
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ VÀ NHÂN VĂN
------------***------------
TIỂU LUẬN
MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ TIỀN CÔNG VÀ VẬN DỤNG VÀO
CẢI CÁCH CHÍNH SÁCH TIỀN CÔNG Ở VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Đinh Hà Chi
Mã sinh viên : 2411110048
Lớp tín chỉ : TRII115(2425-1)GD2.10
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Đinh Thị Quỳnh Hà
Hà Nội, 12/2024

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ TIỀN CÔNG CỦA C.MÁC...................................4
1.1. Hàng hóa sức lao động...................................................................................4
1.1.1. Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa.................4
1.1.2. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động..................................................4
1.2. Bản chất tiền công dưới chủ nghĩa tư bản......................................................5
1.3. Hai hình thức cơ bản của tiền công trong chủ nghĩa tư bản...........................6
1.3.1. Tiền công tính theo thời gian.......................................................................6
1.3.2. Tiền công tính theo sản phẩm......................................................................7
1.4. Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế.....................................................8
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền công............................................................9
1.5.1. Các nhân tố thuộc về công việc...................................................................9
1.5.2. Các nhân tố thuộc về người lao động..........................................................9
1.5.3. Các nhân tố thuộc về công ty....................................................................10
1.5.4. Các nhân tố thuộc về xã hội......................................................................11
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN CÔNG Ở VIỆT
NAM....................................................................................................................13
2.1. Thực tế chính sách tiền công ở Việt Nam hiện nay......................................13
2.2. Kiến nghị đổi mới.........................................................................................14
KẾT LUẬN.........................................................................................................16
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................17
MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, vấn đề tiền công là một trong
những yếu tố quan trọng nhất trong việc tăng năng suất lao động và duy trì sự
phát triển kinh tế bền vững. Tiền công được biểu hiện bề ngoài là công nhân bán
sức lao động cho tư bản và được trả công cho toàn bộ sức lao động, công nhân
2

không bị bóc lột. Tuy nhiên, sau khi phân tích tiền công trong chủ nghĩa tư bản
sẽ vạch trần được bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tiền công cũng đóng vai trò quan
trọng trong chi phí sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh
nghiệp. Do đó, để hoạt động tốt và cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp
cần có đội ngũ lao động với trình độ và năng lực làm việc cao.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số bất cập trong thực trạng tiền lương ở
Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều lần cải cách nhưng việc gia tăng năng suất lao
động không phải là điều dễ dàng do các giới hạn về sức khỏe và thời gian vật lsy
của con người, cũng như những hậu quả của đại dịch Covid-19 để lại. Việc tăng
tiền công cho người lao động sẽ là giải pháp quan trọng giúp đảm bảo quyền lợi
của người lao động và đồng thời nâng cao năng suất lao động để ngành kinh tế
phát triển bền vững.
Thực tế, tiền công của người lao động tại nhiều doanh nghiệp ở Việt
Nam còn chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu của người lao động. Nâng cao
tiền công thực tế của người lao động Việt Nam là một nhiệm vụ cấp bách cần
được thực hiện đầy đủ. Với ý nghĩa trên, em đã lựa chọn đề tài “Lý luận của
C.Mác về tiền công và vận dụng vào cải cách chính sách tiền công ở Việt
Nam”. Qua nghiên cứu đề tài, em muốn mọi người hiểu rõ định nghĩa về tiền
công, thấu hiểu được mối quan hệ giữa tiền công và người lao động, giúp người
đọc có cái nhìn tổng quan và toàn diện hơn về quá trình cải cách tiền công ở
Việt Nam hiện nay. Do kiến thức bản thân còn hạn chế nên bài viết không thể
tránh khỏi nhiều thiếu sót, em kính mong nhận được sự góp ý của giảng viên
cùng toàn thể bạn đọc!
3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ TIỀN CÔNG CỦA C.MÁC
1.1. Hàng hóa sức lao động
1.1.1. Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Sức lao động là toàn bộ năng lực và thể chất tồn tại trong cơ thể, trong một
con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra
một giá trị sử dụng nào đó.
Sức lao động là yếu tố cơ bản của mọi quá trình sản xuất ở mọi thời đại,
nhưng không phải khi nào nó cũng là hàng hóa. C.Mác đã chỉ ra hai điều kiện để
sức lao động trở thành hàng hóa:
Thứ nhất, người chủ sức lao động phải có khả năng chi phối sức lao động
ấy, do đó, người ấy phải tự do sở hữu và có quyền bán sức lao động của mình
trong một khoảng thời gian nhất định.
Thứ hai, người có sức lao động không đủ tư liệu sản xuất cần thiết để có thể
tự kết hợp với sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, nên họ phải bán
sức lao động.
1.1.2. Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động gồm hai thuộc tính, là giá trị sử dụng và giá trị
Thứ nhất, giá trị của hàng hóa sức lao động: Được đo gián tiếp bằng giá trị
của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia đình
anh ta. Giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó
bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử. Nó được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả
sức lao động hay còn gọi là tiền công. Giá trị hàng hóa sức lao động có xu
hướng tăng do sản xuất ngày càng phát triển, nhu cầu về lao động phức tạp tăng,
nhu cầu tư liệu sinh hoạt tăng theo đà tiến bộ của lực lượng sản xuất. Xu hướng
giảm giá trị hàng hóa sức lao động do năng suất lao động tăng nên giá cả các tư
liệu sinh hoạt, dịch vụ giảm.
Thứ hai, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động: Giá trị sử dụng của
hàng hóa sức lao động được thể hiện ở quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là
quá trình lao động của người công nhân để sản xuất ra một hàng hóa, một dịch
vụ nào đó. Quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động khác với quá trình tiêu
dùng hàng hóa thông thường vì hàng hóa thông thường thì sau quá trình sử dụng
cả giá trị và giá trị sử dụng đều mất đi. Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức
lao động lại là quá trình sản xuất một hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình
4

