intTypePromotion=3

Tiểu luận: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Trung Quốc

Chia sẻ: Nguyễn Minh Tuấn | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:35

0
169
lượt xem
53
download

Tiểu luận: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Trung Quốc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'tiểu luận: thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại trung quốc', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Trung Quốc

  1. Tiểu luận Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Trung Quốc
  2. MỤC LỤC 1.Khái quát về nền kinh tế Trung Quốc 2. Thực trạng đầu tư nước ngoài của Trung Quốc. 2.1. Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc. 2.2. Thực trạng thu hút đầu tư của Trung Quốc 2.3. Các chính sách đầu tư nước ngoài của TQ 3. Tình hình đầu tư nước ngoài tại VN và bài học kinh nghiệm từ TQ 3.1.Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tạ i Việt Nam 3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam rút ra từ thực trạng đầu tư nước ngoài tạ i Trung Quốc
  3. 1. Khái quát về nền kinh tế Trung Quốc Đất nước Trung Quốc nổi tiếng là Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Tên một trong những cái nôi văn minh nhân nước Hoa loại sớm nhất với lịch sử tồn tại trên Thủ đô Bắc Kinh 3.500 năm. Với lịch sử hàng nghìn năm Diện 1,39 tỷ người (tính đến 2010) phát triển, Trung Quốc luôn biết mở tích cửa tiếp nhận tinh hoa thế giới, thâu Dân tộc 56 dân tộc (dân tộc Hán là chủ hoá tri thức, tạo dựng nên gia tài văn yếu) hoá đầy trí tuệ mà luôn giữ đ ược sắc Phật giáo, Đạo giáo, Đạo Hồi, Tôn thái riêng biệt của mình giáo Thiên chúa giáo Năm 1978, Trung Quốc tiến hành Tiếng Hán là tiếng phổ thông Ngôn công cuộ c cải cách mở cửa và thực hiện ngữ một cuộc thay đổi vĩ đại trong lịch sử 31 tỉnh, trong đó thành phố gồm Hành của, và đã đ ạt đ ược những thành tựu 22 tỉnh, 5 khu tự trị, 4 thành phố chính đáng khâm phục. Gần 30 năm thực hiện trực thuộc TƯ cải cách mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu to lớn, trở thành cường quốc với nền kinh tế đứng thứ hai thế giới. Từ năm 1979 đến 2005, GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc tăng trên 9,4%, đạt mức cao nhất thế giới. Tính riêng năm 2005, năm cuối cùng thực hiện "Kế hoạch 5 năm lần thứ 10", GDP của Trung Quốc tăng trưởng 9,9%, đạt khoảng 2200 tỷ USD (gấp 50 lần so với năm 1978), xếp thứ 4 thế giới; thu nhập bình quân của cư dân ở thành thị đạt khoảng 1295 USD, ở nông thôn đạt khoảng 403 USD. Về kinh tế đối ngoại, Trung Quốc kết thúc thời gian quá độ sau khi gia nhập WTO; tổng kim ngạch thương m ại đạt 1422 tỷ USD, tăng 23,2%, xếp thứ 3 thế giới (gấp 60 lần so với năm 1978); dự trữ ngoại tệ đạt 941 tỷ USD, đứng đầu thế giới. Kể từ năm 2003, Trung Quốc đã vượt Mỹ trở thành nước thu hút đầu tư nước ngoài FDI lớn nhất thế giới; năm 2005 FDI thực tế đạt 60,3 tỷ USD, đưa tổng số vốn đầu tư thực tế vượt 620 tỷ USD.
  4. Về đầu tư nước ngoài, năm 1989, chính quyền đã ban hành các đạo luật và nghị định về khuyến khích nước ngoài đầu tư vào các vùng và các lĩnh vực ưu tiên cao. Một ví dụ điển hình của chính sách này là Danh m ục ngành khuyến khích, quy định mức độ nước ngoài có thể đ ược phép tham gia trong nhiều lĩnh vực công nghiệp khác nhau. Mở cửa cho bên ngoài vẫn là trọng tâm của quá trình phát triển của Trung Quốc. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngo ài sản xuất khoảng 45% hàng xuất khẩu Trung Quốc (dù đa số đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc đến từ Hồng Kông, Đài Loan và Ma Cao, hai trong số này thuộc quyền quản lý của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), và Trung Hoa Đại lục tiếp tục thu hút dòng đầu tư to lớn. Năm 2005, dự trữ ngoại tệ vượt mức 800 tỷ USD, hơn gấp đôi mức năm 2003 và trong tháng 11 năm 2006, Trung Hoa đ ại lục trở thành nước có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới, vượt mức 1.000 tỷ USD. Về đối ngoại, Trung Quốc khẳng định sẽ tiếp tục đi theo con đường phát triển hòa bình, kiên trì mở cửa đối ngoại, sẵn sàng hợp tác cùng có lợi với các nước trên thế giới, trong đó Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng theo phương châm "mục lân, an lân, phú lân" (thân thiện với láng giềng, ổn định với láng giềng và cùng làm giàu với láng giềng). Hầu hết các quốc gia và khu vực đều có nhu cầu thiết lập và mở rộng hợp tác với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực. Tính đến nay, Trung Quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 38 quốc gia Đông á, Đông Nam á, Nam á và Tây á. Các mối quan hệ này ngày càng được gia tăng lòng tin về chính trị và hợp tác toàn diện, chặt chẽ về kinh tế. Với tiềm năng kinh tế của mình, Trung Quốc ngày càng đẩy nhanh tốc độ và mở rộng không gian hợp tác kinh tế thương mại với các quốc gia châu á, đặc biệt là đẩy mạnh đầu tư quốc tế. Nhiều ý kiến cho rằng, Trung Quốc sẽ còn vươn lên mạnh mẽ hơn nhiều trong thế kỷ XXI, trở thành đối thủ cạnh tranh nặng ký trên trường quốc tế - cả về kinh tế lẫn vai trò chính trị. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng đang và sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức gay gắt trước những khó khăn trong nước cũng như trong quan hệ với các nước, nhất là các nước liên quan trực tiếp đến quyền lợi của Trung
