76
CHƯƠNG VII
TRẦM CẢM CHỦ YẾU
7.1. Thông tin chung
7.1.1. Giới thiệu tóm tắt nội dung bài học
Bài hc cung cp kiến thc tng quát v các biu hin m sàng, tiêu
chun chẩn đoán, điu tr bnh trm cm.
7.1.2. Mục tiêu học tập
1. Thăm khám được các triệu chứng của trầm cảm.
2. So sánh được các tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm theo DSM-5 với ICD-10.
3. Hiểu được nguyên tắc điều trị sử dụng một số thuốc chống trầm cảm thông
thường.
7.1.3. Chuẩn đầu ra
Nắm được kiến thức cơ bản v các biu hin m sàng, tiêu chun chn
đoán, điều tr bnh trm cm.
7.1.4. Tài liệu giảng dạy
7.1.4.1 Giáo trình
1. Ngô Văn Truyền, Nguyễn Văn Thống. (2021). Giáo trình tâm thn.
Ni: NXB. Y hc.
7.1.4.2 Tài liu tham kho
2. Trần Diệp Tuấn (2017), Các bệnh m thần kinh thường gặp trẻ em,
NXB Y học, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Minh Tuấn (2011), Chẩn đoán điều trị các trạng thái lệ thuộc
(nghiện), NXB Y học, Hà Nội.
7.1.5. Yêu cầu cần thực hiện trước, trong và sau khi học tập
Sinh viên đọc trước i ging, m hiu các nội dung liên quan đến bài hc,
tích cc tham gia tho lun xây dng bài hc, ôn tp, tr li các câu hi, trình y
các ni dung cn gii đáp và tìm đọc các tài liu tham kho.
7.2. Nội dung chính
7.2.1. KHÁI NIỆM
Rối loạn trầm cảm chủ yếu (major depressive disorder), hay trầm cảm đơn cực
chỉ có một cơn trầm cảm duy nhất hay các n trầm cảm tái phát không tiền sử cơn
hưng cảm, hưng cảm nhẹ hay hỗn hợp.
Rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder) các cơn hưng cảm xen kẽ với các cơn
trầm cảm. Rối loạn lưỡng cực có hai loại:
77
- Rối loạn lưỡng cực I: đặc trưng bởi một hay nhiều giai đoạn hưng cảm hoc
giai đoạn hỗn hợp, có thể phối hợp với giai đoạn trầm cảm chủ yếu.
- Rối loạn lưỡng cực II: đặc trưng bởi một hay nhiều giai đoạn trầm cảm chủ
yếu, phối hợp ít nhất một giai đoạn hưng cảm nhẹ.
Loạn khí săc (dysthymic disorder) được chẩn đoán khi ít nhất 2 năm khí sắc
trầm cảm, phối hợp với triệu chứng trầm cảm, nhưng triệu chứng này không thỏa mãn
cho các tiêu chuẩn của một giai đoạn trầm cảm chủ yếu. (còn được gọi trầm cảm
thần kinh chức năng - neurotic depression).
Loạn khí sắc chu k(cyclothymic disorder) chỉ được đặt ra khi ít nhất 2 năm
của một giai đoạn hưng cảm nhẹ (không thỏa mãn các tiêu chuẩn cho một giai đoạn
hưng cảm) và một số giai đoạn của các triệu chứng trầm cảm (không thỏa mãn cho các
tiêu chuẩn của trầm cảm chủ yếu), (được coi là một thể nhẹ của rối loạn lưỡng cực II).
7.2.2. DỊCH TỄ HỌC
7.2.2.1. Tỷ lệ bệnh
Ít nhất 10% - 15% người lớn trong dân số chung có ít nhất một cơn trầm cảm chủ
yếu trong giai đoạn nào đó của cuộc sống.
7.2.2.2. Tuổi phát bệnh
Rối loạn trầm cảm chủ yếu có thể ở bất kỳ tuổi nào và thưng nhất trong lứa tuổi
20-50. Các số liệu nghiên cứu gần đây đều cho rằng tỷ lệ trầm cảm đang tăng lên ở lứa
tuổi dưới 20.
Ở trẻ nhỏ, trầm cảm thường phối hợp với các rối loạn tâm thần khác (đặc biệt rối
loạn hành vi, giảm chú ý và rối loạn lo âu). Ở trẻ vị thành niên, các giai đoạn trầm cảm
chủ yếu được phối hợp rối loạn hành vi, giảm chú ý, rối loạn lo âu, lạm dụng chất
rối loạn hành vi ăn uống; còn người cao tuổi các triệu chứng nhận thức (ví dụ mất
định hướng, giảm trí nhớ...) lại hay gặp.
7.2.2.3. Giới tính
Ở hầu hết các quốc gia, không phân biệt về văn hóa, đều thấy tlệ trầm cảm của
nữ cao hơn ở nam. Ở độ tuổi thiếu niên thì nam và nữ có tỷ lệ trầm cảm bằng nhau.
