
cộng đồng địa phương tránh được chi phí xây dựng các nhà máy lọc nước, ước tính
khoảng 7 triệu USD/nhà máy và 300.000 USD vận hành mỗi năm (The World Bank
Research observe, vol 13, no 1 (page 13-35), February, 1998).
Kết quả nghiên cứu tổng giá trị rừng trồng vùng Đông dương của Dougla
(2004) đã cho biết cơ cấu tổng giá trị của những loài cây bản địa, trong đó: Gỗ chiếm
32%; Carbon 20%; Xói mòn đất 23%; giá trị phi sử dụng 22%; Du lịch 1% và Lâm
sản ngoài gỗ 2%. Nhưng, đối với cây mọc nhanh (cây nguyên liệu), Bạch đàn: Gỗ
chiếm 53%; Carbon 27; và xói mòn đất 20%.
Nhật Bản, Hội đồng các Nhà khoa học (2001) đã lượng hoá giá trị bằng tiền
tất cả các chức năng của hệ thống rừng liên quan đến cuộc sống của con người: Hấp
thụ CO2 khoảng 1,239 tỷ tỷ Yên; Nguồn cho năng lượng hoá thạch khoảng 226,1 tỷ
Yên; Phòng chống xói mòn đất 28,25 tỷ tỷ yên; Phòng chống sạt lở đất 8,44 tỷ tỷ
Yên; Giảm lũ lụt 6,47 tỷ tỷ Yên; Điều hoà nguồn nước 8,7 tỷ tỷ Yên; Làm sạch
nguồn nước 14,6 tỷ tỷ Yên; và Du lịch cảnh quan 2,25 tỷ tỷ Yên. (Japanese Forestry
Agency, 2005)
Ở nước ta, giá trị của rừng mới chỉ được biết đến như là nơi cung cấp các lâm
sản hơn là các giá trị về môi trường. Các nghiên cứu cụ thể về giá trị dịch vụ môi
trường của rừng hầu như rất ít và chưa có hệ thống. Tuy vậy, một số nghiên cứu
cũng đã làm rõ vai trò của rừng trong hạn chế xói mòn, điều tiết nước.
Tác dụng của rừng về hạn chế xói mòn và điều tiết nguồn nước là khá rõ. Các
nghiên cứu về dòng chảy mặt và xói mòn đất của Bùi Ngạnh, Vũ Văn Mễ và Nguyễn
Danh Mô (1972-1984), Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại Hải (1996) cho thấy dòng
chảy mặt ở rừng tự nhiên hỗn loài, tàn che 0,7 – 0,8 là nhỏ nhất, khoảng 84 m3/năm.
Ngược lại ở đất sau khai thác thành bãi chăn thả dòng chảy mặt là cao nhất, khoảng
2230 m3/năm. Liên quan đến dòng chảy mặt các tác giả cũng đã phân tích phân phối
lượng nước mưa qua tán rừng. Số liệu nghiên cứu cho thấy lượng nước mưa bị tán
rừng ngăn cản chiếm từ 5,7 - 11,6% tuỳ thuộc loại rừng, lượng nước men thân cây là
từ 1,1 - 3,5%, lượng nước tạo dòng chảy mặt là 1,7 – 1,8% và lượng nước tạo dòng
ngầm và các dạng khác là 88,2 - 92,5%. Khả năng giữ đất của rừng là rất rõ, thể hiện
qua lượng đất mất hàng năm. Đối với nơi trồng cây nông nghiệp, Thái Phiên và
Nguyễn Tử Siêm (1998) cho rằng ở nơi đất trống (thường có cỏ tự nhiên) hoặc trồng
cây theo phương thức bình thường không áp dụng các biện pháp bảo vệ đất thì lượng
đất mất hàng năm từ 7 – 23 tấn/ha, có nơi lên đến 50 – 170 tấn/ha tuỳ loại cây trồng,