
HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
154
HỖ TRỢ SINH SẢN
XU HƯỚNG GOM NOÃN HIỆN NAY: LỢI ÍCH, HẠN CHẾ
VÀ CHIẾN LƯỢC TỐI ƯU TỶ LỆ TRẺ SINH SỐNG
Nguyễn Thị Liên Hương1
TÓM TẮT20
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của chiến lược
gom noãn trong hỗ trợ sinh sản (HTSS) trên các
nhóm đối tượng khác nhau, đặc biệt là bệnh nhân
đáp ứng buồng trứng kém.
Phương pháp: Tổng quan các nghiên cứu từ
2012–2025 về gom noãn, phân tích kết quả lâm
sàng (thụ tinh, trẻ sinh sống…) và so sánh chi phí
theo từng chiến lược.
Kết quả: Gom noãn giúp tăng số lượng
noãn/phôi, cải thiện tỷ lệ có phôi chuyển và trẻ
sinh sống tích lũy ở nhóm đáp ứng kém. Tuy
nhiên, hiệu quả phụ thuộc nhiều vào độ tuổi, số
noãn gom và phác đồ kích thích. Các nghiên cứu
lớn còn hạn chế, chủ yếu là hồi cứu, với cỡ mẫu
nhỏ và thiết kế không đồng nhất.
Kết luận: Gom noãn là chiến lược tiềm năng
trong HTSS, đặc biệt cho nhóm bệnh nhân khó.
Cần thêm các nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên để
chuẩn hóa chỉ định lâm sàng và đánh giá hiệu
quả thực tế.
1Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Đa khoa
Tâm Anh
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Liên Hương
SĐT: 0904347616
Email: huongntl@tamanhhospital.vn
Ngày nhận bài: 15/7/2025
Ngày phản biện khoa học: 28/7/2025
Ngày duyệt bài: 30/7/2025
Từ khóa: gom noãn; đông noãn thủy tinh
hóa; hỗ trợ sinh sản; đáp ứng buồng trứng kém.
SUMMARY
CURRENT APPROACHES TO
OOCYTE ACCUMULATION:
BENEFITS, LIMITATIONS, AND
STRATEGIES TO OPTIMIZE LIVE
BIRTH RATES
Objective: To evaluate the effectiveness of
oocyte accumulation strategies in assisted
reproductive technology (ART), especially
among poor ovarian responders.
Methods: A narrative review of studies from
2012 to 2025, comparing clinical outcomes
(fertilization, live birth rates…) and treatment
costs among oocyte accumulation, and standard
transfer per stimulation cycle.
Results: Oocyte accumulation improves the
likelihood of having transferrable embryos and
enhances cumulative live birth rates in poor
responders. However, its success is highly
dependent on patient age, number of retrieved
oocytes, and stimulation protocols. Most current
evidence is based on retrospective studies with
small sample sizes and heterogeneous designs.
Conclusion: Oocyte accumulation is a
promising strategy, particularly for patients with
low ovarian reserve. Further randomized
prospective studies are required to establish
clinical guidelines and cost-effectiveness.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
155
Keywords: oocyte accumulation;
vitrification; assisted reproductive
technology; poor ovarian response.
I. GIỚI THIỆU
Gom noãn là một chiến lược được sử
dụng trong các chu kỳ kích thích buồng
trứng lặp lại nhằm tích lũy noãn trưởng thành
trước khi thực hiện thụ tinh trong ống
nghiệm (TTON). Mục tiêu là tăng số lượng
noãn/phôi đạt được, từ đó cải thiện tỷ lệ phôi
đạt chuẩn, tối ưu hóa tỷ lệ trẻ sinh sống và
giảm chi phí trên mỗi ca sinh sống. Gom
noãn đặc biệt hữu ích cho các bệnh nhân đáp
ứng buồng trứng kém, hoặc có chỉ định PGT-
A, cũng như trong bảo tồn sinh sản ở bệnh
nhân ung thư hoặc trì hoãn mang thai vì lý
do xã hội.
II. LỢI ÍCH CỦA GOM NOÃN
- Tăng tỷ lệ chuyển phôi thành công,
giảm nguy cơ hủy chu kỳ do không có phôi.
- Cho phép sàng lọc di truyền trước
chuyển phôi với số lượng phôi đủ.