  5. Quốc. Cả thành công, cơ hội và khó khăn, thách thức đều đặt Trung Quốc trước một nhiệm vụ và trách nhiệm nặng nề để thể hiện vị thế nước lớn của mình. 2. Thực trạng đầu tư nước ngoài của Trung Quốc. 2.1. Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc. 2.1.1.Tình hình đầu tư nước ngoài của Trung Quốc trong những năm gần đây. Chiến lược đầ u tư ra nước ngoài của các tập đoàn Trung Quốc song hành với chiến lược tìm kiếm nguyên vật liệu nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước có thể giúp kinh tế toàn cầu bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của các công ty Trung Quốc đã tăng từ 5,5 tỷ USD trong năm 2004 lên 48 tỷ U SD năm 2009. Phó chủ nhiệm Ủy ban Phát triển và Cải cách Trung Quốc Trương Hiểu Cường cho biết từ tháng 1 đến tháng 9/2010 Trung Quốc đã đầu tư 36,3 tỉ U SD vào 2.246 xí nghiệp ở 118 nước, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước. Tổng đầu tư nước ngoài của Trung Quốc hiện đã lên tới 1.000 tỉ USD, trong đó FDI chiếm 245,8 tỉ U SD, đ ứng thứ 15 thế giới và thứ 3 trong các nước đang phát triển. Và kết quả là FDI ra nước ngoài của Trung Quố c đạt 59 tỷ USD vào năm 2010. Các quan chức Trung Quốc d ự đoán con số này có thể đ ạt 100 tỷ USD vào năm 2013.
  6. Khu vực đầu tư chủ yếu của Trung Quốc là châu Á và tiếp đó là châu Phi. Hiện có hơn 2.000 doanh nghiệp Trung Quố c làm ăn ở Châu Phi với tổng đầu tư 32,2 tỉ USD. Các nước và vùng lãnh thổ có kim ngạch FDI lớn của Trung Quốc là Hong Hong, Mỹ, Nga, Nhật Bản, Các Tiểu vương quố c Arập thố ng nhất (UAE), Việt Nam, Australia và Đức... Xuất khẩu tư bản ra nước ngoài cũng kéo theo đông đảo dòng lao động Trung Quốc ra nước ngoài. Số liệu chính thức cho biết tổng số nhân viên công ty và lao động Trung Quốc ở nước ngoài vào khoảng 4 triệu người. Các lĩnh vực mà doanh nghiệp Trung Quố c tập trung vào là năng lượng, khai khoáng và nông nghiệp. Đây là số đầu tư trực tiếp p hi tài chính, không bao gồm đầu tư của các ngân hàng, công ty bảo hiểm và chứng khoán. Bảng 1.1: Khái quát FDI ra nước ngoài của Trung Quốc những năm gầ n đây: 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 5,5 tỷ 12,3 tỷ 22,5 tỷ 48 tỷ 59 tỷ 21,16 52.15 tỷ tỷ Nguồ n (UNITED NATIONS CONFERENCE ON TRADE AND D EVELOPMENT)
  7. 2.1.2. Chiến lược đầu tư FDI của Trung Quốc hiện nay. Để thu được lợi nhuận tối đa từ các khoản đầu tư ra nước ngoài thì các doanh nghiệp Trung Quốc đang được chính phủ hỗ trợ bằng các chính sách để sử dụng vốn một các có hiệu quả. Với sự hậu thuẫn của chính phủ, các doanh nghiệp Trung Quốc hiện đang ráo riết “thôn tính” các doanh nghiệp nước ngoài để thực hiện giấc mộng trở thành “trùm sò FDI” của thế giới. Giấc mộng này ấp ủ ngay từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa hồ i đầu những năm 1980, với “Chiến lược con lăn” hay còn gọi là “Chiến lược tuần hoàn”. Trước tiên là “hút” nhiều FDI về nước để hiện đại hóa, tiếp đó ra sức xuất khẩu hàng hóa, tích lũy tư b ản, rồ i chuyển sang xuất khẩu tư b ản ra thế giới, tức “tiến ra ngoài”. Cứ “lăn đi lăn lại” như vậy cho tới khi Trung Quốc thực hiện được giấc mộng thâu tóm các doanh nghiệp lớn của thế giới. Để thực hiện chiến lược này, trong hơn 30 năm qua kể từ năm 1980 đ ến tới cuố i năm 2006, Trung Quốc đã “hút” FDI tới 685,4 tỉ USD với trên 590.000 hạng mục công trình, đứng đầu bảng các nước đang phát triển và đ ứng thứ 5 thế giới. Cùng với “hút” FDI, Trung Quốc đẩy mạnh phát triển ngoại thương chiếm lĩnh thị trường. Số liệu thống kê của Trung Quốc cho biết kim ngạch ngoại thương Trung Quốc đã tăng từ 509,7 tỉ USD (năm 2001) lên 2.100 tỉ U SD (năm 2007). Năm 2010, Trung Quốc đã trở thành nước có GDP thứ hai thế giới sau Mỹ và vượt Đ ức trở thành nước xuất khẩu lớn thứ nhất thế giới. Từ đó, Trung Quốc đ ã tích lũy được lượng tư bản to lớn, với 2.648,3 tỉ USD dự trữ ngoại tệ (tính tới 10/2010). Đây chính là điều kiện để Trung Quốc có thể trở thành “trùm sò FDI” của thế giới, tranh giành bá quyền với Mỹ. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho x ung đột kinh tế và thương mại giữa Trung Quốc với Mỹ và các nước Phương Tây đã trở nên gay gắt thời gian qua và tiếp tục nghiêm trọng hơn trong thời gian tới. Có hai yếu tố giúp thúc đẩy hoạt động đ ầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc. Thứ nhất là Trung Quốc đã tạo ra một thế hệ công ty đủ sức cạnh tranh quốc tế, có thể
