Bệnh tăng nhãn áp - Nhìn qua con m
ắt
khác
Nhiều người bị áp lực rất cao trong mắt nhưng l
ại không bao giờ biến
thành bệnh tăng nhãn áp. đến một phần ba số người mắc bệnh n
ày
với áp lực (trong mắt) bình thường, thậm chí là thấp.
Bệnh tăng nhãn áp (glôcôm) không đơn thuần
là bệnh về mắt mà là chng rối loạn thần kinh thoái hoá
các nhà nghiên cứu đã cgắng giải quyết những mâu thuẫn đó n
ên
mới xuất hiện cách nhìn khác v bệnh tăng nhãn áp. Bệnh tăng nh
ãn áp
(glôcôm) không đơn thuần là bệnh về mắt ch
ng rối loạn thần
kinh thoái hoá, không khác bệnh Alzheimer hoặc bệnh Parkinson
theo quan điểm của các chuyên gia hiện nay.
“Cba bệnh này đều tác động đến số người già kéo theo nh
ững tổn
thất lựa chọn của các nhóm tế bào thần kinh”. Bác s
một giáo nhãn khoa giám đốc nhóm nghiên c
ứu glôcôm thuc
Đại học Tôrrôntô nói. “Bệnh Parkinson ảnh hư
ng đến thần kinh vận
động. Bệnh Alzheimer tác động đến nhận thức. Bệnh tăng nh
ãn áp làm
gián đoạn thị lực. Nng càng t ktta thấy chúng càng nhi
ều sự
tương đồng hơn”.
Thậm chí sự xác định chính thức về bệnh tăng nhãn áp, m
ột căn bệnh
gây ra hơn 8 triẹu ca mù mắt trên toàn thế giới, cũng đã thay đổi. Ng
ày
nay việc chẩn đn chỉ dựa trên hai đặc điểm: sự hại rõ rt đối v
ới
thần kinh thị giác, tức là thần kinh dẫn tvõng m
ạc đằng sau mắt tới
não, s tổn thất thị lực ngoại vi, triệu chứng này thđo đư
ợc bằng
một xét nghiệm đơn giản ở phòng bác sĩ nhãn khoa.
Bác sĩ Stuart Mekinnon, một phó giáo nhãn khoa sinh h
ọc thần
kinh thuộc Trư
ờng Đại học Y khoa Duke cho hay: “Trong sự xác định
(bệnh glôcôm) không thấy nói gì đ
ến áp lực trong mắt, điều đó cho thấy
lĩnh vực này đã thay đổi như thế nào”.
Các nhà nghiên c
u vẫn thừa nhận rằng áp lực cao trong mắt dẫn đến
nhân trủi ro chính bệnh ng nhãn áp. c c sĩ nhãn khoa v
ẫn
áp dụng một phương pháp xét nghiệm kiểm tra quen thuộc là b
ắn một
luống không kvào trước mắt để đo áp lực và kiểm tra bệnh. Nhưng v
ì
có tới 30% số bệnh nhân mắc bệnh này với áp lực trong mắt bình thư
ờng
hoặc là thấp nên vn còn có vic phải làm.
điều là bệnh tăng nhãn áp thường bắt đầu bằng tổn thương đ
ối với
thần kinh thị giác khí bong ra khỏ mặt sau của mắt. Rồi tổn th
ương
này lan ra tmột dây thần kinh tới các tế bào thần kinh li
ền kề. Bác
Gupta nói” Ở bệnh tăng nhãn áp chúng tôi đã chra rằng khi các tế b
ào
hạch võng mạc của bạn bị tổn thương thì các sợi trục thần kinh d
ài
hướng từ mắt tới não cũng b ảnh hưởng, dẫn tới những thay đổi m
à
chúng tôi có thể phát hiện ở trung tâm thị giác của não”. Hiện tượng n
ày,
được gọi là tn thương liên kh
p thần kinh, cũng xảy ra bệnh
Alzheimer và Parkinson.