- Hỗ trợ bệnh nhân bảo tồn sinh sản (ung
thư, endometriosis, trì hoãn mang thai).
- Có thể cải thiện tỷ lệ trẻ sinh sống tích
lũy trong nhóm đáp ứng kém.
III. HẠN CHẾ VÀ THÁCH THỨC
- Chi phí tăng do phải kích thích và chọc
hút nhiều lần.
- Nguy cơ tổn thương noãn do nhiều lần
đông rã.
- Áp lực tâm lý cho bệnh nhân nếu không
đạt số noãn mục tiêu.
- Tỷ lệ sảy thai có thể tăng ở nhóm gom
nhiều noãn nhưng tuổi cao.
IV. CẬP NHẬT NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG
(2012–2025)
Hướng dẫn thực hành ASRM–SART ước
tính rằng tỷ lệ sống sót của noãn đông thủy
tinh hóa là 90%–97%, tỷ lệ thụ tinh là 71%–
79% và tỷ lệ làm tổ là 17%–41%. Tỷ lệ thai
lâm sàng trên mỗi noãn rã đông là 4,5%–
12%. Đây là số liệu thu được từ noãn phụ nữ
dưới 30 tuổi. Tỷ lệ thai lâm sàng giảm khi
tuổi mẹ cao hơn tại thời điểm đông lạnh.
Khi so sánh các chu kỳ sử dụng noãn
phôi đông của người hiến, cũng theo số liệu
của SART (Society for Assisted
Reproductive Technology)- Hiệp hội HTSS
Hoa Kỳ, tỷ lệ trẻ sinh sống của nhóm chuyển
phôi đông lạnh từ noãn và phôi người cho rã
đông không khác biệt, tỷ lệ số ca có phôi
chuyển của noãn rã xin thấp hơn khoảng
10% so với phôi rã xin do có những ca không
có phôi chuyển nuôi từ noãn rã:
Bảng 1. So sánh các chu kỳ sử dụng noãn phôi đông của người hiến SART
2018
2019
2020
1
2
1
2
1
2
Số ca rã
3362
2057
2841
2078
2541
2167
LBR đơn thai trên 1 lần rã
34,9%
35,6%
37,3%
38,8%
38,3%
36,3%
Số ca chuyển phôi
2974
2037
2456
2054
2191
2143
Tỷ lệ ca rã có phôi chuyển
88,5%
99%
86,5%
98,8%
86,2%
98,9%
Số phôi chuyển trung bình
1,3
1,4
1,2
1,3
1,2
1,2
Tỷ lệ chuyển đơn phôi
68,2%
56,8%
77.3%
66,5%
79,9%
71,6%

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
156
2018
2019
2020
1
2
1
2
1
2
Tỷ lệ làm tổ
44,2%
40,9%
48,4%
43,2%
49,3%
43,3%
LBR
39,1%
41,8%
40,5
43,6%
41,1%
40,6%
Nhóm 1: Noãn rã xin (frozen donor egg);
Nhóm 2: Phôi rã xin (Frozen donor embryo).
Nghiên cứu tiến cứu của Jones và cs.
2013 [1] trên noãn hiến (17 phụ nữ tuổi trung
bình 25,7 với số chu kỳ kích thích nang noãn
> 1 lần). Mỗi người hiến chia noãn thành 2
phần noãn tươi và noãn đông. Người nhận
noãn tươi (n=25) được sử dụng 12 noãn
trưởng thành. Sau đó noãn dư được đông
thủy tinh hóa (35 người nhận). Kết quả cho
thấy tỷ lệ thụ tinh, tạo phôi nang, tỷ lệ có
thai, sinh sống của noãn tươi và noãn đông
không có sự khác biệt:
Nghiên cứu tiến cứu của Herrero và cs.
