
Văn chương và hội hoạ Việt Nam
(Tranh Thiếu nữ - Dương Bích Liên)

PGS.TS Phạm Vĩnh Cư
Quan hệ qua lại giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác ở Việt Nam là một
đề tài nghiên cứu khoa học lớn và liên ngành, đòi hỏi tập trung nhiều lực lượng
tinh nhuệ, nhiều học giả hiểu biết sâu rộng văn hoá - nghệ thuật nước ta và thế
giới. Trong bài viết ngắn này chúng tôi chỉ sơ bộ đề cập đến tương quan so sánh
giữa văn chương và hội họa Việt Nam dưới hai góc độ: vị trí của hai loại hình
nghệ thuật này trong đời sống xã hội ở những thời đại khác nhau và những cống
hiến của chúng cho kho tàng văn hoá nước nhà.
Ngoảnh nhìn lại nền văn nghệ cổ truyền của nước ta, người Việt Nam ngày nay,
đã quen với quan niệm về sự bình đẳng giữa các loại hình nghệ thuật, không thể
không ngạc nhiên về vị trí rất đỗi chênh lệch giữa một bên là văn chương và một
bên là các ngành nghệ thuật khác. Từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, xã hội Việt
Nam xưa kia chỉ coi trọng văn chương và xem nhẹ mọi nghệ thuật khác. Biết làm
thơ, viết văn hầu như là điều kiện nhất thiết phải có ở những người thuộc giới «sĩ
phu » - tầng lớp được trọng vọng nhất trong xã hội. Từ « văn nhân » vừa có nghĩa
là một trí thức nhân văn, vừa có nghĩa người cầm bút. Những sáng tác thơ văn hay
của họ được công luận tán tụng và phẩm bình rộng rãi, tên tuổi các tác giả được
lưu truyền cho hậu thế để học tập, noi gương. Còn những nghệ nhân hoạt động
trong các khu vực nghệ thuật khác thì dù có tài đến đâu (thí dụ như kiến trúc sư
Vũ Như Tô trong thế kỷ XVI) vẫn cứ bị xem là thợ. Họ thường không đề tên dưới
những tác phẩm của mình và vì thế không được người đời sau biết đến. Nếu chúng
ta còn nhớ cái tên Vũ Như Tô và nhà văn Việt Nam thời đại mới Nguyễn Huy
Tưởng đã có thể viết một bi kịch xuất sắc về ông thì đơn thuần chỉ vì ông đã bị
giết cùng với vua Lê Tương Dực trong một cuộc bạo loạn của binh sĩ và dân
chúng thành Thăng Long phẫn nộ về những phí tổn quá lớn cho việc xây công
trình Cửu trùng đài. Song những ai trong thế kỷ XVIII đã chạm khắc nên những

pho tượng Phật và La hán ở chùa Tây Phương giờ đây rất nổi tiếng và được du
khách trong ngoài nước ngợi khen, có lẽ mãi mãi chúng ta sẽ không được biết.
Giữa những loại hình nghệ thuật cổ truyền ở Việt Nam (chúng tôi chỉ nói đến nghệ
thuật của người Việt), hội họa rõ ràng chiếm vị trí khiêm tốn hơn cả, có thể nói,
hầu như vắng mặt. Những gì chúng ta còn giữ được đến nay là một số chân dung
lý tưởng hoá thuộc thể loại tranh thờ, một số hình họa trang trí cho những sắc
phong và một số cảnh sinh hoạt nông thôn - tất cả đều có giá trị nghệ thuật không
cao và đều thuộc những thế kỷ gần đây. Hội họa cổ Việt Nam (ngoại trừ tranh
Đông Hồ và tranh Hàng Trống mà không thể liệt vào hội họa theo nghĩa chính xác
của từ ấy) vắng mặt trong trang trí nội thất của người Việt, kể cả những gia đình
khá giả từ đời này đến đời kia chơi đồ cổ, trong đó có tranh cổ. Ngay trong cung
điện của các vua nhà Nguyễn ở Huế chúng ta ngày nay cũng chỉ thấy những tranh
vẽ trên gương với chất lượng rất trung bình. Vua chúa Việt Nam không khuyến
khích và bảo trợ cho hội họa (trường hợp Trần Nhân Tông (1) là một ngoại lệ rất
hiếm hoi). Vào thời buổi thịnh trị nhất của nhà nước phong kiến quân chủ Việt
Nam, Lê Thánh Tông lập hội Tao đàn nhị thập bát tú, cổ vũ sáng tác thơ văn trong
giới quan lại cung đình, chứ không lập Đồ họa Hàn lâm viện để khích lệ và bồi
dưỡng những tài năng trong hội họa. Hệ quả tất yếu là các văn nhân đất Việt
thường ưa thích và biết xướng họa thi ca, nhưng chẳng mấy người nắm vững nghệ
thuật hội họa (và cả thư pháp). Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du,
Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến... thuở còn hàn vi hay sau khi đã giũ áo từ
quan thường gửi gắm tâm tư của mình vào thơ hoặc tham gia ca hát với các kỹ nữ
chứ không cầm cũng chiếc bút lông ấy, dùng cũng mực Tàu ấy vẽ lên cũng những
tờ giấy ấy những tranh thủy mặc hay những bức thư pháp. Nước Việt Nam ta
không có những Tào Thực, Vương Duy, Tô Đông Pha, Ba Tiêu (Ba Sô) - những
nhà thơ lớn đồng thời là những danh họa và thư pháp gia.

(2 thiếu nữ đi chợ - Nguyễn Tiến Cung)

(Hai cô gái và em bé - Tô Ngọc Vân)
Trong một nền văn hoá mà chỉ một nghệ thuật văn chương giữ địa vị độc tôn, bản
thân nghệ thuật ấy khó phát triển được phong phú và muôn màu muôn sắc do thiếu
cọ sát, tương tác, đua tài thi sức với các nghệ thuật khác. Trong bối cảnh kém trù
phú chung như thế, không thể hình thành một nền phê bình văn nghệ, chứ chưa
nói đến lý luận và triết học nghệ thuật. Điều này sẽ gây ra nhiều trở ngại khó khắc