sáng tạo ra giá trị mới, tức là có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó.
Đó chính là đặc điểm riêng chỉ có ở hàng hóa sức lao động.
1.2. Bản chất tiền công dưới chủ nghĩa tư bản
Bản chất, nguồn gốc và những thủ đoạn chiếm đoạt giá trị thặng dư đã được
phân tích. Nhưng giá trị thặng dư lại có mối liên hệ chặt chẽ với tiền công. Vì
vậy, sự nghiên cứu về tiền công của C.Mác một mặt có tác dụng hoàn chỉnh lý
luận giá trị thặng dư, nhưng mặt khác lại góp phần tạo ra một lý luận độc lập về
tiền công.
Biểu hiện bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà
tư bản một thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành
một số công việc nào đó thì nhà tư bản trả cho công nhân một số tiền nhất định
gọi là tiền công. Hiện tượng đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá
cả của lao động. Sự thật thì tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao
động, vì lao động không phải là hàng hóa. Sở dĩ như vậy là vì:
- Nếu lao động là hàng hóa, thì nó phải có trước, phải được vật hóa trong
một hình thức cụ thể nào đó. Tiền đề để cho lao động vật hóa được là phải có tư
liệu sản xuất. Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ phải bán
hàng hóa do mình sản xuất ra, chứ không bán “lao động”.
- Việc thừa nhận lao động là hàng hóa dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về
lý luận sau đây:
Thứ nhất, nếu lao động là hàng hóa và nó được trao đổi ngang giá, thì nhà
tư bản không thu được lợi nhuận (giá trị thặng dư); điều này phủ nhận sự tồn tại
thực tế của quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản.
Thứ hai, còn nếu “hàng hóa lao động” được trao đổi không ngang giá để có
giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì phải phủ nhận quy luật giá trị.
- Nếu lao động là hàng hóa, thì hàng hóa đó cũng phải có giá trị. Nhưng lao
động là thực thể và là thước đo nội tại của giá trị, bản thân lao động thì không có
giá trị. Vì thế, lao động không phải là hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà
tư bản chính là sức lao động. Do đó, tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân
là giá cả của sức lao động.
Vậy bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện
bằng tiền của giá trị sức lao động, hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu
hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động. Giả định theo hợp đồng lao động,
người lao động làm việc trong 12 giờ và nhận được 3 USD, dường như 3 USD
5