2014 bao gồm 96 bệnh nhân có nguy cơ quá
kích buồng trứng được chia làm 2 nhóm:
Nhóm 1 đông noãn (n=50) và nhóm 2 đông
phôi (n=46) thủy tinh hóa. Đặc điểm 2 nhóm
hầu hết tương đồng, trừ tỷ lệ thụ tinh và phôi
hữu dụng cao hơn có ý nghĩa thống kê ở
nhóm đông phôi. Kết quả cho thấy một số tỷ
lệ không khác biệt: làm tổ: 30,6% so với
33,1%; thai lâm sàng: 41,9% so với 47,1%.
thai lâm sàng cộng dồn sau ba lần chuyển
phôi: 62,0% so với 69,6%; thai diễn tiến
56,0% và 54,3%. Ngoài ra, tỷ lệ sinh sống
trên mỗi lần kích thích là tương tự nhau:
72,0% và 69,6%. Tuy nhiên, tỷ lệ sảy thai
cao hơn ở nhóm 2 là 9,7% so với nhóm 1 là
21,9% có ý nghĩa thống kê [2].
Nghiên cứu của Goldman và cộng sự
năm 2017 cho thấy: Trữ ≥20 noãn nếu <37
tuổi giúp đạt LBR >70%; cần ≥40 noãn nếu
>40 tuổi [8].
Nghiên cứu của Hirsch A. et al., (2024)
trên 23 nghiên cứu – 6.900 chu kỳ trữ noãn
chủ động kết luận trữ noãn chủ động nên
thực hiện sớm, trước 36 tuổi để tăng hiệu quả
sinh sống. Trữ ≥15 trứng MII ở <35 tuổi →
CLBR ~70%; >38 tuổi cần ≥30 trứng MII để
đạt CLBR ~50% [14].
Với các trường hợp PCOS và bình
thường, cần gom trứng, theo Guidline
ESHRE 2024, PPOS là lựa chọn tối ưu thuận
tiện hơn cho các chu kỳ gom noãn tích lũy so
với phác đồ antagonist [17].
Theo RBMO 2025, với các trường hợp
gom noãn trước phẫu thuật lạc nội mạc tử
cung, nên gom ≥10 noãn trước mổ, tránh suy
giảm sau mổ và tăng tỷ lệ thành công IVF
sau mổ [19].
Nghiên cứu của Cobo và cs. 2017 trên
631 chu kỳ gồm 3794 phôi từ noãn đông và
1359 chu kỳ gồm 9935 phôi từ noãn tươi cho
thấy về động học các phôi từ noãn rã có lần
phân bào đầu tiên trễ 1h so với noãn tươi,
chất lượng phôi tương đương giữa 2 nhóm,
tỷ lệ làm tổ cũng không khác biệt (47,1% so
với 51,3%) [3].
Với các trường hợp hiến noãn hoặc đáp
ứng buồng trứng tốt, có thể thấy kết quả các
nghiên cứu khá thống nhất cho thấy kết quả
có thai không khác biệt khi sử dụng noãn
đông so với noãn tươi hoặc phôi đông. Trên
các bệnh nhân đáp ứng kém, kết quả gom
noãn còn chưa thống nhất. Mặc dù qui trình
đông rã thủy tinh hóa noãn đã được chuẩn
hóa nhưng sốc thẩm thấu gây tổn thương
lạnh, thoái hóa noãn vẫn có thể xảy ra. Sự
gia tăng không bào, phân mảnh DNA, rối
loạn nhiễm sắc thể, biểu hiện gen bất thường
và tổn thương ty thể, mạng lưới nội chất và
lysosome cũng đã được tìm thấy trong noãn

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
157
rã đông [9]. Thoi vô sắc là yếu tố quyết định
khả năng phân chia của noãn, sự phân chia
nhiễm sắc thể và phát triển của phôi cũng
cực kỳ nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ
lạnh dễ tổn thương không phục hồi. Noãn rã
thu được từ phụ nữ lớn tuổi thường dễ bị ảnh
hưởng của qui trình đông rã hơn [4], [5]. Do
vậy, đối với các trường hợp đáp ứng kém,
liệu gom noãn có phải là biện pháp hiệu quả
tiết kiệm chi phí so với gom phôi hay chuyển
phôi từng chu kỳ?
Nghiên cứu của Cobo và cs. 2012 bao
gồm 242 bệnh nhân đáp ứng kém (AFC < 5):
nhóm 1 gồm 594 chu kỳ gom noãn đông thủy
tinh hóa và nhóm 2 gồm 588 chu kỳ (482
bệnh nhân) sử dụng noãn tươi và chuyển
phôi mỗi chu kỳ. Tỷ lệ không điều trị tiếp
trong nhóm 2 >75%. Tỷ lệ không có chuyển
phôi trên mỗi bệnh nhân thấp hơn đáng kể ở
nhóm 1 (9,1%) so với nhóm 2 (34,0%). Tỷ lệ
trẻ sinh sống (LBR)/bệnh nhân ở nhóm 1
(30,2%) cao hơn so với nhóm 2 (22,4%).
