44
Bài. 5
KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM PHÂN TÌM KÝ SINH TRÙNG
Mục tiêu
Mô tả được quy trình xét nghiệm phân
Làm được tiêu bản phân bằng phương pháp trực tiếp
Phát hiện được những sai lầm trong thao tác xét nghiệm phân trực tiếp
1. Khái quát
Trong phòng xét nghiệm, khi nhận được bệnh phẩm, nếu là phân tươi không có
chất bảo quản, chúng ta cần quan sát bằng mắt (đại thể) trước để có những nhận xét sơ
bộ về mẫu phân, ghi nhận những đặc tính của mẫu phân, phân loại bệnh phẩm xét
nghiệm: mẫu phân lỏng, có chất nhày, máu phải xét nghiệm ngay
Không nên để phân ngoài trời, không có nắp đậy; không nên để lọ phân trên
phiếu xét nghiệm hoặc để dồn mẫu vào cuối buổi mới xét nghiệm
Đối với phân được bảo quản trong dung dịch cố định thì quan sát đại thể
không thực hiện được
Để phát hiện được KST chúng ta cần phải dùng kính hiển vi để quan sát (vi thể)
1.1. Quan sát đại thể
Quan sát đại thể (bằng mắt hoặc kính lúp) để ghi nhận trạng thái, màu sắc các
chất lạ, tìm kiếm và xác định các loại giun, sán được thải ra theo phân
1.1.1. Trạng thái phân
Phân có thể ở các trạng thái:
Cứng rắn (khó đâm thủng)
Cứng (đâm thủng được)
Mềm (cắt được)
Nhão (có thể bị biến dạng)
Lỏng
Lỏng như nước
1.1.2. Màu sắc
Thay đổi từ đen, nâu đậm, nâu, nâu nhạt, vàng, xanh, màu đất sét hay đôi khi
đỏ, trắng
45
1.1.3. Các chất lạ
Chất nhày: thường đục, có thể kết thành sợi, hình dáng giống như ký sinh tùng.
Chất này được xem xét cẩn thận để tìm các đơn bào, các trứng Schistosoma.
Mô liên kết: màu trắng như xà cừ. Xem dưới kính hiển vi sau khi làm trong với
acid acetic sẽ thấy những sợi dài
Máu: chỉ cần ghi nhận sự hiện diện máu tươi hoặc đã được tiêu hóa làm phân
có màu đen đều
Mũ: gồm có nhiều bạch cầu đã biến dạng
Các cặn bã thực vật chưa tiêu hóa, thường dưới hình thức sợi
1.2. Quan sát vi thể
Quan sát vi thể có thể được thực hiện với kỹ thuật xét nghiệm phân trực tiếp,
tập trung KST trong phân, kỹ thuật chuyên biệt, cấy và nhuộm cố định
2. Kỹ thuật xét nghiệm phân trực tiếp
Kỹ thuật xét nghiệm phân trực tiếp sử dụng phân hòa tan trong nước muối cho
phép phát hiện sự di động của thể hoạt đơn đơn bào, trứng giun, sán, ấu trùng giun và
các vật thể bất thường trong phân (hồng cầu, bạch cầu,…)
Ưu điểm:
Đơn giản
Cho kết quả nhanh chóng và chính xác
Không đòi hỏi dụng cụ, hóa chất đắt tiền
Nhược điểm:
Độ nhạy thấp
2.1. Dụng cụ
Kính hiển vi
Lam kính, lá kính
Viết chì sáp
Khăn vải
Bình đựng dung dịch sát trùng
Kẹp
2.2. Hóa chất
NaCl 0.85%
Lugol 1%
46
Dung dịch sát trùng
2.3. Quy trình làm tiêu bản phân
Lấy một tấm lam kính sạch, khô. Dùng viết chì chia lam kính ra làm 3 phần.