7.2.2.4. Tình trạng kinh tế và văn hóa
Không mối liên quan giữa tình trạng kinh tế trầm cảm chyếu. Nghĩa
trầm cảm chủ yếu thể gặp bất ktầng lớp nào trong hội, từ người giàu đến
người nghèo; nhưng điều đáng ngạc nhiên là trầm cảm phổ biến hơn ở vùng nông thôn
so với thành thị.
7.2.2.5. Tình trạng hôn nhân
Tỷ lệ của rối loạn trầm cảm chủ yếu cao đáng kể những người quan hệ
hội kém hoặc ly dị, ly thân, góa.
78
7.2.3. BỆNH SINH
nhiều luận điểm đưa ra để giải thích nguyên nhân dựa trên các lĩnh vực chủ
yêu như: yếu tố sinh học, di truyền, các mối liên hệ con người xã hội văn hóa.
7.2.3.1. Yếu tố sinh học
Bất thường chất dẫn truyền thần kinh
Serotonin-, đây chất dẫn truyền thần kinh đóng vai trò lớn nhất trong trầm
cảm. Các nhà khoa học nhận thấy trong rối loạn trầm cảm, nồng độ serotonin tại khe
synap thần kinh vỏ não giảm sút rệt so với người bình thường (có trường hợp chỉ
còn 30% người bình thường). Bên cạnh đó, nồng độ các sản phẩm chuyển hóa của
serotonin trong máu, dịch não tủy cũng giảm thấp rệt. Khi sử dụng các thuốc chống
trầm cảm loại ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI) (ví dụ fluoxetine), nồng độ
serotonin khe synap tăng lên, cùng với hiệu quả chống trầm cảm cũng xuất hiện
rệt.
Noradrenaline: trong rối loạn trầm cảm, mật độ thụ thể beta-adrenergic giảm sút
đáng kể so với người bình thường. Thuốc chống trầm cảm loại tác dụng trên thụ thể
beta- adrenergic như venlafaxin hiệu quả chống trầm cảm rệt. Đó bằng chứng
gián tiếp cho thấy vai trò của noradrenaline trong bệnh sinh của trầm cảm.
Dopamine: chất dẫn truyền thần kinh dopamine không đóng vai trò lớn trong
trầm cảm như serotonin noradrenaline. Nhưng nhiều bằng chứng cho thấy hoạt
tính của dopamine giảm trong rối loạn trầm cảm tăng trong hưng cảm. Các thuốc
làm giảm hoạt tính dopamine như reserpine thì gây ra trầm cảm, còn thuốc làm tăng
hoạt tính của dopamine như bupropion thì làm giảm triệu chứng trầm cảm.
Vùng dưới đi-tuyến yên-tuyến thưng thn: mối liên quan giữa tăng tiết
cortisol trầm cảm đã được biết tới từ u. Khoảng 50% số bệnh nhân trầm cảm
sự tăng nồng độ cortisol trong máu trở lại bình thường ngay khi trầm cảm được
điều trị. Vùng dưới đồi tiết ra CRH, chất này tác động lên tiền yên y giải phóng
ACTH. Đến lượt mình, ACTH lại kích thích tuyến thượng thận tiết ra cortisol
cortisol lại tác động lên vùng dưới đồi theo chế feedback âm. Khi nồng độ cortisol
tăng thì sẽ y giảm tiết CRH ACTH ngược lại. Trong một số trường hợp,
chế này bị rối loạn (trường hợp bệnh nhân được điều trị bằng corticoid kéo dài) sẽ y
giảm CRH ACTH, từ đó gây ra trầm cảm. Một số nghiên cứu báo cáo về hiệu quả
chống trầm cảm sau khi cho liều thuốc kháng corticoid như amino glutarimide,
metyrapone ketoconazole. Tuy nhiên, không phải tất cả bệnh nhân trầm cảm đều
cho thấy có sự tăng hoạt động của cortisol rõ rệt.
Vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến giáp, những nghiên cứu trên người đã chứng
minh sự ảnh hưởng rệt của các hormon tuyến giáp lên sự phát triển, trưởng thành và
kết nối của não bộ. Nhưng những ảnh hưởng của các hormon tuyến giáp lên sự trưởng
79
thành chức năng não bnhư cảm xúc thì chưa được cý nhiều. Những tác động phổ
biến nhất được thấy là:
- Trầm cảm sự suy giảm nhận thức những triệu chứng tâm thần thường
thấy nhất ở những người có sự giảm hoạt động tuyến giáp (suy giáp).
- Một liều nhỏ hormon tuyến giáp, tốt nhấttriiodothyronine (T3) sẽ làm nhanh
hơn hiệu quả điều trị của các thuốc chống trầm cảm, đặc biệt phụ nữ thể làm
chuyển từ các thuốc chống trầm cảm không đáp ứng điều trị thành các thuốc đáp ứng ở
cả hai giới.
- Cho liều TRH (thyrotropin-releasing hormon) thể m tăng cảm giác hài
lòng thư giãn những đối tượng bình thường rối loạn tâm thần thần kinh,
đặc biệt là trầm cảm.
