T
ại sao vi khuẩn “biết” kháng
thuốc?
LTS: Sau s việc vi khuẩn E.Coli gây dịch bùng phát làm nhi
ều
người mắc và một số người tử vong tại các quốc gia châu Âu -
nơi có
nền y học phát triển đã đặt ra một câu hỏi tại sao vi khuẩn
ởng
chừng dễ bị tiêu diệt bởi kháng sinh này lại có thể kng thuốc?
Kháng thuốc là do “gen”
Kháng sinh thuốc tấn công vào thvi khuẩn nhằm mục đích ti
êu
diệt. như một vũ khí ngăn chặn sự sống của loài vi sinh vật n
ày.
Nhưng ngày nay, càng nhiều loại vi khuẩn kháng thuốc v
à ngày càng
nhiều thuốc bị kháng. T
ại sao vi khuẩn lại khả năng nhận ra thuốc
kháng sinh và kháng li?
Thuốc kháng sinh là mt thuốc duy nhất có công hiệu có thể tiêu di
vi khuẩn gây bệnh. Nó đã cứu được hàng triệu triệu người trên th
ế giới.
Tuy nhiên, vấn nạn kháng thuốc kháng sinh đang trở thành m
ột vấn đ
đau đầu, nhức nhi và thi sự, WHO phải lên ti
ếng cảnh báo rằng
“không hành động hôm nay, ngày mai không thuốc chữa”.
Kể từ khi xuất hiện một trường hợp kháng thuốc kháng sinh đầu ti
ên vào
năm 1947, nạn vi khuẩn kháng lại kháng sinh đã lan r
ộng. Sự lan rộng
của kháng thuốc kháng sinh không chỉ về mặt địa , mà còn c
về mặt
chủng loại vi khuẩn và loại thuốc bị kháng.
Mắt xích DNA bị
đột biến trong
kháng thuốc.
Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh đã lan tv
ùng này sang vùng khác,
khiến trở thành một vấn đề toàn c
ầu. Không chỉ c quốc gia kém
phát trin và vsinh nghèo nàn mới có hiện tư
ợng kháng thuốc kháng
sinh mà ngay ccác nước phát triển như Anh, Pháp, Đ
ức... cũng sự
kháng lại kháng thuốc kháng sinh.
Ngày càng có nhi
ều chủng loại vi khuẩn kháng thuốc. Ban đầu chỉ
một loại vi khuẩn kháng thuốc là vi khuẩn tụ cầu v
àng Staphylococcus
aureus. Nhưng ngày nay đã nhiều loài vi khuẩn đặc tính này như
tr
ực khuẩn mủ xanh Pseudomonas aeruginosa, vi khuẩn kỵ k gram
dương như Clostridium spp, vi khuẩn vi
êm ng o Neisseria
meningitidis, phế cầu khuẩn...
Skháng lại thuốc kháng sinh của vi khuẩn về bản là do gen. Tức l
à
vi khuẩn “tự nhiên” có những gen kháng thuốc trong tế bào. Nh
ờ có gen
kháng thuốc mà vi khu
ẩn đủ năng lực chống lại tác dụng của thuốc
kháng sinh. Và nhờ đó mà chúng có thể tồn tại và ti
ếp tục gây bệnh. Vấn
đề là ở chỗ, làm thế nào mà vi khuẩn có được gen kháng thuốc này?
Cách “to” ra gen kng thuốc
Như trên đã nói, skháng thuốc có thể nói rằng về b
ản do xuất hiện
các gen kháng thuốc. Nhưng không phải “tự nhiên” vi khu
ẩn
được mẩu gen nguy hại này. Việc được gen kháng thuốc là do m
ột
trong nhiều cách thức sau đây:
Thnhất do đột biến, tức là chính thuốc kháng sinh đã làm đ
t biến
hvật chất di truyền của vi khuẩn làm cho hvật chất này b
biến đổi.
Cthể đây là DNA ca vi khuẩn bị biến đổi. Sự biến đổi n
ày theo
hướng kháng lại thuốc kháng sinh và gen bị biến đổi này được gọi l
à gen
kháng thuốc.
Không phải là ddàng mà vi khuẩn có được sự đột biến này. S
ự đột biến
chxảy ra khi thuốc được dùng với liều lượng không quy chuẩn v
à vi
khu
ẩn thể sống sót sau đợt điều trị. Những “con” vi khuẩn sống sót
này snhận biết, cảm hoá và bi
ến đổi DNA để chống lại tác dụng của
thuốc kháng sinh. Và thế là gen kháng thuốc được tạo thành. Vb
ản,
đây là cách thức chủ yếu nhất tạo ra kháng thuốc. Tuy nhiên, s
đột biến
tthân của vi khuẩn chưa phải là cách chđạo gây ra s
kháng thuốc
lan nhanh.
Thhai là do slai tạo của dòng vi khuẩn đng vật với vi khuẩn tr
ên
người. Tức là vi khuẩn gây bệnh trên người được gen kháng thuốc l
à
do tiếp nhận được những gen kháng thuốc từ hvi khuẩn trên đ
ng vật.
Quá trình này diễn ra như sau: Ban đầu, vi khuẩn trên đ
ộng vật kháng
thuốc. Sau đó, vì một do nào đó, những vi khuẩn này tm nhập đư
ợc
vào thể người. Những vi khuẩn b đột biến này s
truyền tải gen
kháng thuốc theo chế chuyển gen cho vi khuẩn trên ngư
ời. Vật mang
gen kháng thuốc từ vi khuẩn động vật sang vi khuẩn người là m
ột “bán
sinh thsống” có tên gọi là plasmid. Kết qulà vi khuẩn trên n
ời có
khả năng kháng thuốc.
Thba là schuyển đổi gen kháng thuốc giữa những vi khuẩn tr
ên
lãnh thquốc gia này sang lãnh th
quốc gia khác thông qua những chủ
thể người đi du lịch. Ban đầu, nhng ngư
ời đi du lịch có nhng vi khuẩn
kháng thu
ốc. Họ đi sang một quốc gia khác, mang theo luôn cả loại vi
khuẩn này. Những vi khuẩn này s
ẽ truyền gen kháng thuốc cho những vi
khuẩn lành quốc gia bị tạp nhiễm. Kết quả cuối cùng t
ạo ra một
dòng vi khuẩn kháng thuốc chính quốc gia thứ hai này t
đó thể
làm nạn kháng thuốc lan ra toàn cầu.
Các gen kháng thuốc chống lại thuốc như nào?
Xét dưới góc độ tế bào, ht nhân giúp vi khuẩn kháng thuốc ấy chính l
à
các gen kháng thu
c trong bộ vật chất di truyền DNA. Những gen kháng
thuốc sẽ giúp vi khuẩn chống lại thuốc theo một trong 4 phương th
ức:
tránh sxâm nhập kháng sinh vào tế bào, t
ổng hợp các enzym bất hoạt
hoặc phân hu kháng sinh, thay đổi con đường chuyển hbơm th
ải
kháng sinh ra khỏi tế bào.
Một trong các phương thức ch yếu đó là vi khu
ẩn tổng hợp ra các
enzym bất hoạt hoặc phân huỷ kháng sinh. Khi mà các enzym đư
ợc tổng
hợp ra thì chúng s phân huỷ hoặc biến đổi thuốc kháng sinh th
ành
nhng “mảnh” không có tác dụng. Ví dụ điển hình là enzym ß-
lactamase
trong tcầu vàng tác dụng phân huỷ kháng sinh dòng ß-
lactamam
như penicillin, piperacillin, cefotaxime; enzym chuyển acetyl làm bi
ến
đổi thuốc kháng sinh chloramphenicol.
Cơ chế thứ hai khá thông dụng đó là gen kháng thu
c giúp vi khuẩn thay
đổi chuyển hoá theo hướng không sử dụng kháng sinh trong sinh trư
ờng.
hay không kháng sinh thì vi khuẩn cũng không bị tiêu di
ệt.
Đây hiện tượng hay gặp khi vi khuẩn chng lại các kháng sinh d
òng
sulphonamide, quinolon, macrolid.
Không chthế, các vi khuẩn còn kh
năng thải trừ kháng sinh ra
khỏi tế bào. S
kháng thuốc kháng sinh của trực khuẩn mủ xanh
Pseudomonas aeruginosa một dđiển hình của hình th
ức kháng lại
kháng sinh theo cơ chế này.
Nghiên cứu về tốc đkháng thuốc người ta thấy, tỷ lệ kng thuốc v
ào
c10-9 vi khuẩn trong cộng đồng vi sinh vật. Tỷ lệ n
ày tương đương
với các tỷ l đột biến di truyền tự nhiên. Nhưng sự kháng thuốc th
ì
không nhnhư thế nhanh n rất rất nhiều lần. Đó là nh
sự hot
động của các gen kháng thuốc theo các cơ chế như trên