LBR cộng dồn / bệnh nhân cao hơn có ý
nghĩa thống kê ở nhóm 1 (36,4%) so với
nhóm 2 (23,7%) và kết quả tương tự cũng
được quan sát thấy ở những bệnh nhân ở độ
tuổi > 40 (15,8% so với 7,1%). Nhóm 1 có
nhiều chu kỳ trữ lạnh phôi hơn (28,9% so với
8,7%). Gom noãn thủy tinh hóa mang lại tỷ
lệ thành công tương đương với tỷ lệ thành
công ở người bình thường và tránh các tác
dụng phụ của bệnh nhân đáp ứng kém [6].
Nghiên cứu hồi cứu của Prados và cộng
sự 2013 [7] trên 3384 chu kỳ gồm noãn tươi
(n=2531) và gom noãn đông (n=853) ở phụ
nữ từ 40 tuổi trở lên. Thời gian nghiên cứu từ
tháng 1-2009 đến tháng 6-2012. Tác giả kết
luận các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng
đến thành công là tuổi của bệnh nhân và số
lượng noãn thu được; mỗi năm tăng hơn 40
tuổi làm giảm đáng kể (0,645, CI95% 0,583-
0,714, p<0,001) và mỗi noãn tăng đáng kể
(1,074, CI95% 1,052-1,097, p<0,001) tỷ lệ
có thai. Tỷ lệ có thai tăng dần tỷ lệ thuận với
số noãn khi số noãn tăng dần đến 6 noãn và
tăng yếu hơn sau giá trị này. Tỷ lệ có thai
tương tự đối với các chu kỳ dùng noãn tươi
và gom noãn (28,3% và 31,6%) ở đoàn hệ 6
noãn, bất kể số lần kích thích nang noãn cần
thiết để đạt được số lượng này; Tỷ lệ không
chuyển phôi thấp hơn trong các chu kỳ gom
noãn so với chu kỳ không gom noãn và
chuyển phôi luôn (16% và 61%).
Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên các phụ
nữ đáp ứng kém (> 35 tuổi, có tiền sử đáp
ứng kém < 3 noãn/1 CK KTBT, dự trữ buồng
trứng kém) của Bekzatova và cs. 2021, gồm
nhóm 1: 324 chu kỳ noãn tươi với tuổi mẹ
trung bình= 36,3, nhóm 2: 46 chu kỳ rã noãn
từ các ca gom noãn với số lần KTBT trung
bình = 2,3, tuổi mẹ trung bình=37,6. Môi
trường đông noãn là Cryotech® (Nhật Bản),
rã đông bằng Kitazato® (Nhật Bản). Tỷ lệ
thai lâm sàng/ mỗi chu kỳ và mỗi lần chuyển
nhóm 1 so với nhóm 2 là 15,4% so với
15,2% và 28,08% so với 20% ( p<0,05). Tỷ
lệ chọc hút noãn thành công ở cả 2 nhóm là
71,7%. Tỷ lệ hủy chuyển phôi nhóm 1 so với
nhóm 2 là 38,2% so với 8,69%. Số lần
chuyển phôi để có thai lâm sàng trung bình
của nhóm 1 là 1,86 [9].
Nghiên cứu hồi cứu của Shin và cs. 2022
[10] trên 588 phụ nữ đáp ứng kém dưới 43
tuổi chia nhóm 1: gom noãn + chuyển phôi
đông lạnh n=47, nhóm 2: gom noãn+ chuyển
phôi đông và tươi kết hợp n=24, nhóm 3:
chuyển phôi tươi n=517 (chuyển phôi ngày 3).

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
158
Đặc điểm bệnh nhân tương đồng giữa các
nhóm. Số phôi chuyển trung bình của nhóm
gom noãn cao hơn hẳn nhóm noãn tươi chỉ
sử dụng noãn của 1 chu kỳ kích trứng nên
đương nhiên tỷ lệ có thai cao hơn đáng kể.
Tuy nhiên, tỷ lệ phôi tốt ở nhóm noãn gom
thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm
noãn tươi.
Bảng 2. So sánh kết quả giữa các chiến lược chuyển phôi tươi, gom noãn và kết hợp
Chỉ số
Chuyển
phôi tươi
(n=517)
Gom noãn
(ACC-ET)
(n=71)
Giá
trị p
ACC-ET
Đông
(n = 47)
p vs
tươi
Tươi+Đông
(n = 24)
p vs
tươi
Số noãn chọc hút/ET
2.1 ± 0.8
4.9 ± 2.6
0.00
5.5 ± 2.8
0.00
3.5 ± 1.1
0.00
Số noãn chọc hút/lần
2.1 ± 0.8
1.6 ± 0.9
0.00
1.8 ± 1.0
0.025
1.25 ± 0.6
0.00
Số lần chọc hút (OPU)
-
3.3 (29/71)
-
3.4 (160/47)
0.00
3.29 (79/24)
0.009
Tỷ lệ trưởng thành (%)
61.1 ± 36.5
57.6 ± 28.9
0.35
54.2 ± 27.9
0.59
46.1 ± 27.8
0.017
Tỷ lệ thụ tinh (%)
87.6 ± 28.3
78.4 ± 22.6
0.00
84.6 ± 24.2
0.00
88.2 ± 15.3
0.90
Số phôi chuyển
1.5 ± 0.7
3.1 ± 0.9
0.00
2.8 ± 0.7
0.00
2.8 ± 0.7
0.00
Tỷ lệ phôi tốt (%)
65.4 ± 41.0
48.2 ± 30.5
0.00
50.4 ± 30.0
0.00
56.5 ± 29.9
0.17
Tỷ lệ hủy chuyển (%)
-
18.8(45/239)
-
27 (160)
-
22.7 (18/79)
-
Tỷ lệ sống sau rã noãn
-
-
-
97.1(169/174)
-
100 (41/41)
-
Tỷ lệ có thai (%)
18.8(97/517)
29.6 (21/71)
0.04
29.8 (14/47)
0.119
29.2 (7/24)
0.291
Tỷ lệ thai lâm sàng (%)
14.0(71/508)
23.5 (16/68)
0.078
22.7 (10/44)
0.189
25.0 (6/24)
0.647
Tỷ lệ trẻ sinh sống (%)
9.8 (50/508)
14.9 (10/67)
0.203
16.3 (7/43)
0.277
12.5 (3/24)
0.708
Nghiên cứu hồi cứu của Lee và cs. 2022
trên đối tượng phân loại Poseidon nhóm 3 và
4 (AMH <1,2 ng/ml hoặc AFC <5) gồm 211
ca gom noãn (tuổi mẹ: 39,29 ± 4,23, AMH:
0,54 ± 0,35 ng/ml) và 229 ca dùng noãn tươi
(tuổi mẹ: 38,07 ± 3,77, AMH: 0,72 ± 0,32
ng/ml). CPR tương tự ở 2 nhóm (27,5% so
với 31,0%, p = 0,418). Tỷ lệ sảy thai MR cao
hơn có ý nghĩa thống kê (41,4% so với
14,1%, p = 0,001) trong khi LBR trên mỗi
lần chuyển phôi thấp hơn có ý nghĩa thống
kê (15,2% so với 26,2%, p <0,001) trong
nhóm gom noãn. Không có sự khác biệt về
CLBR giữa các nhóm (20,4% so với 27,5%,
p = 0,081). Đây là nghiên cứu có cỡ mẫu khá
lớn, tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu này là
nghiên cứu hồi cứu và nhóm gom noãn có
tuổi trung bình cao hơn, AMH trung bình
thấp hơn, nhưng số noãn MII trung bình và
số phôi chuyển trung bình cao hơn có ý
nghĩa thống kê so với nhóm dùng noãn tươi.
Kết quả lâm sàng được phân loại thành bốn
nhóm liên quan đến tuổi của bệnh nhân trong
phân tích thứ cấp. CPR, LBR trên mỗi lần
chuyển phôi và CLBR không được cải thiện
trong nhóm gom noãn. Xét đến số lượng
noãn tích lũy liên quan đến tỷ lệ có thai, khi
số MII ≥15, CPR được cải thiện ở nhóm gom

