X Quang trong bệnh thận tiết niệu
(K 5)
6.3. Đánh giá kết quả:
+ Bình thường:
Giây th1-3: thấy động mạch thận và các nhánh (thì động mạch).
Giây th4-6: thấy hình thận (thì thận).
Giây th12: thấy tĩnh mạch thận (thì tĩnh mạch).
Giây th60: thấy hình đài-bthận (thì bài tiết).
+ Bệnh lý:
- Tăng sinh mạch ở vị trí có khối u ác tính của thận.
- Giảm sinh mạch máu ở những vùng có khối u nang.
- Phình động mạch thận, hẹp động mạch thận bệnh nhân tăng huyết áp,
thể thấy nhánh phụ của động mạch thận.
7. Chụp bạch mạch.
7.1. Chỉ định và tiến hành:
7.1.1. Chđịnh: chẩn đoán các trường hợp rò bạch mạch.
7.1.2. Tiến hành: tìm bạch mạch vùng mu chân bằng cách tiêm xanh Evans
dưới da sẽ ngấm chọn lọc vào bạch mạch.
Bộc lộ bạch mạch: dùng kim nh luồn vào bạch mạch, m thuốc cản
quang dầu loại lipiodol cực lỏng (lipiodol ultra fluide) bằng bơm áp lực.
Chụp phim thận sau m 30’ đến 1h.
7.2. Đánh giá kết quả: sau khi tiêm, thuốc cản quang ngấm vào hthống
bạch mạch quanh thận. Trường hợp bệnh lý thể thấy dãn các đường bạch mạch,
hoặc thấy ngấm thuốc vào đài bể thận là dưỡng chấp vào thận (đái dưỡng
chấp).
8. Chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán hình thái (CT scanner).
8.1. Nguyên lý:
Năm 1971, CT scanner được ứng dụng lần đầu tiên đchụp sọ não. Tđó
tới nay, CT scanner phát triển không ngừng và phm vi ứng dụng của kỹ thuật này
được mrộng vào nhiều chuyên khoa, trong đó chẩn đoán hình thái thận-tiết
niệu. Nguyên của chụp cắt lớp vi tính dựa vào skhác nhau về đậm độ của các
chất cấu tạo nên tchức-quan được chụp hiện ra trên màn hình tại c lớp cắt
khác nhau qua xử lý bằng máy vi tính.
Trong thể, các mô, cơ quan khác nhau được cấu tạo nên bởi các chất
trọng lượng phân tử khác nhau và đậm đ khác nhau. Các tổ chức trọng
lượng phân tử lớn, đậm độ cao sẽ cản nhiều tia X; Khi đó, hình chụp cắt lớp vi
tính được thể hiện bằng hình ng trên phim, dnhư hình xương. Các tổ chức
trọng lượng phân tử nhỏ, đậm độ thấp sẽ ít cản tia X; Khi đó, chụp CT scanner
sẽ cho hình tối (hay hình đen) trên phim , như: hình của dịch, nước, hơi.
Các kết quả thu được qua đọc các phim chụp cắt lớp vi tính giúp ta thể
chẩn đoán xác định hoặc chẩn đoán phân biệt các hình hơi, hình dịch, hình máu
mới chảy, hình máu đông, dịch thấm, dịch tiết, áp xe, các khối u… tất cả các cơ
quan, trong đó có thận-tiết niệu.
8.2. Chỉ định và kỹ thuật:
8.2.1. Chđịnh: Chụp cắt lớp vi tính để chẩn đoán bệnh thận không phải là
kthuật rộng rãi chđược dùng trong một số trường hợp: nghi ngu tuyến
thượng thận, u sau phúc mạc, u thận, kén thận, lao thận, chấn thương thận.
8.2.2. Kỹ thuật:
Trong kthuật chụp cắt lớp vi tính, các lớp cắt độ dày 10mm, bt đầu
từ đốt sống D11 đến đốt sống thắt lưng L5. Trong một số trường hp cần phải làm
nhu thận đường tiết niệu thì thtiêm thuốc cản quang đường tĩnh
mạch trước khi tiến hành làm kỹ thuật chụp vi tính cắt lớp.
8.3. Hình ảnh bệnh lý:
- U nhục thận: trên phim chụp cắt lớp vi tính thấy khối tăng tỷ trọng,
làm to một cực của thận, chèn ép đài-b thận vùng tương ứng.
- U chèn đẩy niệu quản và gây giãn đài-bthận phía trên.
- U tuyến thượng thận: thấy khối u tăng tỷ trọng dạng n vùng cực trên
thận, thể một bên hoặc hai bên. Sau tiêm thuốc cản quang khối u không ngm
thuốc cản quang.
- Kén thận: chỉ thấy một kén đơn độc kích thước tùy thuộc vào độ lớn
của kén.
- Thận đa kén: là những ổ giảm tỷ trọng hình tròn, bờ rõ, kích thước khoảng
vài centimet, không đều, thường kèm theo kén trong gan.
- Chấn thương thận: chụp cắt lớp vi tính cho thấy hình dạng, vị trí các
đường dập vỡ.