Cây thuốc vị thuốc Đông y – XẠ ĐEN & THẠCH CAO
THẠCH CAO
Vị thuốc Thạch cao
THẠCH CAO (石膏)
Gypsum Fibrosum
Tên khác: Đại thạch cao, Băng thạch.
Tên khoa hc: Gypsum Fibrosum
Mô tả:
Thạch cao là 1 khối tập hợp của các sợi theo chiều dài, hình phiến hoặc các miếng
không đều, màu trắng, trắng xám hoặc vàng nhạt, đôi khi trong suốt. Thể nặng,
chất xốp, mặt cắt dọc có sợi óng ánh. Thạch cao màu trng, bóng, mảnh to, xốp,
mặt ngoài như sợi tơ, không lẫn tạp chất là tốt. Không mùi, vị nhạt.
Bộ phận dùng : Vị thuốc là chất khoáng có thành phần chủ yếu là Calci sunfat
ngậm 2 phân tử nước.
Phân bố: Những mỏ khoáng này có ở nhiều địa phương nước ta.
Chế biến: Lấy thạch cao, rửa sạch, phơi khô, đập ra thành miếng nhỏ, loại bỏ các
đá tạp, sau nghiền thành bột thô, gọi là sinh thạch cao.
Thành phần hoá học: Chủ yếu là CaSO4. 2H2O, có ln ít đất sét, cát, hợp chất
sunfua, đôi khi có lẫn ít sắt, magiê.
Tác dụng: Sinh thạch cao: Thanh nhiệt tả hoả, trừ phiền chỉ khát. Đoạn thạch cao:
Thu thấp, sinh cơ, liễm sang, chỉ huyết.
Công dụng:
- Sinh thạch cao: Thực nhiệt ở phần khí của phế vị (sốt cao, mồ hôi nhiều khát
nhiều, mạch hồng đại), nhiệt độc thịnh kinh mạch (sốt cao phát ban), giai đoạn
sau của bệnh ôn (còn sốt nhẹ, tâm phiền, miệng khô, hơi đỏ), viêm lợi.
- Đoạn thạch cao: Dùng ngoài điều trị vết loét không thu miệng, ngứa do thấp
chẩn, bỏng nước, bỏng lửa, ngoại thương chảy máu.
- Thạch cao khan nước (CaSO4. 1/2H2O) để làm bột bó, đắp khuôn bó bột.
Cách dùng, liu lượng: Ngày 12 - 40g (thuốc sắc), 2 - 4g (thuốc bột).
Bào chế : Đoạn thạch cao: Lấy sinh thạch cao sạch, đập thành khối nhỏ, bỏ vào lò
lửa không khói, nung đến khi tơi bở, lấy ra, để nguội, đập vụn.
Kiêng kỵ: Chứnghàn không dùng.
Chú ý: Không được uống bột thạch cao đã rang vì uống vào s hút nước nở ra, rắn
lại và gây tắc ruột.
XẠ ĐEN
Cây Xđen
XẠ ĐEN
Tên khác: Bách giải, Xạ đen cuống, Xạ cái, y Dót, Su bao hou ke shu (Trung
Quốc).
Tên khoa hc: Ehretia asperula Zoll. & Mor., họ Vòi voi (Boraginaceae).
Mô tả: Cây bụi trườn, dài 3 - 5m hoặc hơn, cành non có lông mịn, sau nhẵn, màu
nâu xám. Lá đơn, mọc so le, phiến lá nguyên, dai, không khía răng cưa, hình bầu
dục, kích thước 3 - 12 x 2 - 6 cm, chóp lá tù hay có mũi nhọn, gốc tròn, có 4 - 6
đôi gân bên, hai mặt lá nhẵn, hay mặt dưới có lông dọc theo gân lá. Cuống lá dài 6
- 15mm. Cụm hoa là một xim ở đầu cành nhỏ, dài 4 - 5cm, đường kính 4 - 6cm,
lông mịn. Lá bắc hình dải đến hình ngọn giáo, dài 3 - 10mm, tồn tại. Hoa nhỏ, có
cuống dài 1,5 - 3mm. Đài hoa màu nâu, cao 1,5 - 2,5mm, 5 thuỳ, có lông mịn.
Tràng màu trắng, phần dưới dính liền thành nh phễu, dài 3,5 - 4mm, họng rộng
5mm, 5 thuhình trứng hay tam giác, dài 2 - 2,5mm. Nhị 5, chỉ nhị dài 3,5 - 4mm,
đính cách gốc tràng khoảng 1mm. Bao phấn hình mũi tên, dài khoảng 1mm. Bầu
gần hình cầu. Vòi nhuỵ dài 3 - 4mm, xẻ nhánh dài khoảng 1mm. Quả hạch, khi
chín màu đỏ hay màu cam, đường kính 3 - 4mm, có 4 hạch, mỗi hạch chứa một
hạt.
Bộ phận dùng: Thân, cành.
Phân bố: Cây mọc ở vùng núi, nơi sáng và ẩm, rải rác dọc ven đường, ven rừng,
dựa hàng rào, bờ bụi, gặp ở các tỉnh Hoà Bình (huyện Tân Lạc, Lạc Sơn. Đà Bắc,
Mai Châu và vùng thị xã Hoà Bình), Hà Nam, Ninh Bình, Gia Lai, Quảng Ninh,
Thừa Thiên - Huế.
Thành phần a học: Flavonoid, các polyphenol, tanin, acid amin, đường khử,
cyanoglycosid, triterpenoid.
Công dụng: Dùng trong phm vi nhân dân chữa ung nhọt, lở loét, chữa các trường
hợp gầy mòn, rối loạn tiêu hóa, giúp ăn ngon, mát huyết, thông kinh lợi niệu.