intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Bài giảng An toàn lao động: Chương V - ThS. Đặng Xuân Trường

Chia sẻ: Nguyễn Thị Ngọc Lựu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:60

0
450
lượt xem
186
download

Bài giảng An toàn lao động: Chương V - ThS. Đặng Xuân Trường

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài giảng An toàn lao động - Chương V: Kỹ thuật an toàn khi đào đất đá và làm việc trên giàn giáo, trình bày những kiến thức: phân tích nguyên nhân gây chấn thương khi đào đất đá và hố sâu, các biện pháp đề phòng chấn thương khi đào hố, hào sâu; giàn giáo và nguyên nhân chấn thương khi làm việc trên cao, đảm bảo an toàn khi sử dụng giàn giáo. Đây là tài liệu học tập, giảng dạy dành cho giảng viên và sinh viên ngành Xây dựng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng An toàn lao động: Chương V - ThS. Đặng Xuân Trường

  1. CHƯƠNG V: KỸ THUẬT AN TOÀN KHI ĐÀO ĐẤT ĐÁ VÀ LÀM VIỆC TRÊN GIÀN GIÁO Bài 1. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN GÂY CHẤN THƯƠNG KHI ĐÀO ĐẤT ĐÁ VÀ HỐ SÂU I. Nguyên nhân gây ra tai nạn: Trong xây dựng cơ bản, thi công đất đá là một loại công việc thường có khối lượng lớn, tốn nhiều công sức và cũng thường xảy ra chấn thương. Các trường hợp chấn thương, tai nạn xảy ra khi thi công chủ yếu là khi đào hào, hố sâu và khai thác đá mỏ. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 160
  2. Các nguyên nhân chủ yếu gây ra tai nạn: Sụp đổ đất khi đào hào, hố sâu: Đào hào, hố với thành đứng có chiều rộng vượt quá giới hạn cho phép đối với đất đã biết mà không có gia cố. Đào hố với mái dốc không đủ ổn định. Gia cố chống đỡ thành hào, hố không đúng kỹ thuật, không đảm bảo ổn định. Vi phạm các nguyên tắc an toàn tháo dỡ hệ chống đỡ. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 161
  3. Đất đá lăn rơi từ trên bờ xuống hố hoặc đá lăn theo vách núi xuống người làm việc ở dưới. Người ngã: Khi làm việc mái dốc quá đứng không đeo dây an toàn. Nhảy qua hào, hố rộng hoặc leo trèo khi lên xuống hố sâu. Đi lại ngang tắt trên sườn núi đồi không theo đường quy định hoặc không có biện pháp đảm bảo an toàn. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 162
  4. Theo dõi không đầy đủ về trình trạng an toàn của hố đào khi nhìn không thấy rõ lúc tối trời, sương mù và ban đêm. Bị nhiễm bởi khí độc xuất hiện bất ngờ ở các hào, hố sâu. Bị chấn thương do sức ép hoặc đất đá văng vào người khi thi công nổ mìn. Việc đánh giá không hoàn toàn đầy đủ về khảo sát, thăm dò và thiết kế . Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 163
  5. II. Phân tích nguyên nhân làm sụt lỡ mái dốc: Để loại trừ các nguyên nhân làm sụt lở đất đá khi đào móng, đào hố sâu, kênh mương, thì việc thiết kế quy trình công nghệ hoặc sơ đồ thi công cần phải xét các yếu tố sau: Đặc trưng cụ thể của đất. Độ sâu, chiều rộng của khối đào và thời hạn thi công. Sự dao động của mực nước ngầm và nhiệt độ của đất trong suốt thời kỳ thi công khối đào. Hệ thống đường ngầm có sẵn và vị trí phân bố của chúng. Điều kiện thi công. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 164
  6. Bài 2. CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ PHÒNG CHẤN THƯƠNG KHI ĐÀO HỐ, HÀO SÂU I. Đảm bảo sự ổn định của hố đào: 1. Khi đào với thành đứng: Khi đào hố móng, đường hào không có mái dốc cần phải xác định đến một độ sâu mà trong điều kiện đã cho có thể đào với thành vách thẳng đứng không có gia cố. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 165
  7. a. Xác định theo quy phạm: Đối với đất có độ ẩm tự nhiên, kết cấu không bị phá hoại và khi không có nước ngầm chỉ cho phép đào thành thẳng đứng mà không cần gia cố với chiều sâu hạn chế do quy phạm quy định như sau: Đất cát và sỏi: không quá 1m. Đất á cát: không quá 1.25m. Đất á sét và sét: không quá 1.5m. Đất cứng (dùng xà beng, cuốc chim): không quá 2m. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 166
  8. b. Xác định theo công thức: Chiều sâu gới hạn khi đào hố, hào thành đứng có thể xác định theo công thức của Xôkôlôpski: (5.2) Trong đó: Hgh: độ sâu giới hạn của thành đứng hố đào (m). c, ϕ, γ: lực dính, góc ma sát trong và dung trọng của đất (t/m2, độ, t/m3). Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 167
  9. Khi xác định độ sâu giới hạn của hố móng hoặc đường hào với thành thẳng đứng nên đưa hệ số tin cậy >1, thường lấy bằng 1.25: (5.3) Khi đào hào, hố sâu hơn chiều sâu cực hạn thì phải gia cố thành hố hoặc đào thành dật cấp. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 168