7.2.3.2. Yếu tố gia đình và di truyền
Các nghiên cứu cho thấy rối loạn trầm cảm liên quan đến yếu tố gia đình.
Những người thân với người btrầm cảm tlệ rối loạn y cao hơn trong dân số
chung.
Tỷ lệ rối loạn trầm cảm cao nhất trong số những người mối liên hệ thứ nhất
với người bệnh. Tlệ bệnh những người sinh đôi cùng trứng 65%-75%, trong khi
ở trẻ sinh đôi khác trứng là 14%-19%.
7.2.3.3. Yếu tố tâm lý, xã hội
Các sang chấn tâm đóng vai trò rất quan trọng trong bệnh sinh của trầm cảm.
Dưới tác động u dài của stress, các yếu tố sinh học trong não bị biến đôi, từ đó dẫn
đến thay đổi trong chức năng của não. Sự thay đổi yếu tố sinh học của não thể sự
thay đổi nồng đ các chất dẫn truyền thần kinh trung ương như serotonin,
noradrenaline, dopamine..., giảm khả năng dần truyền tín hiệu giữa các vùng não với
nhau. Bên cạnh đó, sự thay đổi yếu tố sinh học của não còn bao gồm sự mất các
neuron, vậy làm giảm sự tiếp xúc của các synap. Hậu quả về lâu dài làm tăng
nguy cơ bị trầm cảm, mặc dù lúc đó có thể các stress đã kết thúc.
Một số nhà lâm sàng cho rằng stress đóng vai trò chủ đạo trong bệnh sinh của
trầm cảm. Trong khi các nhà nghiên cứu khác lại cho rằng stress chỉ vai trò trong
giai đoạn khởi phát của rối loạn trầm cảm mà thôi.
Sang chấn m yếu tố quan trọng nhất y ra trầm cảm được các tác giả
thừa nhận mất bố (mẹ) trước m 11 tuổi, kế đó mất vợ (chồng), các yếu tố hay
gặp khác là thất nghiệp (tỷ lệ trầm cảm gấp 3 lần người có việc).
80
7.2.3.4. Yếu tố nhân cách
Những người nhân cách ám ảnh-cưỡng ch, nhân cách ranh giới, nhân cách
phân ly... thể nguy bị trầm cảm cao hơn người bị nhân cách chống đối hội
nhân cách paranoid.
7.2.4. TRIỆU CHỨNG
7.2.4.1. Khí sắc trầm
Chiếm khoảng 90% các trường hợp người bệnh than phiền mình cảm thấy buồn,
chán nản, trống rỗng, vọng hoặc “không còn tha thiết điều nữa”. Người rối loạn
trầm cảm nhận thấy bất hạnh thể nhìn ơng lai một cách tuyệt vọng. Họ th
đánh giá hoàn cảnh của họ vọng tin rằng họ không tương lai hoặc cuộc
sống chỉ một gánh nặng. Sự đánh giá khách quan của bạn hoặc người thân cho
thấy một bệnh cảnh đầy đủ hơn. Người khám sẽ nhận thấy qua các biểu hiện về dáng
điệu, ngôn ngữ, y phục, cùng với lời kể của bản thân của người bệnh. Một số bệnh
nhân nói rằng họ không thể khóc trong khi những người khác lại những cơn khóc
lóc cớ. Một số ít không thấy triệu chứng cảm xúc trầm cảm thường được gọi
dưới tên trầm cảm ân. những bệnh nhân này, người chung quanh ghi nhận tình
trạng thu rút khỏi hội hoạt động giảm. trẻ em thường xuất hiện tình trạng cáu
kỉnh, bực bội.
7.2.4.2. Mất hứng thú
Gặp trong hầu hết các bệnh nhân. Bệnh nhân hoặc người nhà khai là người bệnh
hình như không còn tha thiết với bất khình thức hoạt động nào trước đó họ rất
thích như hoạt động tình dục, sở thích hoặc các công việc hằng ngày. Họ thể cảm
thấy mất thích thú nhìn các hoạt động vui vẻ bình thường một cách thờ ơ, hoặc cho
rằng nếu tham gia những hoạt động đó họ không cảm thấy thích thú (mất thích thú
sớm).
7.2.4.3. Ăn mất ngon
Khoảng 70% số trường hợp trầm cảm triệu chứng này và kèm theo sụt cân.
Giảm thích thú ăn uống thường gặp trong trường hợp nặng, bệnh nhân thgiảm
cân do đói hoặc mất nước. Triệu chứng quan trọng là giảm cân trên 5% trọng lượng
thể hoặc 3-4kg với tháng trước đó. Chỉ một số ít trường hợp đặc biệt cảm giác
thèm ăn thường thích ăn một số thức ăn đặc biệt như đồ ngọt dẫn đến việc tăng
trọng đáng kể (trầm cảm không điền hình).
7.2.4.4. Rối loạn giấc ng
Khoảng 80% số bệnh nhân trầm cảm than phiền mình có ít nhất một loại rối loạn
nào đó của giấc ngủ loại thường gặp như mất ngủ, khó đi vào giấc ngủ, mất nggiữa