  8. cung cấp cho các nước đang phát triển những đoàn tàu tố c hành, trạm điện, máy móc khai mỏ và thiết b ị viễn thông đủ chất lượng với giá cả thường thấp hơn nhiều so với các nhà cung cấp khác. Y ếu tố thứ hai là sự hỗ trợ của một hệ thống ngân hàng được chính phủ huy động để hậu thuẫn cho các doanh nghiệp nói trên. Chiến lược của chính phủ Trung Quố c là tạo thật nhiều chân rết trên khắp thế giới, nơi nào cũng phải có sự hiện diện của Trung Quốc, từ đó dùng tiền của mình để tạo ra sức mạnh và ảnh hưởng của mình trên toàn thế giới. Quan chức cấp cao Yi Huiman của Ngân hàng Công thương Trung Quốc đ ã tiết lộ trong mộ t cuộ c hội thảo gần đây rằng ngân hàng của ông đang làm việc với chính phủ để cung cấp “đường sắt đi kèm tài trợ” trên toàn thế giới. Vale, công ty khai mỏ của Braxin tuần qua thông báo đã ký với hai ngân hàng Trung Quốc m ột thỏa thuận cung cấp tín dụng 1,23 tỷ USD để mua 12 tàu thủy chở hàng cỡ lớn của Trung Quốc để dùng làm phương tiện chuyên chở quặng sắt giữa hai nước. Các ngân hàng Trung Quốc cũng đã cho công ty d ầu mỏ Petrobras của Braxin vay 10 tỷ U SD và cho công ty khai khoáng quặng sắt Vale vay 1,23 tỷ USD. Năm ngoái, Trung Quốc đã vượt Mỹ trở thành đối tác thương m ại lớn nhất của Braxin. Mố i quan hệ kinh tế ngày càng chặt chẽ giữa hai cường quốc kinh tế đang phát triển này trong thập kỷ qua đã trở thành mộ t biểu tượng của sự d ịch chuyển kinh tế toàn cầu. Rất có thể cặp đôi này cũng sẽ m ở đường cho một trong những sự điều chỉnh lớn nhất của nền kinh tế thế giới trong thập kỷ tới. Trung Quốc sẽ trở thành nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất ở Braxin năm nay sau khi ký một loạt thỏa thuận trong các lĩnh vực khai mỏ, luyện thép, thiết bị xây dựng và phân phối điện. Các dự án đ ầu tư nói trên là một phần của một xu hướng âm thầm nhưng vô cùng quan trọng. Vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, Trung Quốc đang trở thành điểm tựa cho một chu kỳ mới tăng trưởng kinh tế bền vững giữa châu Á và phần còn lại của thế giới đang phát triển. Nếu đầu tư vào Braxin là một biểu tượng của thời kỳ mới trong đó kinh tế Trung Quốc thâm nhập sâu hơn vào các nước đang phát triển, thì một biểu tượng nữa
  9. đó là một loạt mạng lưới đường sắt do Trung Quốc xây dựng đang lan tỏ a ra toàn cầu. Các công ty chế tạo đường sắt Trung Quốc hiện nằm trong số những công ty làm ăn hiệu quả nhất và trong nhiều năm qua đã hoạt động ở một số nước láng giềng Trung và Đông Nam Á. Trong năm qua, các công ty này cũng đã ký được nhiều hợp đồng ở những nơi khác như U craina, Thổ Nhĩ Kỳ và Áchentina. Các công ty đường sắt Trung Quốc không chỉ đơn thuần lắp đặt đường ray mà còn hy vọng ký kết được nhiều hợp đồng bán thiết bị đường sắt cao tốc cho nước ngoài, trong đó có đ ầu máy và hệ thống điều khiển đường sắt. Khách hàng đầu tiên có thể là tuyến đường sắt cao tốc sắp được xây dựng nối liền Sao Paulo với Rio de Janeiro. Nếu đầu tư của Trung Quốc thực sự giúp tạo ra mộ t chu kỳ tăng trưởng mới ở các nước đang phát triển, nó sẽ là mộ t liều thuốc bổ cho nền kinh tế toàn cầu, giữa lúc nhiều nền kinh tế hàng đầu vẫn rất u ám, thậm chí đố i mặt với nguy cơ suy thoái kép. Sự kết hợp giữa nhu cầu nhập khẩu và đầu tư tăng mạnh của Trung Quốc là một lý do giúp kinh tế Braxin đạt được mức tăng trưởng 8,9% trong nửa đầu năm 2010. Tuy nhiên, đối với các nền kinh tế phương Tây, sự hiện diện của Trung Quốc mang lại nhiều rủi ro. Chiến lược đ ầu tư của Bắc Kinh xem ra có thể mở đầu một thời kỳ cạnh tranh gay gắt giữa các tập đoàn đa quốc gia của các nước phát triển và các công ty quốc doanh Trung Quốc. Sự hỗ trợ tài chính mạnh mẽ từ p hía chính phủ cũng là lý do khiến các công ty Trung Quốc bị cáo buộc cạnh tranh không bình đ ẳng. Không có gì ngạc nhiên, khi mộ t số tập đoàn đa quốc gia như GE và Siemens trong thời gian gần đây lên tiếng chỉ trích các chính sách công nghiệp của Bắc Kinh. Đây chính là những tập đoàn hoạt động trong các lĩnh vực mà Trung Quốc đang ngày càng có sức cạnh tranh như thiết bị điện và đường sắt. Sức mạnh nổi lên của Trung Quốc cũng đ ặt ra vấn đ ề về tương lai của đồng USD. Các quan chức Trung Quốc đã nói về mục tiêu dài hạn loại bỏ vai trò dự trữ quốc tế của đồng USD bằng một giỏ tiền tệ khác, trong đó có thể bao gồm đồng nhân dân tệ. Do thương mại với các nước đang phát triển phát triển mạnh, Bắc Kinh bắt đầu có các bước đi quan trọng nhằm mở rộng phạm vi sử dụng đồng nhân nhân tệ, bao
  10. gồm cho phép các quỹ đầu tư nước ngoài sử dụng đồng tiền này đầu tư vào thị trường trái phiếu trong nước. Một số nhà kinh tế cho rằng đồng nhân dân tệ có thể sẽ trở thành đồng tiền giao dịch trong các hợp đồng buôn bán ở châu Á trong thập kỷ tới. Nhìn ở khía cạnh nào thì cũng thấy là nền kinh tế Trung Quố c đang tăng trưởng rất ấn tượng và số tiền dự trữ của các doanh nhân Trung Quốc cũng không nhỏ hơn Quỹ D ự Trữ N goại Hối (FX Reserve) của Chính phủ là bao nhiêu. Điều này gây ra một hiện tượng mới b ắt đầu từ 10 năm qua là Trung Quố c hiện đang tài trợ cho rấ t nhiều hoạt động kinh tế của thế giới, đã phát triển và đang phát triển. Trong khi Chính phủ Trung Quốc dùng tiền dự trữ để mua trái phiếu và các khoáng sản cho nhu cầu sản xuất nội địa; thì doanh nghiệp tư nhân có khuynh hướng mở rộng hoạt động xuất khẩu của mình b ằng cách mua lại các công ty Âu Mỹ có giá trị g ia tăng cho hệ thống phân phối (logistics) của ngành nghề mình. Mộ t ưa thích khác của doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc là việc mua lại thương hiệu (Geely mua Volvo, Levono mua IBM PC…) và đầu tư vào các liên doanh để mua công nghệ cao (không thành công lắm vì Âu Mỹ vẫn bảo vệ kỹ những lợi thế cạnh tranh của họ). Nhìn vào số tiền họ đã đầu tư như mộ t bản đồ cho tương lai, ta có thể nhận rõ những cá tính của đ ầu tư Trung Quốc. Điều này rất quan trọng cho những doanh nhân muốn tiếp cận nguồn vốn này và cho những người làm chính sách kinh tế muố n tránh những ảo tưởng về ý đồ của Trung Quốc. Theo luật lệ Trung Quốc, mỗi đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp hay công dân Trung Quốc trên 200.000 USD đều phải được sự chấp thuận của Cục Đ ầu Tư Nước Ngoài nói trên. D ĩ nhiên con số đầu tư “chui” của các tư nhân và số tiền chuyển ra nước ngoài để che dấu tài sản cũng là mộ t con số khổng lồ, nhưng không ai biết chính xác để rút kết luận. Điều chắc chắn là mọi hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Trung Quốc ở nước ngoài chịu sự kiểm soát và điều hành chặt chẽ bởi chính phủ Trung Ương và nằm trong kế ho ạch về kinh tế vĩ mô của chính phủ. Xin ghi nhớ ở đ ây là Cục Đ ầu Tư Nước Ngoài nằm dưới sự điều khiển trực tiếp của Bộ Kế Hoạch Quố c Gia.
  11. Theo những tuyên bố của ông Fan Chung Yong - Cục Trưởng Cục Đ ầu Tư Nước Ngoài của Trung Quốc, ta có thể rút ra các ngụ ý của ông về tiêu chí đ ầu tư FDI của Trung Quốc ở nước ngoài. Sách lược gồm 4 điểm chính: Giúp chính phủ thực hiện các mục tiêu chính trị; 1. Giúp kinh tế Trung Quố c phát triển b ền vững bằng cách thu gom những 2. tài nguyên và công nghệ cao; Giúp các doanh nghiệp Trung Quốc cạnh tranh hữu hiệu hơn với quốc tế 3. về thị phần, về kỹ năng quản trị, về thương hiệu; Tạo ra lợi nhuận tốt đẹp hơn so với hoạt động nội địa. 4. Đây là kế ho ạch chính thức; nhưng khi nhìn vào những dự án đ ầu tư đã giải ngân, ta lại phát hiện vài sự kiện thú vị: Nếu tiêu chí số mộ t là mục tiêu chính trị, thì chính phủ Trung Quốc đã 1. không sử d ụng tối đa vũ khí FDI này của mình. Lấy trường hợp một đồ ng minh thân thiế t nhất của Trung Quốc là Bắc Triều Tiên. Nếu Trung Quốc thực sự muốn giúp Bắc Triều Tiên p hát triển kinh tế thì chỉ cần 10% số tiền FDI năm 2009 (20 tỉ USD), Bắc Triều Tiên sẽ có bước tiến nhảy vọt về GDP vì hiện nay GDP của họ rất nghèo nàn (dưới 26 tỉ U SD vào 2008). Có thể họ muốn giữ Bắc Triều Tiên nghèo khó để phải luôn luôn tùy thuộc vào Trung Quốc và dễ sai bảo hơn? Tôi không biết gì về chính trị nhưng nhìn vào kinh tế, ta thấy có nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời cho quan hệ giữa Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Mộ t nước anh em về chủ nghĩa khác của Trung Quốc là Cuba (GDP phỏng đoán là dưới 5 2 tỉ USD vào 2009) đã chỉ nhận khoảng 5 triệu USD đ ầu tư FDI của Trung Quốc. Với các quốc gia cực tả, chống Mỹ như Iran hay Venezuela, FDI của Trung Quốc đều nhắm vào dầu khí thay vì chính trị. Có lẻ “bụt nhà không thiêng”? Về thu tóm tài nguyên, nhất là khoảng sản và d ầu khí, thì Trung Quốc rất 2. năng độ ng trong lãnh vực này. Những hoạt động của Trung Quốc tại Châu Phi, Úc, Trung Đông đã tốn khá nhiều giấy mực và bình luận của thế giới. Tuy vậy, về công