  10. 2. Khi đào hào, hố có mái dốc: Đối với những khối đào sâu có mái dốc thì góc mái dốc có thể được xác định theo tính toán. Tính góc mái dốc có thể tiến hành theo phương pháp của Matslôp dựa trên 2 giả thiết: Góc mái dốc ổn định đối với bất kỳ loại đất nào là góc chống trượt của nó Φt. Ứng suất cực hạn ở trong chiều dày lớp đất được xác định bằng đẳng thức của 2 ứng suất chính do trọng lượng của của cột đất có chiều cao bằng khoảng cách từ mốc đang xét đến bề mặt nằm ngang của đất. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 169
  11. Hệ số chống trượt Ft thể hiện bằng đẳng thức: (5.4) Trong đó: c, ϕ, γ: lực dính, góc nội ma sát và γ là dung trọng của đất. Ptn=γH: tải trọng tự nhiên hay áp lực thẳng đứng của đất ở chiều sâu H. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 170
  12. Đại lượng Ft=tgΦt khi hệ số an toàn ổn định n = 1. Do đó khi lập góc mái dốc α xuất phát từ đẳng thức: (5.5) Trong đó: n: hệ số an toàn được lựa chọn xuất phát từ thời hạn tồn tại của khối đào. Nếu thời gian đó trên 10 năm thì n=1.5-1.8 và khi đó sự ổn định của nó sẽ được đảm bảo ngay cả lúc mưa lũ. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 171
  13. Khi khai thác đất đá và đào hố sâu, điều nguy hiểm đặc biệt đối với công nhân là khả năng sụt lở, trượt và xô đổ mái dốc. Hiện tượng này thường xuyên xảy ra nhiều về mùa mưa lũ. Để đề phòng trượt đất và sụp lỡ khi đào có thể thực hiện các biện pháp như: Gia cố đáy mái dốc bằng cách đóng cọc bố trí theo hình bàn cờ. Làm tường chắn bằng loại đá rắn và vữa đảm bảo độ bền chịu lực. Làm giảm góc mái dốc hoặc chia mái dốc thành ra nhiều cấp, làm bờ thềm trung gian và thải đất thừa ra khỏi mái dốc. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 172
  14. 3. Khi đào hào, hố có thành dật cấp: Đối với hào, hố rộng chiều sâu lớn, khi thi công thường tiến hành đào theo dật cấp: Chiều cao mỗi đợt dật cấp đứng không được vượt quá chiều cao theo quy định an toàn ở trường hợp đào với thành vách thẳng đứng. Khi dật cấp để theo mái dốc thì góc mái dốc phải tuân theo điều kiện đảm bảo ổn định mái dốc. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 173
  15. Giữa các đợt giật cấp có chừa lại cơ trung gian (bờ triền, thềm). Cần căn cứ vào chiều rộng cần thiết khi thi công người ta phân ra cơ làm việc, cơ để vận chuyển đất và cơ để bảo vệ; Cơ làm việc và cơ vận chuyển đất được xác định xuất phát từ điều kiện kỹ thuật đào, cần phải có nền ổn định và chiều rộng đủ để hoàn thành các thao tác làm việc 1 cách bình thường. Chiều rộng cơ để vận chuyển đất lấy như sau: • Khi vận chuyển thủ công lấy rộng 3-3.5m. • Khi vận chuyển bằng xe súc vật kéo lấy rộng 5m. • Khi vận chuyển bằng xe cơ giới lấy rộng 7m. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 174
  16. Trên mỗi dật cấp khối đào phải để lại cơ bảo vệ, khi tuân theo mái dốc tự nhiên của đất thì chiều rộng cơ có thể xác định theo điều kiện: (5.6) Trong đó: a: chiều rộng của cơ (m). H: chiều cao đật cấp (m). Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 175
  17. 4. Bố trí đường vận chuyển trên mép khối đào: Thi công công tác đất ở trên công trường và khai thác mỏ có liên quan đến việc sử dụng máy móc và công cụ vận chuyển cũng như việc bố trí đúng đắn đường vận chuyển ở gần hố đào ngoài phạm vi sụp đổ của khối lăng trụ. Hình 5.2: Bố trí đường vận chuyển trên mép hố đào Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 176
  18. Khoảng cách từ mép khối đào đến tuyến vận chuyển có thể được xác định theo công thức: (5.7) Trong đó: l1: khoảng cách từ tuyến vận chuyển đến chỗ giao nhau với đường được tạo bởi mái dốc tự nhiên của đất (m). H: chiều sâu khối đào (m). ϕ: góc mái dốc tự nhiên của đất (độ). α: góc giữa mái dốc đào thực tế và mái dốc tự nhiên. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 177
  19. II. Biện pháp ngăn ngừa đất đá lăn rơi: Khi đào nếu trên thành hố đào ngẫu nhiên tạo ra các ụ đất đá treo thì đình chỉ công việc ở dưới và phá đi từ phía trên sau khi đã chuyển người và máy ra nơi an toàn. Chừa bờ bảo vệ để ngăn giữ các tầng đất đá lăn từ phía trên xuống. Để đảm bảo tốt hơn, ở mép bờ cần đóng các tấm ván thành bảo vệ cao 15cm. Đất đá đào lên phải đổ xa cách mép hố, hào ít nhất 0.5m. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 178
  20. Khi đào đất tuyệt đối không đào theo kiểu hàm ếch. Nếu đào bằng máy gầu thuận thì chiều cao tầng xúc không được lớn chiều cao xúc tối đa của gầu xúc, phải xúc theo góc độ đã quy định theo thiết kế khoan đào. Trong quá trình đào hào, hố, người ta phải thường xuyên xem xét vách đất và mạch đất phía trên nếu thấy có kẽ nứt hoặc hiện tượng sụt lỡ đe doạ thì phải đình chỉ việc đào ngay. Cán bộ kỹ thuật phải tiến hành nghiên cứu để đề ra biện pháp giải quyết thích hợp và kịp thời. Đặc biệt sau mỗi trận mưa phải kiểm tra vách đào trước khi để công nhân xuống hố đào tiếp. Bài giảng AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 179

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản