
http://www.ebook.edu.vn 156
CHƯƠNG V: CÔNG TY HỢP DANH
Ths. Nguyễn Ngọc Sơn
1. Sơ lược về sự ra đời và phát triển của công ty hợp danh.
Công ty hợp danh có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời
nhất trong số các loại hình công ty mà con người ghi nhận. Ngay
từ thế kỷ thứ XIII, tại một số thành phố lớn của Châu Âu, các tài
liệu về quá trình phát triển của công ty đều ghi nhận rằng, có ba
nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc các thương nhân liên kết để hình
thành nên công ty theo cách hiểu truyền thống.
Một là, nhu cầu về vốn. sự phát triển của hoạt động kinh doanh,
thương mại, những thách thức trên thị trường và sự xuất hiện
những ngành nghề mà hiệu quả kinh doanh phụ thuộc vào quy mô
đầu tư… không ngừng đòi hỏi các doanh nhân phải nâng cao năng
lực tài chính. Quá trình tích tụ tư bản vốn đòi hỏi thời gian nên
không thể đáp ứng một cách nhanh chóng nhu cầu về vốn cho các
cơ hội kinh doanh tức thời. Thế nên, phương cách hợp lý là liên
kết năng lực riêng lẻ của nhiều thương nhân thành một khối chung
được các thương nhân sử dụng.
Hai là, Trong thời kỳ đầu, trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa
vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của thương nhân là trách
nhiệm cá nhân, vô hạn. Thế nên, một khi hoạt động kinh doanh
gặp rủi ro hoặc khó khăn thì các thương nhân cũng dễ dàng rơi vào
tình trạng khánh tận. Từ đó đã phát sinh nhu cầu chia sẻ rủi ro
bằng cách nhiều thương nhân cùng hợp tác, cùng nhau gánh chịu
những tổn thất, những khó khăn và rủi ro có thể có trong quá trình
kinh doanh.
Ba là, Nhu cầu hợp tác để nâng cao năng lực cạnh tranh, sự phát
triển của tầng lớp thương nhân

http://www.ebook.edu.vn 157
- Cùng với sự phát triển của thị trường, mô hình công ty hợp
danh luôn được con người hoàn thiện và biến đổi cho phù hợp với
sức ép cạnh tranh của các loại hình kinh doanh khác, phù hợp với
tình hình thực tiễn thị trường của từng quốc gia. Ban đầu, các
thương nhân thành lập nên những công ty chỉ có các thành viên là
thương nhân chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ phát sinh từ
hoạt động kinh doanh. Sau đó, xuất hiện thêm hình thức liên kết
giữa thương nhân với các cá nhân không trực tiếp tiến hành các
hoạt động kinh doanh mà chỉ góp vốn và chịu trách nhiệm về hoạt
động kinh doanh của công ty trong phạm vi vốn góp. Mô hình
công ty này được lý thuyết về doanh nghiệp gọi tên là công ty hợp
vốn đơn giản.
- Tại Việt Nam, lần đầu tiên loại hình công ty này được ghi nhận
trong Bộ dân luật thi hành tại các toà nam án bắc kỳ năm 1931 với
tên gọi là hội hợp danh. Sau đó, do chịu sự chi phối bởi các điều
kiện lịch sử nên loại hình này chỉ được ghi nhận trong pháp luật
của các chính quyền miền nam. Đến năm 1999, Luật doanh nghiệp
được ban hành thay thế Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân
đã tái sinh công ty hợp danh với nhiều đặc điểm đặc thù. Sau hơn 5
năm áp dụng, có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau nên mô hình
này không được các doanh nhân ưa chuộng. Ngày 19 tháng 11
năm 2005, Quốc hội ban hành Luật doanh nghiệp qui định chi tiết
hơn nữa về công ty hợp danh.
1.2. Khái niệm, đặc điểm của công ty hợp danh
1.2.1 Khái niệm
Theo quy định tại điều 130 Luật doanh nghiệp, Công ty hợp
danh được hiểu là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên
hợp danh là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh
dới một tên chung và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra, có thể có thành viên