  12. nghệ cao, các công ty Trung Quốc đã thất bại phần lớn tại các quốc gia Âu, Mỹ, Nhật, Úc. Các xứ này hiểu rõ lợi thế cạnh tranh duy nhất của họ với Trung Quố c là công nghệ cao và thương hiệu, cũng như kỹ năng quản trị, nên họ đã tìm mọi cách vô hiệu hóa chiến lược này của Trung Quốc. Vả lại, ngày nào mà Trung Quốc chưa nghiêm túc xử lý các luật lệ về b ản quyền trí tuệ, của Trung Quốc cũng như của quố c tế, thì các doanh nghiệp IT và công nghệ cao sẽ tránh né Trung Quốc và coi họ như kí sinh trùng. Mặc dù Trung Quốc đã đầu tư FDI nhiều nhất vào Âu, Mỹ, Úc (khoảng 3. 58% của tổ ng số FDI trên toàn cầu), nhưng ngoài hai thương hiệu Volvo và IBM PC, họ đã không có một thành tích gì khác để trưng bày. Tuy vậy con số 58% này nói rõ sự liên hệ mật thiết của nền kinh tế Trung Quốc và Âu Mỹ Úc. Trung Quốc hiểu rất rõ rằng Trung Quốc không thể p hát triển đơn phương như ước muốn mà phải tùy thuộc rất nhiều vào thị trường, kỹ năng quản trị, công nghệ và ngay cả tài nguyên của các nước Tây phương. Ngay cả Quỹ Dự Trữ Ngoại Hối của quốc gia cũng đầu tư chủ yếu vào tiền mặt và trái phiếu của Âu Mỹ N hật Úc. Một sự thực mà các nhà yêu nước Trung Quốc không muố n nhìn nhận Trung Quốc cần Âu Mỹ Nhật Úc hơn là ngược lại. Điểm sau cùng của chính sách đầu tư FDI của Trung Quố c là tìm lợi 4. nhuận. Đây là thất bại lớn nhất của chính sách này. Theo lời thú nhận của ông Zhu Zhixin, Phó Chủ tịch của Sở Kế Hoạch Quố c Gia (State Planning Commission vừa đổi tên thành National Development and Reform Commission NDRC), thống kê đến 2008 cho thấy chỉ 28% các hoạt động tại nước ngoài của doanh nghiệp Trung Quốc là có lời; 47% là hòa vốn và 25% phải chịu lỗ liên tục hoặc đã đóng cửa rút lui. Nhận thức được những bất lợi này, ông Bộ trưởng đã nêu ra 5 vấn đề lớn mà doanh nghiệp Trung Quố c phải đố i phó khi đ ầu tư vào nước ngoài: + Doanh nghiệp nhỏ hơn doanh nghiệp đối thủ, lại làm quá nhiều lĩnh vực, nên không đi sâu vào ngành nghề gì.
  13. + Doanh nghiệp có truyền thống địa phương hóa, không quan tâm đến chuyện lan rộ ng ra thế giới. + Không có công nghệ hay thương hiệu riêng. + Tổ chức doanh nghiệp còn luộm thuộm. + Doanh nghiệp vừa và nhỏ học nhiều bài học xấu từ các công ty quốc doanh lớn. Điều này cho thấy Trung Quố c còn phải học nhiều về vấn đề đầu tư FDI tại nước ngoài. Nhật đã trả nhiều bài học đắt giá về đầu tư nước ngoài ở hai thập niên 70’s và 80’s khi kinh tế của Nhật bứt phá ngoạn mục. Chỉ sau này, sau 20 năm phiêu lưu, đầu tư nước ngoài của Nhật mới ổ n định và thâu lợi. 2.2.2. Thực trạng thu hút đầu tư của Trung Quốc Sau hơn 20 năm (từ 1979 đến nay) thực hiện chính sách cải cách mở cửa, kinh tế Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn, thu hút sự chú ý của cả thế giới. Kim ngạch ngoại thương hai chiều của Trung Quốc đã tăng từ 28 tỷ USD năm 1982 lên 510 tỷ USD năm 2001. Năm 2001, Trung Quốc trở thành nước xuất khẩu đứng thứ bẩy thế giới (266,3 tỷ USD) và là nước nhập khẩu đứng thứ 8 trên thế giới (243,7 tỷ USD). Cho đến nay, tương ứng với các thời kỳ, nền kinh tế Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng. Vị thế và ảnh hưởng của Trung Quốc đã tăng lên rõ rệt. Nhiều nhà kinh tế nhận định rằng, từ nay đến hết thập niên đầu thế kỉ XXI vẫn là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc. Một trong những yếu tố tạo nền sự phát triển mạnh mẽ kinh tế của Trung Quốc trong hơn 20 năm qua là sự thành công trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Từ năm 1992 đến nay, Trung Quốc liên tục đứng đầu các nước đang phát triển và đứng trong tốp đầu trên thế giới về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và thậm chí đã vượt qua Hoa Kỳ vào năm 2002 với 52,7 tỷ USD. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành động lực của sự phát triển kinh tế Trung Quốc và chính nó là yếu tố then chốt để nước này thực hiện công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Quan trọng hơn, nó là cơ sở
  14. chủ yếu để Trung Quốc thực hiện b ước chuyển từ một nước nông nghiệp, khai thác tài nguyên, xuất khẩu nguyên liệu là chính sang thành nước sản xuất và xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng công nghiệp chế tạo. Nhờ có đầu tư trực tiếp nước ngoài mà đất nước Trung Quốc đ ã thay da đổi thịt. Nếu như trước khi mở cửa, Trung Quốc được ví như một hành tinh chết, không sinh sôi, không nảy nở, phát triển thì sau 20 năm mở cửa, một đất nước Trung Quốc lớn mạnh đang hình thành, tạo nên một trong những “điều thần kỳ kinh tế vĩ đại nhất của thế kỷ”.  