Các chuyên gia vẫn đang giải mã những hin tượng gây ra thương t
ật
ban đầu đối với thần kinh thị giác. Cho dù áp lực trong mắt b
tăng cao
đã tăng độ nguy hiểm một cách rõ rt nhưng một số chuyên gia vẫn ch
ưa
dám tin rằng những dao động quá cao trong áp lực có thể còn nguy hi
ểm
hơn.
“Trong thần kinh thị giác một cấu gọi là phiến cribosa đư
c tạo ra
để hoạt động giống như một tấm đệm hứng, khi lên khi xu
ống, nhằm
phản ng với sự thay đổi bình thư
ờng của áp lực”. Bác Rohit Varna,
giám đốc khoa glôcôm thuộc trư
ng Y khoa Keck của Đại học Nam
California nói: “Nhưng nếu những dao đng đó trở n
ên thái quá thì
chúng có thể gây tổn thương cho thần kinh thị giác”.
Một thủ phạm nữa của bệnh này thlà áp l
ực truyền dịch hoặc sự
chênh lệch giữa áp lực trong mắt và áp huyết toàn b
ộ. Áp lực truyền dịch
thấp xảy ra khi áp lực trong mắt thì cao mà áp huyết toàn cơ th
ể lại thấp.
“Khi áp lực truyền dịch tụt xuống sẽ không đủ máu lưu thông đ
ối với
thần kinh thị giác và võng m
ạc”. Bác Varma nói. Sự thiếu máu thể
s làm tổn thương không chỉ thần kinh thị giác m
à còn không nuôi
dưỡng được các mô quanh nó.
Các chuyên gia cho rằng có một sngư
ời những dây thần kinh thị
giác ít nhiu rất dễ bị mắc stress.
Khnăng đó đã buộc người ta phải tìm ra nh
ững thứ thuốc nhằm bảo vệ
các y thần kinh nhạy cảm khỏi bị tổn thương. Một vài th
thuốc
triển vọng được chọn còn đang trong quá trình nghiên c
u, gồm cả thuốc
gọi là memantine (Namenda), một thứ thuốc đã đư
ợc xét duyệt đchữa
bệnh Alzheimer, và riluzole (Rilutek) dùng để điều trị bệnh Lou Gehrig.
Người ta đang hy vọng rằng những thuốc nào công hi
ệu với bệnh suy
nhược thần kinh, như các mẫu tiêu biểu đưa ra, thì c
ũng thể sẽ hu
dụng đối với các bệnh khác. Đối với các nhà nghiên c
ứu đang cố gắng
tìm hiểu những chi tiết sai lệch trong các chứng rối loạn như thế thì b
ệnh
tăng nhãn áp có thể đưa ra một mẫu dễ nghiên cứu hơn về não như b
ệnh
Alzheimer. Thần kinh thị giác là lo
ại thần kinh duy nhất có thể kiểm tra
bằng mắt thường, tc là nhìn qua đồng tử. Và hthị giác là một c
ấu
tương đối nhỏ gọn mà các nhà nghiên cứu đã hiểu nó rất tường tận.
Ngày nay trong những cách điều trị bệnh tăng nhãn áp thì kh nhất l
à
cách h áp lực trong mắt, hoặc là giảm lượng chất lỏng hoặc tăng s
tiết ra của nó. Thậm c những bệnh nhân áp lực trong mắt b
ình
thường và những dấu hiệu đầu tiên của bệnh thì háp lực đã tra l
à
thlàm chậm đáng kể quá trình suy như
ợc thần kinh. Hầu hết các thứ
thuốc chống tăng nhãn áp đang được dùng thuốc nhỏ mắt và thu
ốc
này cn phải nhỏ một lần hay vài ln mỗi ngày. N
ếu thuốc nhỏ không
xong thì liệu pháp lazer và phẫu thuật cần phải can thiệp để đưa lượ
ng
chất lỏng dư thừa ra khỏi mắt