TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ VÀ NHÂN VĂN
____***____
TIỂU LUẬN
KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG,
CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Tên sinh viên: Nguyễn Đức Anh
MSV: 2414110024
Lớp hành chính: Anh 06 – TC Kinh tế đối ngoại
Lớp tín chỉ: TRI115(2425-1)GD2.4
Khóa: K63
Tên giáo viên hướng dẫn: ThS. Đinh Thị Quỳnh Hà
HÀ NỘI năm 2024
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………..3
Chương 1: luận của C.Mác về hàng hóa sức lao
động………………………………………………………………………..4
1.1 Sức lao động …………………………………………………………..4
1.1.1 Khái niệm sức lao động……………….……………………………………4
1.1.2 Hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa……………………..4
1.2 Hàng hóa sức lao
động………………………………………………...5
1.2.1 Khái niệm…………………………………………………………………….5
1.2.2 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động………………………………6
Chương 2: Vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện
nay…………………………………………………………………….9
2.1 Khái niệm tiền lương ………………………………………………….9
2.2 Chính sách cải cách tiền lương Việt Nam hiện nay ………………
10
2.3 Những thành tựu đã đạt được trong cải cách tiền lương Việt Nam
hiện nay…………………………………………………………………...12
2.4 Thực trạng về vấn đề cải cách tiền lương Việt Nam hiện nay ……
13
2.5 Một số phương hướng kiến nghị bản giúp thực hiện chính sách
cải cách tiền lương hiện nay Việt Nam một cách hiệu quả
………………15
Chương 3: Đề án chính sách cải cách tiền lương Việt Nam trong
những năm tới …………………………………………………………...18
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động không chỉ yếu tố sản
xuất cơ bản mà còn là hàng hóa đặc biệt, mang trong mình những đặc trưng
riêng biệt so với các loại hàng hóa khác. Đặc biệt, vấn đề tiền lương, một
yếu tố gắn liền với giá trị của sức lao động, luôn vấn đề tầm quan
trọng lớn đối với người lao động, các doanh nghiệp nền kinh tế nói
chung. Sự biến động của tiền lương không chỉ phản ánh tình hình kinh tế
còn tác động sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của người lao động,
động lực phát triển sản xuất và mức độ công bằng xã hội.
Tại Việt Nam, vấn đề tiền lương cải cách tiền lương luôn một
trong những chủ đề nóng bỏng trong các cuộc thảo luận kinh tế - hội.
Mặc trong những năm qua, Việt Nam đã nhiều cải cách trong chính
sách tiền lương, nhưng tình trạng chênh lệch tiền lương giữa các ngành
nghề, khu vực tầng lớp lao động vẫn còn khá lớn. Những bất cập này
không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người lao động mà còn tác động đến
sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Bài tiểu luận này sẽ làm mối quan hệ giữa hàng hóa sức lao động
và tiền lương, phân tích các yếu tố tác động đến tiền lương ở Việt Nam hiện
nay, từ đó đánh giá những vấn đề thách thức trong cải cách tiền lương.
Đồng thời, bài viết cũng s đưa ra một số kiến nghị nhằm cải thiện chính
sách tiền lương, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - hội của đất
nước trong giai đoạn mới.
Do kiến thức còn hạn hẹp nên bài tiểu luận không tránh khỏi những
thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý để bài tiểu luận được hoàn thiện
hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
3
Chương 1 : Lý luận của C.Mac về hàng hóa sức lao động
1.1 Sức lao động
1.1.1 Khái niệm sức lao động
Để hiểu thế nào là hàng hóa sức lao động, trước hết ta cần hiểu sức
lao động là gì.
Theo C.Mac, “Sức lao động, đó toàn bộ các thể lực trí lực
trong thân thể của một con người, trong nhân cách sinh động của con
người, thể lựctrí lực con người phải làm cho hoạt động để sản xuất
ra những vật ích”. Như vậy, sức lao động thứ sẵn trong mỗi con
người.
1.1.2 Hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Trong bất cứ hội nào, sức lao động cũng điều kiện bản của
sản xuất. Nhưng không phải trong bất điều kiện nào, sức lao động cũng
hàng hóa. Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong hội chiếm hữu lệ, sức
lao động của người nô lệ không phải là hàng hóa, vì bản thân nô lệ thuộc sở
hữu của chủ nô, họ phải làm việc theo yêu cầu của chủ không
quyền bán sức lao động của mình. Nói cách khác, họ đã bị “cướp” sức lao
động. Hay như một dụ khác, người thợ thủ công tuy được tùy ý sử dụng
sức lao động của mình, nhưng sức lao động của anh ta cũng không phải
hàng hóa, anh ta không đem sức lao động của mình ra buôn bán sức
lao động đó tạo ra chỉ để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của anh ấy. Điều này đã
không thỏa mãn định nghĩa của hàng hóa bởi hàng hóa là sản phẩm của lao
động, làm thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi mua bán.
Như vậy, sức lao động chỉ biến thành hàng hóa trong những điều kiện nhất
định sau đây :
4
Thứ nhất, người sức lao động phải quyền sở hữu năng lực của
mình. Việc biến sức lao động thành hàng hóa đòi hỏi phải thủ tiêu chế độ
chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến.
Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi liệu sản
xuất. Muốn nuôi sống bản thân, người lao động buộc phải bán sức lao động
để sống (trong một thời gian nhất định). Thực chất, việc bán sức lao động
chỉ bán quyền sử dụng lao động, còn người lao động vẫn sở hữu sức lao
động của mình. Việc bán sức lao động cũng một cách để đổi lấy chi phí
hội cao hơn. Như trong dụ sau: Người nông dân liệu sản xuất
(vật liệu xây dựng, cừu, ) để tạo ra các sản phẩm, tuy vậy muốn đổi
lấy chi phí hội cao hơn nên họ đã chấp nhận bán liệu sản xuất. Kết
quả là, họ không còn tư liệu sản xuất và phải bán sức lao động của mình để
nhận được nhiều lợi nhuận hơn (xây dựng, chăn cừu, … ).
Sự tồn tại đồng thời của hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao
động trở thành hàng hóa. Sức lao động biến thành hàng hóa điều kiện
quyết định để tiền biến thành bản. Tuy nhiên, để tiền biến thành bản
thì lưu thông hàng hóa lưu thông tiền tệ phải phát triển đến một mức độ
nhất định.
Trong các hình thái hội trước chủ nghĩa bản, chỉ sản phẩm
của lao động mới là hàng hóa. Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến
một mức nhất định nào đó, các hình thái sản xuất hội (sản xuất nhỏ,
phường hội, phong kiến…) bị phá vỡ thì mới xuất hiện những điều kiện để
cho sức lao động trở thành hàng hóa, chính sự xuất hiện của hàng hóa sức
lao động làm cho sản xuất hàng hóa có tính chất phổ biến và đã báo hiệu sự
ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội – thời đại của chủ nghĩa tư
bản.
1.2 Hàng hóa sức lao động
1.2.1 Khái niệm
5