Ghi tên bệnh nhân vào ô nhỏ ở đầu lam kính
Nhỏ lên lam kính 1 giọt NaCl 0.85% vào ô giữa, 1 giọt Lugol ở ô cuối
Dùng que gỗ lấy một ít phân bằng đầu que diêm, hòa tan phân vào giọt NaCl
0.85%
Lấy phân lần thứ hai rồi hòa tan phân vào giọt Lugol
Bỏ que gỗ vào dung dịch sát trùng
Đậy lá kính lên 2 giọt phân
Khảo sát tiêu bản dưới kính hiển vi
47
2.4. Tiêu chuẩn của một tiêu bản tốt
Không quá dày: phân nhiều sẽ làm tiêu bản đục tối, che lấp KST, khó phát hiện
Không quá mỏng: ít phân quá sẽ không tìm thấy KST, trừ khi chúng quá nhiều
Tiêu bản có độ dày vừa phải khi thấy được chữ in trên tờ bào đặt dưới tiêu bản
Tiêu bản không có bọt khí, dung dịch phân tràn ra quanh lá kính
2.5. Khảo sát tiêu bản dưới kính hiển vi
Khảo sát tiêu bản phân bằng vật kính x10, khi muốn nhìn rõ chi tiết thì chuyển
sang vật kính x40
Khảo sát mẫu phân theo hình zic zac để không bỏ sót vi trường nào
Lưu ý:
Nên để ánh sáng vừa phải
Mẫu phân được xét nghiệm càng sớm càng tốt, để lâu KST sẽ chết hoặc thay
đổi hình dạng, khó xác định
Mẫu phân tìm trứng giun, sán: không để quá 10 giờ
Mẫu phân tìm đơn bào: không để quá 2 giờ
2.6. Những sai lầm nên tránh
Phết phân không đều, chỗ dày, chỗ mỏng
Nếu phết phân loãng quá hoặc đặc quá, nên bỏ đi, làm lại phết phân khác
Đậy lá kính làm tiêu bản có bọt khí
Dung dịch phân tràn ra xung quanh lá kính
Quên không đặt lá kính kên phết phân thì phết phân sẽ chóng khô, vật kính bị
bẩn và màu nhuộm sẽ nhạt rất nhanh
Dùng nước thường để hòa tan phân thay vì dùng dung dịch NaCl 0.85%, nước
thường sẽ làm biến dạng hay hủy hoại thể hoạt động của đơn bào
Dùng nhiều ánh sáng quá. Nên để tụ kính gần với bàn kính. Giảm ánh sáng
bằng cách đóng bớt màng chắn sáng hay dùng kính lọc màu xanh da trời lấy ánh sáng.
48
2.7. Cách trả lời kết quả xét nghiệm phân
Trên phiếu trả lời kết quả xét nghiệm phân, phải ghi các nội dung sau:
Đặc tính của phân: phân cứng, mềm, nhão, có khuôn, lỏng,…
Màu sắc của phân: vàng, xanh, nâu, đen,…
Các yếu tố bắt thường thấy được bằng mắt: chất nhày, máu, đốt sán,…
Kết quả:
Âm tính: tìm không thấy trứng và bào nang của KST đường ruột
Dương tính viết ra các chi tiết sau:
Tên tiếng việt và tên khoa học của KST
Trứng, thể hoạt động, bào nang, ấu trùng
Mật dộ nhiễm trên tiêu bản:
Ít: (+) từ 1 – 2 trứng/tiêu bản
Vừa: (++) từ 3 5 trứng/tiêu bản
Nhiều: (+++), (++++) > 6 trứng/tiêu bản
Ví dụ: tìm thấy trứng giun đũa (Ascaris lumbricoides): (+)
2.8. Cách xử lý dụng cụ đã dùng và bệnh phẩm
2.8.1. Bệnh phẩm và que xét nghiệm
Sau khi xét nghiệm xong, cho lọ đựng phân que xét nghiệm vào dung dịch
sát trùng rồi hấp tiệt trùng trước khi bỏ. Nếu không có lò hấp, có thể nấu sôi 30 phút
hoặc chôn vào hố sâu.
2.8.2. Dụng cụ
Lam kính: cho vào dung dịch sát trùng, hấp khử trùng, rửa nước thường cho
sạch, ngâm xà bông, rửa sạch, ngâm trong dung dịch acid sulfochromic 24 giờ. Rửa lại
bằng nước thường, tráng lại bằng nước cất, sấy k
Lá kính: rửa tương tự như lam kính nhưng chỉ sấy khô ở 600C
3. Kỹ thuật nhuộm Ziehl-Neelsen cải tiến
3.1. Mô tả
Các trùng bào tử đường ruột (Cryptosporidium, Cyclospora…) khó được xác
định bằng cách soi phân trực tiếp. Vì vậy, người ta dùng phương pháp nhuộm để tạo
sự tương phản giữa màu của KST và nền cặn bã phân.
Kỹ thuật nhuôm Ziehl-Neelsen cải tiến được dùng dựa trên đặc điểm kháng
acid của các KST này. Nguyên tắc của kỹ thuật này là nhuộm tiêu bản phân bằng