intTypePromotion=1
ADSENSE

Xử trí chấn thương răng ở trẻ em

Chia sẻ: Bibo Bibo | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:3

73
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chấn thương răng thường gặp ở trẻ em dưới 3 tuổi trẻ trai mắc nhiều hơn trẻ gái: khi trẻ đi, chạy nhảy, nô đùa có thể xảy ra va đập hoặc ngã làm răng bị chấn thương. Chấn thương răng tưởng như đơn giản nhưng có thể để lại những hậu quả như: gây sung huyết tủy răng, chảy máu tủy răng, vôi hóa tủy, thiểu sản men răng, thân răng bị gập, rối loạn mọc răng… nếu không được xử trí đúng cách. Những chấn thương răng thường gặp Xương ổ răng của trẻ em còn mềm, hệ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Xử trí chấn thương răng ở trẻ em

  1. Xử trí chấn thương răng ở trẻ em Chấn thương răng thường gặp ở trẻ em dưới 3 tuổi trẻ trai mắc nhiều hơn trẻ gái: khi trẻ đi, chạy nhảy, nô đùa có thể xảy ra va đập hoặc ngã làm răng bị chấn thương. Chấn thương răng tưởng như đơn giản nhưng có thể để lại những hậu quả như: gây sung huyết tủy răng, chảy máu tủy răng, vôi hóa tủy, thiểu sản men răng, thân răng bị gập, rối loạn mọc răng… nếu không được xử trí đúng cách. Những chấn thương răng thường gặp Xương ổ răng của trẻ em còn mềm, hệ thống dây chằng quanh răng lỏng lẻo hơn người lớn, do vậy khi chấn thương răng thì ít gãy hơn so với người lớn. Khi bị va đập hay ngã, những chấn thương thường gặp ở răng là răng lung lay, di lệch sang bên, lún vào bên trong xương ổ răng hoặc rời ra ngoài xương ổ răng, gãy thân răng, gãy chân răng hoặc cả thân và chân răng. Cách xử trí khi trẻ bị chấn thương răng Các loại chấn thương răng đều ít hoặc nhiều gây chảy máu tại chỗ, do đó việc đầu tiên cha mẹ phải cầm máu cho trẻ bằng 1 miếng gạc tẩm ôxy già ép sát vào vùng răng bị chấn thương hoặc cho trẻ tự cắn miếng gạc, vệ sinh vùng xung quanh chấn thương bằng nước sạch. Nếu là răng vĩnh viễn bị rơi ra khỏi xương ổ răng: Rửa nhẹ nhàng với nước lạnh, nước muối sinh lý cho sạch các chất bẩn (không được chà rửa răng). Nếu có thể nên đặt răng trở lại vị trí nguyên thủy trong hàm, bằng cách dùng
  2. lực của ngón tay đẩy nhẹ răng vào xương ổ răng, sau đó đặt miếng bông hay gạc đè lên thân răng mới cắm lại và bảo trẻ ngậm miệng lại từ từ để giữ răng ở tại vị trí đó. Nếu trẻ quá nhỏ không hợp tác, trẻ có thể bị sặc hoặc nuốt mất răng, không thể thực hiện điều này thì phải giữ răng luôn ẩm trong suốt thời gian trước khi cắm ghép, không được để răng bị khô… Chú ý bảo quản tốt chiếc răng bị gãy, bằng cách cầm răng bằng gạc tẩm nước muối sinh lý và nhanh chóng đến cơ sở y tế chuyên khoa răng để được cắm lại vào xương ổ răng. Lưu ý đem đến bác sĩ càng sớm càng tốt để tủy và mạch máu được tái lập dễ dàng. Không được ngâm răng trong thuốc sát trùng, thuốc tẩy, nước súc miệng hay nước bình thường. Đối với răng sữa không nên cắm lại vì sẽ ảnh hưởng đến sự mọc mầm răng vĩnh viễn sau này, nhưng cha mẹ phải mang theo răng để chắc chắn rằng chân răng không còn sót hay lún trong ổ răng. Vệ sinh răng miệng kỹ sau khi ăn: Cần cho trẻ súc miệng bằng chlorhexidine 2 lần/ ngày trong 1 tuần. Đối với các chấn thương răng khác thì sau khi cầm máu cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để được điều trị kịp thời. Tùy theo loại thuốc, cách dùng và cơ địa của người bệnh, thuốc CVKS có thể gây nên tác dụng không mong muốn từ nhẹ đến nặng ở các tạng như ở hệ tiêu hóa: buồn nôn, nôn, đi ngoài lỏng, viêm loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa; hệ tiết niệu: rối loạn chức năng cầu thận, viêm thận kẽ, tăng kali máu, suy thận cấp chức năng vì thuốc làm giảm lưu lượng máu đến thận; hệ tim mạch: tăng các biến cố nhồi máu cơ tim, tắc mạch máu, tăng huyết áp; hệ tạo máu:
  3. thời gian chảy máu kéo dài, máu chậm đông, xuất huyết ở các tạng; hệ miễn dịch – dị ứng: nổi mẩn, cơn hen vì tăng leucotrien. Nặng nhất là hội chứng Lyell bị nhiễm độc hoại tử da, tỉ lệ tử vong cao và hội chứng Stevens – Johnson bị loét các hốc tự nhiên như mắt, miệng. Theo tuổi: trẻ em và người cao tuổi dễ bị hơn người trưởng thành. Người có thai và cho con bú. Người có tiền sử bệnh dạ dày, bệnh thận, bệnh tim mạch. Dùng phối hợp thuốc chống viêm steroid (glucocorticoid) với thuốc CVKS. Dùng phối hợp thuốc CVKS với thuốc chống đông. D ùng thuốc liều cao và kéo dài.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2