http://www.ebook.edu.vn 158
góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
1.2.2 Đặc điểm
Công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp năm 2005 có những
đặc trưng sau:
Thứ nhất, Công ty hợp danh có thể có hai loại thành viên, trong
đó bắt buộc phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh; có thể có thành
viên góp vốn. Điều này cho thấy, chúng ta có hai loại công ty hợp
danh là (i) công ty hợp danh chỉ có thành viên hợp danh và (ii)
công ty hợp danh vừa có thành viên hợp danh, vừa có thành viên
góp vốn. Hai loại thành viên trong công ty hợp danh có quy chế
pháp lý khác nhau. So sánh với quan niệm truyền thống về công
ty, pháp luật Việt Nam đã gộp mô hình công ty hợp danh truyền
thống và công ty hợp vốn đơn giản vào chung khái niệm về công
ty hợp danh.
Thứ hai, Về trách nhiệm của các thành viên
Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty
bằng toàn bộ tài sản của mình (trách nhiệm vô hạn); thành viên
góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp ( trách nhiệm hữu hạn). Chế độ trách nhiệm
liên đới, vô hạn của thành viên hợp danh được coi đặc trưng truyền
thống và cơ bản của loại hình công ty hợp danh. Theo đó, khi công
ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản và đang bị tòa án tiến hành
thủ tục phá sản, tài sản của công ty được xác định để thanh toán nợ
bao gồm cả tài sản mà công ty có tại thời điểm thụ lý đơn yêu
cầu… và tài sản của các thành viên hợp danh không trực tiếp dùng
vào hoạt động kinh doanh.

http://www.ebook.edu.vn 159
Thứ ba, Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Về vấn đề này, trong khoa học pháp lý còn có nhiều ý kiến khác
nhau. Quan điểm ủng hộ Luật doanh nghiệp cho rằng, việc ghi
nhận tư cách pháp nhân cho công ty hợp danh đảm bảo sự bình
đẳng về mặt pháp lý cho loại hình công ty này khi tham gia các
hoạt động kinh doanh trên thị trường. Tuy nhiên, có quan điểm
khác yêu cầu đặt lại vấn đề bởi họ cho rằng trách nhiệm vô hạn
của thành viên hợp danh đã làm cho công ty hợp danh không thỏa
mãn các điều kiện của một pháp nhân theo Bộ luật dân sự. Mặt
khác, soi rọi vào hệ thống pháp luật hiện hành, quan điểm thứ hai
cho rằng việc không thừa nhận tư cách pháp nhân cho công ty hợp
danh không còn gây ra những hệ lụy bất lợi cho loại hình công ty
này khi tham gia các giao dịch với đối tác hoặc bất lợi trong cạnh
tranh với đối thủ.
Hệ quả pháp lý của việc thừa nhân tư cách pháp nhân cho công ty
hợp danh là pháp luật cần có cơ chế đảm bảo sự độc lập về tài sản
giữa công ty và các thành viên (kể cả thành viên hợp danh); đảm
bảo công ty là chủ thể thực sự trong các giao dịch và trong quan hệ
tố tụng trước tòa án.
Thứ tư, Công ty hợp danh không được phát hành chứng khoán.
Giống như doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh không thể huy
động vốn bằng cách phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu,
trái phiếu… mà chỉ có thể huy động vốn từ các tổ chức tín dụng,
vay của các tổ chức, cá nhân khác, huy động các thành viên góp
thêm hoặc kết nạp thành viên mới.
2. Qui chế thành viên.
2.1. Thành viên hợp danh

http://www.ebook.edu.vn 160
Thứ nhất, Xác lập tư cách của thành viên hợp danh. Một cá nhân
có thể trở thành thành viên của công ty hợp danh trong những
trường hợp sau:
- Tham gia thành lập công ty hợp danh;
- Người thừa kế của thành viên hợp danh đã chết được Hội đồng
thành viên chấp thuận trở thành thành viên hợp danh;
- Nhận chuyển nhượng vốn góp từ thành viên hợp danh nếu việc
chuyển nhượng đó được các thành viên còn lại chấp thuận;
- Được công ty tiếp nhận với điều kiện việc tiếp nhận đợc hội đồng
thành viên đồng ý. Trong trờng hợp này, thành viên hợp danh phải
nộp đủ số vốn cam kết góp vào công ty trong thời hạn mời lăm
ngày kể từ ngày đợc chấp thuận, trừ trờng hợp Hội đồng thành
viên quyết định thời hạn khác. Mặt khác, thành viên hợp danh mới
phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty, trừ
trường hợp thành viên đó và các thành viên còn lại có thoả thuận
khác.
Theo quy định của Luật doanh nghiệp, thành viên hợp danh là
cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các
nghĩa vụ của công ty. Như vậy, đặc điểm quan trọng nhất trong
quy chế pháp lý của thành viên hợp danh là chế độ trách nhiệm vô
hạn của loại thành viên này. Theo đó, khi giải quyết phá sản công
ty hợp danh mà tài sản không đủ thanh toán nợ, thành viên hợp
danh phải dùng cả tài sản không góp vốn vào công ty để thanh
toán phần nợ còn thiếu. Về lý thuyết, trách nhiệm vô hạn là ưu
điểm quan trọng của công ty hợp danh trước khách hàng và đối tác
bởi khả năng mở rộng năng lực thanh toán nợ của công ty. Song
mặt khác, trách nhiệm vô hạn dễ tạo ra rủi ro cho các thành viên
hợp danh.

