện sức khỏe tâm lý bình thường. Hoặc là
người chăm sóc chính, trực tiếp chăm sóc người
bệnh trên 80% tổng thời gian điều trị. Đối với
người bệnh dưới 18 tuổi, NNNB là người cung
cấp dữ liệu trải nghiệm. Loại trừ người bệnh trốn
viện, tử vong hoặc từ chối tham gia khảo sát.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả, cắt ngang.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng
thời gian từ tháng 12/2024 đến tháng 6/2025
tại Bệnh viện Truyền máu - Huyết học.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
Công thức cỡ mẫu ước lượng một trung
bình, xác định theo công thức:
n = Z2
(1-α/2)
σ²
d2
Trong đó: α = 0,05, Z(1-α/2) = 1,96; σ lấy từ
khảo sát thí điểm năm 2024 (SD = 20,8 phút; X
= 31,2 phút); d là sai số mong muốn = 3,5 phút.
Cỡ mẫu ước tính sau khi dự phòng thiếu dữ
liệu (10%) là 152 người bệnh.
Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp chọn
mẫu toàn bộ người bệnh hóa trị liệu đặc hiệu,
nhập viện thông qua “Kênh tiếp nhận nhanh”
đạt tiêu chuẩn chọn mẫu trong khoảng thời gian
xác định từ tháng 12/2024 đến tháng 6/2025.
Cỡ mẫu cuối cùng thu thập được là 169 người
bệnh đủ tiêu chuẩn.
Quy trình và công cụ thu thập thông tin:
Dữ liệu định lượng về các mốc thời gian
(tiếp nhận, chỉ định, lấy mẫu xét nghiệm, nhập
khoa) được trích xuất trực tiếp từ Hệ thống hồ
sơ bệnh án điện tử (MQSoft).
Nguồn dữ liệu: Phần mềm bệnh án điện tử
MQSoft xác định thời điểm đến quầy tiếp nhận
nhanh, thời điểm nhập khoa lâm sàng, thời
điểm lấy mẫu xét nghiệm để xác định thời điểm
bác sĩ chỉ định nhập viện điều trị chính thức.

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
261TCNCYH 197 (12) - 2025
Dữ liệu về trải nghiệm người bệnh được thu
thập thông qua phỏng vấn (khảo sát trải nghiệm
nhập viện, nằm viện và xuất viện) đối với những
người bệnh nhập viện thành công. Bảng câu hỏi
khảo sát được xây dựng nhằm đánh giá mức
độ hài lòng của người bệnh tham gia mô hình
“Kênh tiếp nhận nhanh” tại Bệnh viện Truyền
máu Huyết học, với trọng tâm là thời gian chờ
đợi ở các khâu chính trong quy trình nhập viện.
Công cụ này được thiết kế dựa trên các nguyên
tắc từ mô hình CAHPS (Hoa Kỳ) và công cụ
khảo sát trải nghiệm người bệnh nội trú của Sở
Y tế TP.HCM, đồng thời tích hợp các biến số
nghiên cứu định lượng của đề tài, tập trung vào
thời gian chờ và trải nghiệm ở từng bước (đặt
hẹn, tiếp nhận, lên khoa, xét nghiệm).4,6
Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi được làm sạch được nhập
vào máy tính và quản lý bằng phần mềm. Các
thống kê mô tả được thực hiện thông qua tính
toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn cho các
biến định lượng và tỷ lệ % cho các biến định
tính. Mô hình hồi quy logistic đa biến được áp
dụng nhằm xác định các yếu tố nguy cơ. p-value
< 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.
3. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang này dựa trên
nguyên tắc tự nguyện tham gia. Đối tượng
được giải thích rõ mục đích và ký phiếu chấp
thuận, được đảm bảo quyền rút lui bất kỳ lúc
nào mà không ảnh hưởng đến điều trị. Nghiên
cứu không can thiệp lâm sàng và cam kết bảo
mật tuyệt đối thông tin thu thập, chỉ sử dụng cho
mục đích khoa học. Nghiên cứu cũng đã được
Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học
Bệnh viện Truyền máu - Huyết học phê duyệt
theo giấy chứng nhận số 23/CN-HĐĐĐ ngày
14/04/2024.
III. KẾT QUẢ
1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ 12/2024 đến
6/2025 tại Bệnh viện Truyền máu - Huyết học tại
6 khoa lâm sàng. Tổng cộng có 169 người bệnh
thuộc “Kênh tiếp nhận nhanh” được tuyển chọn.
Tuổi trung bình của mẫu là 40,5 ± 23,5 năm,
nhóm tuổi 18-59 chiếm tỷ lệ cao nhất (42,0%),
tiếp theo là nhóm từ 60 tuổi trở lên (33,7%); tỷ
lệ giới tính tương đối cân bằng (Nam 52,1%,
Nữ 47,9%) và phần lớn cư trú tại TP. Hồ Chí
Minh (56,8%). Về trình độ học vấn, phổ biến
nhất là Trung học phổ thông (38,5%) và Đại học
(26,0%). Về nghề nghiệp, nhóm sinh viên/học
sinh (58,5%) và nhóm “rảnh rỗi” (25,4%) chiếm
tỷ lệ đáng kể. Gần như toàn bộ mẫu có Bảo
hiểm y tế (98,0%), với 68,0% theo chế độ điều
trị thường. Tất cả người bệnh (100%) đều đã
điều trị nhiều hơn một lần tại bệnh viện. Khoa
Huyết học Người lớn 1 là khoa điều trị chính,
chiếm 56,8% số lượt. Các lý do đăng ký khám
phổ biến nhất bao gồm việc có đăng ký BHYT
3
Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ
tháng 12/2024 đến tháng 6/2025 tại Bệnh viện Truyền máu – Huyết học.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
Công thức cỡ mẫu ước lượng một trung bình, xác định theo công thức:
n = (Z₁₋α/2)² × σ² / d²,
trong đó: α = 0,05, Z₁₋α/2 = 1,96; σ lấy từ khảo sát thí điểm năm 2024 (SD = 20,8 phút; X
=
31,2 phút); d là sai số mong muốn = 3,5 phút. Cỡ mẫu ước tính sau khi dự phòng thiếu dữ liệu
(10%) là 152 NB.
Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ NB hóa trị liệu đặc hiệu, nhập viện
thông qua “Kênh tiếp nhận nhanh” đạt tiêu chuẩn chọn mẫu trong khoảng thời gian xác định từ
tháng 12/2024 đến tháng 6/2025. Cỡ mẫu cuối cùng thu thập được là 169 NB đủ tiêu chuẩn.
Quy trình và công cụ thu thập thông tin:
Dữ liệu định lượng về các mốc thời gian (tiếp nhận, chỉ định, lấy mẫu xét nghiệm, nhập
khoa) được trích xuất trực tiếp từ Hệ thống hồ sơ bệnh án điện tử (MQSoft).
Nguồn dữ liệu: Phần mềm bệnh án điện tử MQSoft xác định thời điểm đến quầy tiếp nhận
nhanh, thời điểm nhập khoa lâm sàng, thời điểm lấy mẫu xét nghiệm để xác định thời điểm bác sĩ
chỉ định nhập viện điều trị chính thức.
Sơ đồ 1. So sánh giữa mô hình tiếp nhận thông thường (trên) và
mô hình tiếp nhận nhanh (dưới)
Dữ liệu về trải nghiệm NB được thu thập thông qua phỏng vấn (khảo sát trải nghiệm nhập viện,
nằm viện và xuất viện) đối với những NB nhập viện thành công. Bảng câu hỏi khảo sát được xây
dựng nhằm đánh giá mức độ hài lòng của NB tham gia mô hình “Kênh tiếp nhận nhanh” tại Bệnh
viện Truyền máu Huyết học, với trọng tâm là thời gian chờ đợi ở các khâu chính trong quy trình
nhập viện. Công cụ này được thiết kế dựa trên các nguyên tắc từ mô hình CAHPS (Hoa Kỳ) và
công cụ khảo sát trải nghiệm NB nội trú của Sở Y tế TP.HCM, đồng thời tích hợp các biến số
nghiên cứu định lượng của đề tài, tập trung vào thời gian chờ và trải nghiệm ở từng bước (đặt hẹn,
tiếp nhận, lên khoa, xét nghiệm).4,6
Sơ đồ 1. So sánh giữa mô hình tiếp nhận thông thường (trên) và
mô hình tiếp nhận nhanh (dưới)

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
262 TCNCYH 197 (12) - 2025
tại bệnh viện (43,8%) và tìm hiểu thông tin qua
báo đài/internet (40,9%).
2. Tỷ lệ và đặc điểm người bệnh có chỉ
định nhập viện theo phác đồ được nhập
viện thành công thông qua “Kênh tiếp nhận
nhanh” tại bệnh viện Truyền máu Huyết học
Bảng 1. Phân bố thời gian chờ trung bình
và tỷ lệ tiếp nhận thành công qua “Kênh tiếp nhận nhanh” (n = 169)
Đặc điểm
Nhập viện thông qua
“Kênh tiếp nhận nhanh”
X
± SD
Tổng thời gian chờ đợi 82,8 ± 18,3
Thời gian chờ nhập viện 20,3 ± 10,1
Thời gian chờ xét nghiệm 41,0 ± 11,7
Thời gian chờ đợi xem xét chỉ định điều trị 21,4 ± 9,4
Tỷ lệ đăng ký khám
“Kênh tiếp nhận nhanh”
Tần số
n = 169 (%)
Tiếp nhận thành công 146 (86,4%)
Không thành công 23 (13,6%)
X
: Giá trị trung bình, SD: standard deviation - độ lệch chuẩn
Tỷ lệ thành công của “Kênh tiếp nhận nhanh”
cao đạt 86,4% (Bảng 2). Thời gian chờ nhập
viện trung bình là 20,3 ± 10,1 phút; chờ làm xét
nghiệm 41,0 ± 11,7 phút; chờ xem xét chỉ định
điều trị 21,4 ± 9,4 phút. Tổng thời gian chờ là
82,8 ± 18,3 phút
Cả ba nhóm tuổi: dưới 18 tuổi, 18-59 tuổi,
và từ 60 tuổi trở lên đều có tỷ lệ tiếp nhận thành
công tương đương nhau, lần lượt là 87,8%,
85,9% và 86,0%. Tỷ lệ nam giới được tiếp nhận
thành công cao hơn nữ giới, đạt 89,8% so với
82,7%. Tỷ lệ tiếp nhận thành công của người
bệnh tại TP. Hồ Chí Minh cao hơn có ý nghĩa
thống kê, đạt 92,7% (p = 0,006). Ngược lại, tỷ
lệ thành công của người bệnh đến từ tỉnh/thành
khác chỉ là 78,1% (Bảng 2).
Bảng 2. Đặc điểm của nhóm người bệnh tiếp nhận thành công
và không thành công thông qua “Kênh tiếp nhận nhanh” (n = 169)
Đặc điểm
Tỷ lệ đăng ký khám “Kênh tiếp nhận nhanh” p
Tiếp nhận thành công
(n = 146)
Không thành công
(n = 23)
Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Theo giới tính
Nam 79 89,8 9 10,2 0,181
Nữ 67 82,7 14 17,3

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
263TCNCYH 197 (12) - 2025
Đặc điểm
Tỷ lệ đăng ký khám “Kênh tiếp nhận nhanh” p
Tiếp nhận thành công
(n = 146)
Không thành công
(n = 23)
Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Theo địa chỉ
Tại TP. Hồ Chí Minh 89 92,7 7 7,3 0,006
Tại Tỉnh/thành khác 57 78,1 16 21,9
Theo độ tuổi
< 18 tuổi 36 87,8 5 12,2
0,95518-59 tuổi 61 85,9 10 14,1
≥ 60 tuổi 49 86,0 8 14,0
3. Trải nghiệm của người bệnh và các yếu tố
liên quan đối với quy trình nhập viện thông
qua “Kênh tiếp nhận nhanh”
Phần lớn người bệnh (93,5%) được giải thích
rõ lý do nhập viện. Mặc dù có tới 55,0% người
bệnh phải chờ để được nhập viện, nhưng ở
các khâu khác như lấy mẫu xét nghiệm (69,2%
được làm ngay), khám khi đến sớm (68,0%
được khám ngay) và được bác sĩ khám (60,9%
được khám ngay).
Bảng 3. Nhận xét của người bệnh tại các giai đoạn của quy trình tiếp nhận nhanh (n = 169)
Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Được giải thích
khi nhập viện
Được BS giải thích rõ lý do
phải nằm viện 158 93,5
Do tôi/gia đình yêu cầu
bác sĩ cho nhập viện 11 6,5
Thời gian nhập viện thông qua
“Kênh tiếp nhận nhanh”
Phải chờ 93 55,0
Được nhập viện ngay 76 45,0
Thời gian lấy mẫu
xét nghiệm
Phải chờ 52 30,8
Được lấy ngay 117 69,2
Thời gian đến sớm hơn giờ
hẹn tiếp nhận nhanh
Phải chờ 54 32,0
Được khám ngay 115 68,0
Thời gian được
bác sĩ khám ngay
Phải chờ 66 39,1
Được khám ngay 103 60,9
Tỷ lệ trải nghiệm tốt nhìn chung cao, nổi bật
ở nội dung được thông tin/giải thích khi thực
hiện thủ thuật-phẫu thuật (96,4%) và được
cung cấp thông tin rõ ràng về tình trạng/diễn
tiến bệnh (88,2%); đánh giá chung đạt 80,5%.
Các nội dung mức trung bình gồm giải thích lý