Nguồn FDI vào Trung Quốc tăng, từ hơn 3 tỷ USD (năm 1990) lên 40 tỷ USD (năm 2000) và 53 tỷ USD (năm 2005) Kể từ khi cải cách kinh tế và mở cửa ra bên ngoài, Trung Quốc đã thu hút ngày càng lớn số vốn nước ngoài. Có ba hình thức chủ yếu của dòng vốn đầu tư nước ngoài : vốn vay nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoài và đ ầu tư nước ngoài khác Giữa năm 1979 và 2000, thực tế sử dụng của Trung Quốc vốn nước ngo ài hơn 500.000.000.000 đô la Mỹ, hơn hai phần ba vốn nước ngo ài theo hình thức đầu tư trực tiếp. Tầm quan trọng của FDI đã tăng mạnh kể từ cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980. N hững năm 1980 , dòng vốn FDI chỉ chiếm 12% tổng vốn nước ngo ài sử dụng thực tế. Nhiều yếu tố góp phần làm chậm tiến độ tương đối của Trung Quốc trong việc thu hút FDI trong giai đo ạn này. V í dụ, chính phủ yêu cầu rằng tất cả các doanh nghiệp liên doanh nước ngoài duy trì bảng cân đối ngoại tệ đã gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài, lợi nhuận bằng ngoại tệ mạnh không thu được. Một phần lý do là các nhà đầu tư nước ngoài không chắc chắn về môi trường chính sách tro ng những năm đầu của cải cách. Tỷ lệ sử dụng tăng lên trong nửa sau của năm 1980 do cải thiện môi trường kinh doanh nhưng đã b ắt đầu giảm sau năm 1989. Những bất ổn chính trị vào năm 1989 góp phần vào việc giảm tỷ lệ sử dụng vốn FDI. Ngoài ra, vấn đề thiếu hụt do bóp chặt tín dụng của chính phủ để kiểm soát nền kinh tế quá nóng. Cuối cùng, nhiều dự án công bố cũng có thể gian lận, liên doanh giả mạo được thiết lập để tận dụng lợi thế của thuận lợi ưu đãi thuế. Vì vậy, trong những năm 1990, trong khi hợp đồng FDI đăng ký tăng lên một con số cao kỷ lục nhưng thực tế sử dụng
  15. vốn FDI chỉ tăng từ từ. Tỷ lệ FDI sử dụng đã giảm xuống mức thấp nhất dưới 20% vào năm 1992 nhưng sau đó tăng lên đều đặn trong suốt những năm 1990. Sự tăng trưởng trong FDI đã b ắt đầu tăng từ giữa những năm 1980, khi một loạt các biện pháp đã được áp dụng để cải thiện môi trường đầu tư tại Trung Quốc. Năm 1980 và đ ầu những năm 1990, FDI tăng ổn định và chiếm khoảng một phần ba tổng số vốn nước ngoài chảy vào. Dòng vốn FDI tăng nhanh kể từ năm 1992 và trở thành nguồn quan trọng nhất của dòng vốn nước ngoài. Trung Quốc cũng đã trở thành quốc gia nhận FDI lớn nhất trên thế giới. FDI hàng năm sử dụng đã tăng từ 4 tỷ USD / năm vào năm 1991 lên hơn USD 45tỷ, đỉnh cao của nó (vào năm 1997 và 1998). Năm 1999 và 2000, dòng vốn FDI giảm từ cấp cao nhất, nhưng vẫn còn số tiền hơn 40 tỷ USD một năm. Trong những năm gần đây, FDI từ các n ước vào Trung Quốc tăng rất nhanh . Năm 2010, tổng vốn FDI là 105,7 tỷ USD. Nguyên nhân của sự gia tăng nhanh chóng đó là b ởi vì sức mạnh nền kinh tế Trung Quốc ngày càng được thể hiện sâu sắc. Hơn thế nữa,cơ sở hạ tầng được đầu tư theo tiêu chuẩn,tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệp phát triển. Hành lang pháp lý tại đất nước này ngày càng chặt chẽ và thông thoáng nhất có thể giúp doanh nghiệp nước ngoài yên tâm đầu tư.  Tác động của FDI: - FDI có mặt ở nhiều ngành Công nghiệp của Trung Quốc, đóng góp vào việc chuyển đổi cơ cấu công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực FDI trong giá trị sản xuất công nghiệp của Trung Quốc đã tăng từ 7% năm 1990 lên 28% năm 2000. Các doanh nghiệp FDI là những doanh nghiệp có năng suất cao nhất (gấp đôi so với doanh nghiệp nhà nước). - N ăm 1995, các doanh nghiệp FDI của Trung Quốc chiếm tới 61% sản lượng quần áo và giày dép xuất khẩu của Trung Quốc, tạo nhiều việc làm, chiếm 3% lao động thành thị và đóng vai trò quan trọng trong quá trình tư nhân hóa. Vấn đề việc làm là vấn đề nhức nhối của xã hội Trung Quốc. Do dân số đông đúc và thiếu việc làm
  16. dẫn tới đời sống nhân đân khó khăn. Khi vốn FDI tăng cường sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân,góp phần cải thiện và đảm bảo đời sống cho người dân. - D oanh nghiệp Trung Quốc liên doanh với nước ngo ài là cách tiếp cận nhanh nhất và thuận lợi nhất đối với các nguồn vốn ngân hàng nước ngo ài. Doanh nghiệp Trung Quốc có cơ hội được sử dụng lượng vốn lớn để mở rộng quy mô sản xuất,tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm. - V ai trò của FDI không lớn nếu xét về mặt đóng góp tài chính vào cán cân thanh toán, nhưng giúp cán cân thanh toán của Trung Quốc mạnh lên trong những năm qua và sau đó lại làm tăng mạnh dự trữ ngoại tệ (năm 2001 tăng thêm khoảng 50 tỷ USD). Đồng thời, FDI đ ã góp phần quan trọng trong toàn bộ vốn đầu tư, chiếm khoảng 35% GDP và do đó góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế. FDI còn góp phần vào tỷ trọng trong thuế giá trị gia tăng của Trung Quốc. - FDI vào Trung Quốc còn có vai trò quan trọng khác, chứng tỏ Trung Quốc là một thị trường hấp dẫn, nên đ ã thu hút được nhiều FDI hơn các nước: Achentina, Braxin … , và làm cho các nước Đông Nam á lo ngại vì nguồn FDI chảy hết về Trung Quốc. FDI tăng nhanh làm cho vị thế của quốc gia này ngày càng vững mạnh hơn,chứng tỏ sức mạnh của nền kinh tế Trung Quốc.  Những nguyên nhân làm tăng FDI vào Trung Quốc : - Trung Quốc có một thị trường tiêu thụ rộng lớn, đặc biệt quy mô thị trường có tầm quan trọng đối với FDI từ Mỹ và Châu Âu. - Trung Quốc có lợi thế so sánh về nguồn lao động so với các nước khác trong khu vực. Đây là một yếu tố rất quan trọng trong thu hút FDI hướng vào xuất khẩu từ Hồng Công và Đài Loan.
  17. - Cơ sở hạ tầng của Trung Quốc tương đối tốt hơn so với các nước khác trong khu vực. - Đ óng vai trò trung tâm trong việc mở cửa từng bước nền kinh tế đối với các nhà đầu tư nước ngoài và sự khác nhau quan trọng giữa các vùng này với các vùng khác ở Trung Quốc là các khu kinh tế mở. Tại đây đã có sự phân quyền quản lý và cho phép đầu tư vào các vùng kinh tế mở vượt kế hoạch Nhà nước. Còn một số nguyên nhân khác, trong đó yếu tố văn hóa - d ân tộc có vai trò tích cực (50% FDI vào Trung Quốc là từ Hồng Công, Đài Loan và Xingapo, những nơi có nhiều người Hoa sinh sống, do có tương đồ ng văn hóa và các nhà đầu tư này cũng có lợi trong việc qua đ ược những rắc rối quan liêu và tham nhũng). Đồng thời, yếu tố cơ cấu kinh tế và thể chế chính trị cũng đóng vai trò quan trọng.  Những tồn tại và khó khăn: - Sự tập trung vốn của FDI ở Trung Quốc thấp hơn so với các nước và vùng lãnh thổ khác. Chẳng hạn, FDI chảy vào 3 ngành công nghiệp hàng đầu của Hồng Công và Đài Loan là 86%, Inđônêxia là 79% và của Malaixia là 75% , còn Trung Quốc chỉ chiếm 47% FDI. - FDI có mặt ở nhiều tỉnh, kể cả các tỉnh Nội Mông nghèo, nhưng phân bố không đều (các tỉnh miền Tây chỉ thu hút được 3%, các tỉnh miền Trung 9%, trong khi đó các vùng Duyên hải thu hút tới gần 88% các dòng vốn FDI), đã tạo ra chênh lệch phát triển giữa các vùng. - Chính sách thuế của Trung Quốc rất phức tạp và còn nhiều bất cập, hiện đang khắc phục dần. Từ năm 1994 đến cuối năm 2000, khả năng mang lại lợi nhuận trước thuế trung bình của các doanh nghiệp FDI ở Trung Quốc là 8%; riêng với các doanh nghiệp FDI từ Mỹ trong những năm 1990 hoặc nửa cuối những năm 1990 là kho ảng
  18. 14%, tương đương với khả năng mang lại lợi nhuận của doanh nghiệp FDI từ Mỹ vào các nước như Achentina, Braxin, Mêhicô và Thổ Nhĩ Kỳ. Tóm lại, trong hơn hai thập kỷ chuyển đổi về kinh tế, Trung Quốc đã thu được những thành công rực rỡ: Tốc độ tăng trưởng cao, tỷ lệ đói nghèo giảm, và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển mạnh. Một trong những động lực thúc đẩy sự chuyển đổi thành công này là việc khai thác hiệu quả nguồn vốn FDI. Ngoài những yếu tố quyết định đối với việc thu hút FDI như quy mô thị trường lớn, giá lao động rẻ, cơ sở hạ tầng được cải thiện đi cùng với các chính sách FDI cởi mở, và đặc biệt là việc thành lập các khu kinh tế mở, còn có thể rút ra một số bài học khác cho nhiều nước đang phát triển 2.3. Các chính sách đầu tư nước ngoài của TQ. 2.3.1.Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài Việc thực hiện các chính sách thu hút ĐTNN trong thời kỳ này có thể được chia thành giai đoạn như sau: Giai đoạn 1: Từ năm 1979 đến năm 1982. Các Xí nghiệp dùng vốn nước ngoài chủ yếu dưới 3 hình thức: liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh và 100% vốn nước ngoài, lầu đầu tiên được thành lập ở các ĐKKT, tiếp đó là ở các thành phố mở cửa ven biển trên cơ sở thử nghiệm. Trong thời gian này, chủ ĐTNN vẫn còn băn khoăn nghi ngại về môi trường đầu tư, hầu hết các chủ đầu tư vào Trung Quốc khi đó là những Hoa kiều từ Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan, với quy mô đầu tư nhỏ. Hoạt động kinh doanh cũng chủ yếu là gia công, lắp đặt các linh kiện và phụ tùng nhập khẩu. Trong suốt thời kỳ này, cũng chỉ có 992 dự án ĐTNN được phê chuẩn với tổng giá trị hợp đồng và giá trị cam kết tương ứng là 6 tỷ và 1,166 tỷ USD.
  19. Giai đoạn 2: Từ năm 1983 đến năm 1985. Năm 1983 nhiều Công ty nước ngoài tăng đầu tư vào Trung Quốc. Số dự đầu tư mới tăng thêm tới 470, khối lượng vốn được phê chuẩn và vốn thực tế sử dụng tương ứng là 1,732 tỷ và 0,636 tỷ USD. Địa bàn thu hút ĐTNN được mở rộng thêm trong các năm 1984 và 1985 như mở cửa 14 thành phố ven biển và 3 khu phát triển kinh tế. Chính quyền địa phương ở các khu vực này đ ã thực hiện nhiều biện pháp để cải thiện cơ sở hạ tầng như phát triển mạng lưới giao thông vận tải, thông tin, cấp điện, cấp nước.... thực hiện nhiều chính sách ưu đãi về thuế, lợi nhuận, đơn giản hoá các thủ tục hành chính như lập hồ sơ, kiểm tra, phê chuẩn và đăng ký d ự án... Tháng 4/1984, Trung Quốc công bố Quy định về các Xí nghiệp hợp tác Trung Quốc - nước ngoài các cấp chính quyền địa phương lại đưa ra nhiều các biện pháp ưu đ ãi đối với ĐTNN. Kết quả là số các dự án FDI vào Trung Quốc tăng rất nhanh qua từng năm. Năm 1984 số Xí nghiệp dùng vốn nước ngoài mới tăng lên 1857, gấp hơn 2 lần mức năm 1983. Năm 1985, mức tăng số Xí nghiệp mới đạt 65% (3.073). Khối lượng vốn đầu tư cam kết trong các năm 1984 và 1985 tăng 53% và 120% so với các năm trước. Giai đoạn 3 : Từ năm 11986 đến năm 1988. Sau khi đạt được những đỉnh cao trong thu hút ĐTNN. Trong các năm 1984 và 1985, Trung Quốc dường như cần có thời gian để "tiêu hoá", ổn định lượng FDI mới và cũng để xem xét, tổng kết kinh nghiệm, hoàn thiện hơn nữa môi trường đầu tư. Ngày 12/4/1986, Quốc hội Trung Quốc thông qua Luật các công trình dùng vốn nước ngoài của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, đ ồng thời Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các quy định tạm thời của Hội đồng Nhà nước về khuyến khích ĐTNN (còn gọi là 22 điều khoản) vào tháng 10 năm 1986. Trong khi đó, các phòng ban của Chính phủ và chính quyền các địa phương đã liên tiếp công bố hàng loạt các biện pháp triển khai thực hiện các quy định này. Nhiều nơi đưa ra các biện pháp ưu đ ãi, khuyến khích đầu tư vào các dự án sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sử dụng kỹ thuật mới. Năm 1987, Chính phủ Trung Quốc chỉ đạo các cơ quan hữu quan kiểm tra, xem xét tình hình thực hiện 22 điều khoản ở trên. Tháng 7/1988 Chính phủ lại công bố Luật và các quy định khuyến khích các nhà đầu
  20. tư Đài Loan đầu tư vào Đại lục. Do vậy, một làn sóng FDI mới lại đến Trung Quốc trong năm 1988. Các dự án đầu tư mới tăng 166% so với năm 1987, đạt con số 5.945. Khối lượng vốn đầu tư mới theo cam kết đạt 5,297 tỷ USD, tăng 3%. Giai đoạn 4 : Từ năm 1989 đến năm 1991. Do tác động của sự kiện Thiên An Môn (4/6/1989) các dự án ĐTNN mới phê chuẩn trong năm 1989 giảm 2,8% so với năm 1988, còn 5.579 dự án, nhưng khối lượng cam kết theo hợp đồng và khối lượng đầu tư thực tế lại tăng tương ứng là 5,6% và 6,3%, đạt 5,6 tỷ USD và 3,393 tỷ USD. Tháng 4/1990, sau khi tổng kết kinh nghiệm 10 năm thu hút vốn ĐTNN và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Trung Quốc đã sửa đổi luật Liên doanh Trung Quốc - nước ngoài của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công bố năm 1979, đồng thời cụ thể Luật thành cá điều khoản như: không thực hiện quốc hữu hoá các Xí nghiệp có vốn nước ngoài, giới hạn thời gian thực hiện hợp đồng, bổ nhiệm chủ tịch Hội đồng quản trị, miễn giảm thuế.... Tháng 5 /1990, Chính phủ Trung Quốc lại công bố quy định về khuyến khích đầu tư của người Hoa và Hoa kiều yêu nước ở Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan và đến tháng 9 năm đã phê chuẩn quy định về khuyến khích ĐTNN và miễn thuế thu nhập và thuế kinh doanh cho các Xí nghiệp dùng vốn nước ngo ài ở K hu mới Phố Đông Thượng Hải. Tháng 10, Bộ Ngoại thương và Hợp tác quốc tế Trung Quốc cho xuất bản cuốn Các Quy định chi tiết về thực hiện Luật công trình dùng vốn nước ngoài. Tất cả các biện pháp này đã cho thế giới thấy lập trường của Trung Quốc rất kiên đ ịnh trong thực hiện các chính sách mở cửa kinh tế và b ảo vệ quyền lợi pháp lý cũng như lợi ích của các nhà ĐTNN, đặc biệt đối với người Hoa và Hoa Kiều. Do vậy, dù các nước phương Tây đã thực hiện các biện pháp trừng phạt Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn, ĐTNN và các hoạt động kinh doanh của Hoa kiều ở Trung Quốc vẫn gia tăng trong năm 1990, với 7.237 dự án đầu tư mới phê chuẩn, tăng 29% so với năm 1989. Trong năm 1991, lượng FDI lại tăng hơn nữa, với 12.000 dự án đầu tư mới phê chuẩn, tăng 65% so với năm 1990, các mức đầu tư cam kết và thực tế tương ứng đạt 12 tỷ USD (tăng 82%) và 4,37% tỷ USD (tăng 25%).

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản