intTypePromotion=1

Báo cáo " Về hệ thống pháp luật "

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
43
lượt xem
5
download

Báo cáo " Về hệ thống pháp luật "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự cần thiết của tính quyền lực nhà nước trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự và việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong quá trình này là tất yếu bởi đây là điều kiện không thể thiếu để các cơ quan tiến hành tố tụng có thể đạt được mục đích quy định tại Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Do đó, khi tham gia vào quá trình tố tụng hình sự, một số chủ thể của quá trình này, nhất là người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam,...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo " Về hệ thống pháp luật "

  1. nghiªn cøu - trao ®æi TS. BïI KI£N §IÖN * 1. Sự cần thiết của tính quyền lực nhà điều tra viên, viện trưởng, phó viện trưởng nước trong quan hệ pháp luật tố tụng hình viện kiểm sát, kiểm sát viên, chánh án, phó sự và việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế chánh án toà án, thẩm phán, hội thẩm trong trong quá trình này là tất yếu bởi đây là phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn điều kiện không thể thiếu để các cơ quan trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp tiến hành tố tụng có thể đạt được mục đích pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra quy định tại Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự tính hợp pháp và sự cần thiết của những (BLTTHS). Do đó, khi tham gia vào quá biện pháp đã áp dụng, kịp thời huỷ bỏ hoặc trình tố tụng hình sự, một số chủ thể của thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy quá trình này, nhất là người bị bắt, người bị có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo... có thể bị thiết nữa”. Theo đó, trách nhiệm của chủ hạn chế hoặc tạm thời bị tước bỏ một số thể tố tụng trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân được pháp luật các quyền cơ bản của công dân cần được bảo hộ như quyền bất khả xâm phạm về hiểu với hai nội dung sau: thân thể, quyền tự do đi lại, quyền đối với Thứ nhất, khi giải quyết vụ án hình sự, các chủ thể tiến hành tố tụng phải có thái độ tài sản... Nhưng sự hạn chế hay tạm thời tôn trọng các quyền cơ bản của công dân và tước bỏ những quyền đó của họ phải dựa có trách nhiệm đảm bảo không để xảy ra trên cơ sở quy định của pháp luật và phục những hành vi có tính chất xâm hại các vụ quá trình điều tra, xử lí vụ án theo trình quyền đó. Khi tiến hành các hành vi tố tụng, tự, thủ tục luật định. nhất là các hành vi có tính cưỡng chế cao, Nhằm bảo đảm cho các hoạt động tố có hệ quả đi kèm là làm hạn chế hoặc tạm tụng hình sự đi đúng hướng, loại trừ mọi sự thời tước bỏ một hay một số quyền công hạn chế hoặc xâm phạm trái pháp luật các dân của đối tượng bị áp dụng như bắt, tạm quyền cơ bản của công dân BLTTHS đã giữ, tạm giam, khám xét… thì các chủ thể quy định nguyên tắc “Tôn trọng và bảo vệ tiến hành tố tụng phải triệt để tuân thủ mọi các quyền cơ bản của công dân” với nội dung như sau: “Khi tiến hành tố tụng, thủ * Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Trường Đại học Luật Hà Nội t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 3
  2. nghiªn cøu - trao ®æi quy định có liên quan của pháp luật tố tụng Thứ hai, mọi hành vi của các chủ thể tiến hình sự, không được có những hành vi hành tố tụng hạn chế hoặc xâm phạm trái “vượt quá” đối với họ như hành vi đánh đập pháp luật các quyền cơ bản của công dân đều người bị bắt khi bắt người; hành vi huỷ hoại phải bị xử lí nghiêm khắc theo quy định của tài sản của đương sự khi khám xét chỗ ở pháp luật. Việc nghiêm khắc xử lí này là hoặc hành vi bức cung khi hỏi cung bị can, nhằm đảm bảo sự công bằng của pháp luật, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại... ngăn chặn không để xảy ra những hành vi Đồng thời, khi phát hiện có hành vi xâm tương tự trong thực tế tố tụng. Do vậy, Điều phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của 12 BLTTHS đã quy định: “Trong quá trình công dân, các chủ thể tiến hành tố tụng trong tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, phạm vi quyền hạn của mình có nghĩa vụ người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh phải sử dụng những phương tiện pháp lí phù thực hiện những quy định của pháp luật và hợp để khắc phục ngay như thủ trưởng cơ phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quan điều tra phải thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định của mình. Người làm trái pháp quyết định không có căn cứ hoặc trái pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều luật của phó thủ trưởng cơ quan điều tra và tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tuỳ theo điều tra viên; viện kiểm sát phải ra quyết tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lí kỉ luật định huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”. hoặc trái pháp luật của cơ quan điều tra; Theo đó, hành vi xâm phạm trái pháp khởi tố về hình sự khi hành vi của điều tra luật các quyền cơ bản của công dân khi tiến viên có dấu hiệu tội phạm;... Ngoài ra, chủ thể tiến hành tố tụng còn hành tố tụng hình sự có thể bị coi là tội có nghĩa vụ thường xuyên kiểm tra không phạm và người thực hiện hành vi đó phải bị chỉ tính hợp pháp mà cả tính hợp lí của các truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều biện pháp mà mình đã áp dụng để có hình tương ứng của Bộ luật hình sự: Tội bắt, giữ thức xử lí phù hợp, khắc phục kịp thời hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123); những hành vi trái pháp luật hoặc kịp thời Tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều huỷ bỏ việc hạn chế các quyền cơ bản của 124); Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn công dân khi thực tế giải quyết vụ án hình thư tín, điện thoại, điện báo của người khác sự cho thấy điều đó không còn cần thiết. Ví (Điều 125); Tội xâm phạm quyền khiếu nại, dụ: huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam tố cáo của công dân (Điều 132); Tội lạm hoặc thay thế biện pháp này bằng biện pháp dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn như bảo (Điều 280); Tội truy cứu trách nhiệm hình lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú khi thấy việc sự người không có tội (Điều 293); Tội ra tiếp tục tạm giam đối tượng là vi phạm pháp bản án trái pháp luật (Điều 295); Tội ra luật hoặc không còn cần thiết. quyết định trái pháp luật (Điều 296); Tội 4 t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011
  3. nghiªn cøu - trao ®æi dùng nhục hình (Điều 298); Tội bức cung bằng chứng giả, mua chuộc hoặc đe doạ, (Điều 299); Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án khống chế người làm chứng, người bị hại,... (Điều 300); Tội lợi dụng chức vụ, quyền Đồng thời, không ít công dân liên quan đến hạn giam, giữ người trái pháp luật (Điều vụ án, nhất là người bị hại, người làm 303); Tội vi phạm việc niêm phong, kê biên chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự tài sản (Điều 310). khi tham gia tố tụng thường tỏ thái độ thiếu 2. Trách nhiệm của chủ thể tiến hành tố thiện chí hoặc bất hợp tác với cơ quan tiến tụng phải tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ hành tố tụng mà biểu hiện chủ yếu là không bản của công dân là tư tưởng nhất quán chịu có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan được thừa nhận trong các văn bản pháp luật tiến hành tố tụng và khai báo không trung tố tụng hình sự Việt Nam từ trước đến nay. thực... Do đó, nhằm ngăn chặn tội phạm Cơ sở khoa học của vấn đề này nằm ở đang hoặc sẽ xảy ra cũng như tạo thuận lợi chính bản chất và mục đích của quá trình tố cho quá trình giải quyết vụ án, việc các chủ tụng hình sự. Về bản chất, giải quyết vụ án thể tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện hình sự là quá trình nhận thức của các chủ pháp cưỡng chế tố tụng hình sự mà hậu quả thể tiến hành tố tụng về sự kiện vật chất đặc của nó là tước bỏ tạm thời hoặc hạn chế ở thù đã xảy ra trong quá khứ (vụ phạm tội) mức độ nhất định một hay một số quyền cơ thông qua những dấu vết mà sự kiện đó để bản của công dân đối với những người lại ở môi trường vật chất và ý thức con phạm tội hoặc người có hành vi cản trở quá người. Hoạt động này có tính phức tạp cao trình điều tra vụ án là cần thiết. Tuy nhiên, mà mức độ của nó không chỉ phụ thuộc vào sự hạn chế hoặc tước bỏ đó sẽ không còn các yếu tố chủ quan thuộc về nội lực của được coi là hợp lí và cần thiết khi không chủ thể trên mà cả những yếu tố khách quan xuất phát từ yêu cầu giải quyết khách quan như tính phức tạp của bản thân sự kiện vụ án, không dựa trên những cơ sở pháp lí phạm tội đã xảy ra, chất và lượng thông tin tố tụng hình sự. Công lí tuy là đích đến cuối mà sự kiện đó để lại trong thế giới khách cùng của tố tụng hình sự nhưng không thể quan, thái độ hợp tác của các chủ thể khác chấp nhận việc đạt mục đích đó bằng mọi có liên quan, nhất là chủ thể của tội phạm. giá. Cho nên, khi quyết định áp dụng các Thực tiễn tố tụng hình sự cho thấy trong hành vi tố tụng cụ thể, nhất là các biện pháp phần lớn các trường hợp, chủ thể của tội cưỡng chế tố tụng với những người tham phạm sau khi thực hiện hành vi nguy hiểm gia tố tụng, các chủ thể tiến hành tố tụng cho xã hội thường tìm mọi cách cản trở việc cần cân nhắc kĩ lưỡng yêu cầu cụ thể của xác định sự thật vụ án của cơ quan có thẩm thực tiễn tố tụng đặt ra, sự tương thích giữa quyền bằng những hình thức khác nhau như tính trở ngại cần khắc phục và khả năng loại bỏ trốn, tiêu huỷ chứng cứ của vụ án, tạo trừ trở ngại đó của biện pháp cưỡng chế t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 5
  4. nghiªn cøu - trao ®æi được lựa chọn, khả năng tác động không tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách mong muốn của nó đối với những giá trị nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” (Đoạn 1 quan trọng liên quan, nhất là các quyền và Điều 10 BLTTHS). Trong khi đó, phần lớn lợi ích hợp pháp của đối tượng áp dụng. các hành vi tố tụng mà chủ thể tiến hành tố Đảm bảo lợi ích tố tụng và tôn trọng, bảo vệ tụng áp dụng trong thực tế đều giống nhau ở các quyền cơ bản của công dân trong quá một điểm là có tính chất cưỡng chế khá cao. trình giải quyết vụ án hình sự mặc dù không Việc thực hiện các hành vi này, như đã phải là những yêu cầu có tính chất mâu khẳng định ở phần trên, trong thực tế đều có thuẫn hoặc phủ định nhau nhưng là vấn đề thể dẫn đến hệ quả tất yếu là tạm thời tước hoàn toàn không đơn giản, bởi nếu chủ thể bỏ hoặc làm hạn chế một hoặc một số quyền tiến hành tố tụng quá thiên lệch cho một cơ bản của công dân. Sự tước bỏ hoặc làm yêu cầu nào đó thì yêu cầu thứ hai sẽ bị ảnh hạn chế này chỉ được coi là hợp lí và hợp hưởng xấu, thậm chí không thể hiện thực pháp khi nó nằm trong những giới hạn mà hoá trong thực tế. Nói cách khác, việc đạt pháp luật tố tụng hình sự cho phép. Ngoài ra, được sự hài hoà giữa yêu cầu đảm bảo lợi hành vi “vượt quá” của chủ thể tiến hành tố ích tố tụng và tôn trọng, bảo vệ các quyền tụng khi thực hiện hầu hết các hành vi tố cơ bản của công dân cần được đề cao và tụng còn có thể khiến cho một số quyền cơ thực hiện nghiêm túc trong thực tiễn giải bản của đối tượng bị áp dụng các biện pháp quyết vụ án hình sự. đó (mà theo logic thông thường không thể bị Việc quy định trách nhiệm của cơ quan tổn thương nếu chủ thể áp dụng thực hiện tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đúng chức trách của mình), cũng có thể bị phải tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản xâm hại. Điều đó thường dễ xảy ra trong của công dân khi giải quyết vụ án hình sự thực tế áp dụng một số biện pháp ngăn chặn còn có cơ sở thực tiễn và thể hiện ở những hoặc điều tra có tính nghiêm khắc cao như góc độ cụ thể sau: bắt, tạm giam, khám xét… Thứ nhất, việc thực hiện các hành vi tố Thứ hai, công dân khi tham gia tố tụng tụng để xác lập chân lí khách quan của vụ hình sự với các tư cách tố tụng khác nhau án làm cơ sở cho việc thiết lập công lí được hầu như không có khả năng thực tế tự mình pháp luật trao quyền cho các cơ quan tiến ngăn chặn hoặc khắc phục kịp thời những hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp chủ thể này “… phải áp dụng mọi biện của mình do chủ thể tiến hành tố tụng thực pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ hiện. Quyền uy là phương pháp điều chỉnh án một cách khách quan, toàn diện và đầy đặc trưng trong quan hệ pháp luật tố tụng đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội hình sự. Theo đó, chủ thể tiến hành tố tụng và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết có quyền thay mặt nhà nước yêu cầu các 6 t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011
  5. nghiªn cøu - trao ®æi chủ thể khác triệt để phục tùng mọi mệnh cao độ trong việc lựa chọn và áp dụng các lệnh của mình, không phụ thuộc vào cảm biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự đối với nhận, đánh giá chủ quan của họ về tính hợp những người tham gia tố tụng khi giải quyết lí của các mệnh lệnh đó mặc dù sau này vụ án hình sự. Thực tế cho thấy việc giải (chứ không phải ngay khi ấy) họ được quyết các vụ án hình sự gặp nhiều khó quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi trái khăn, thậm chí trong nhiều trường hợp pháp luật của chủ thể tiến hành tố tụng theo không thể đạt được mục đích tố tụng nếu trình tự, thủ tục được quy định tại Chương thiếu các biện pháp cưỡng chế tố tụng như XXXV BLTTHS. Ngoài ra, các yếu tố thực bắt, tạm giữ, tạm giam, kê biên tài sản, tế khác khi hành vi tố tụng được thực hiện khám xét, dẫn giải, áp giải... Những biện như tương quan lực lượng, địa điểm tiến pháp này là phương tiện hữu hiệu giúp các hành, trạng thái tâm lí của người bị áp dụng chủ thể tiến hành tố tụng kịp thời ngăn chặn biện pháp cưỡng chế tố tụng... cũng là tội phạm đang hoặc sẽ xảy ra cũng như những trở ngại lớn không thể khắc phục để khắc phục hành vi cản trở công lí của những những người này có thể tự bảo vệ mình an người tham gia tố tụng thiếu thiện chí. toàn tuyệt đối khỏi khả năng bị xâm hại khi Nhưng khi các biện pháp đó được áp dụng, tham gia tố tụng. Như vậy, việc các quyền như đã đề cập ở phần trên, do tính chất cơ bản của công dân được tôn trọng và bảo cưỡng chế khá cao vốn có, chúng luôn tạo vệ hay không và ở mức độ nào khi họ tham ra hệ quả tất yếu không mong muốn đối với gia tố tụng hoàn toàn không phụ thuộc vào cả chủ thể áp dụng và đối tượng bị áp dụng họ mà phụ thuộc vào những người có quyền là tạm thời tước đi hoặc hạn chế một số thay mặt nhà nước giải quyết vụ án hình sự quyền công dân cơ bản của đối tượng bị áp và có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng dụng như quyền bất khả xâm phạm về thân chế tố tụng với họ khi có những căn cứ do thể; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an BLTTHS quy định. toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín; 3. Việc quy định trong BLTTHS trách quyền tự do đi lại... Đây là những quyền nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng con người thiêng liêng của mỗi công dân phải tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản mà pháp luật của bất kì quốc gia văn minh của công dân có ý nghĩa quan trọng nhiều nào cũng đều thừa nhận và bảo hộ. Việc mặt không chỉ đối với thực tiễn đấu tranh BLTTHS Việt Nam chính thức quy định chống và phòng ngừa tội phạm mà cả đối trách nhiệm của các chủ thể tiến hành tố với công tác đối nội và đối ngoại của đất tụng phải tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ nước. Cụ thể: bản của công dân khi giải quyết vụ án hình - Nguyên tắc trên đòi hỏi các chủ thể sự sẽ buộc các chủ thể này luôn phải cẩn tiến hành tố tụng phải có thái độ cẩn trọng trọng khi quyết định lựa chọn và áp dụng t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 7
  6. nghiªn cøu - trao ®æi các hành vi tố tụng. Các chủ trên luôn phải tiến hành tố tụng không có sự lựa chọn nào xem xét kĩ lưỡng không chỉ tính hợp pháp khác. Khi sự cần thiết đó không còn nữa mà cả tính hợp lí của việc áp dụng các hành hoặc khi thấy việc áp dụng những biện pháp vi đó trong thực tế bởi họ biết rằng phải đó là trái với quy định của pháp luật thì các chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về cơ quan này phải kịp thời thay đổi hoặc huỷ sự lựa chọn của mình và sự vi phạm nguyên bỏ những biện pháp đã áp dụng. Ví dụ: Một tắc này không chỉ gây ra những hậu quả xã người chỉ bị tạm giữ - bị hạn chế về quyền hội nghiêm trọng mà chính họ cũng phải tự do thân thể khi họ là người được quy gánh chịu những hậu quả pháp lí nặng nề định tại khoản 1 Điều 86 BLTTHS và khi nhất định. Trong BLTTHS có nhiều quy thấy rằng việc tạm giữ đó là cần thiết cho định cụ thể hoá tư tưởng tiến bộ đó. Ví dụ: hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ Theo quy định tại Điều 4 BLTTHS thì khi những tình tiết của hành vi phạm tội, căn tiến hành tố tụng, thủ trưởng, phó thủ cước lí lịch, nhân thân người bị bắt để có cơ trưởng cơ quan điều tra, điều tra viên, viện sở quyết định việc khởi tố hay không khởi trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát, kiểm tố bị can, tạm giam hay trả tự do cho người sát viên, chánh án, phó chánh án toà án, bị bắt. Trong trường hợp việc áp dụng biện thẩm phán, hội thẩm phải có trách nhiệm pháp này không đúng đối tượng hay khi "thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự thấy việc tạm giữ là không cần thiết thì viện cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kiểm sát phải ra quyết định huỷ bỏ lệnh tạm kịp thời huỷ bỏ hoặc thay đổi những biện giữ và trả tự do ngay cho người bị tạm giữ pháp đó, nếu xét thấy có sự vi phạm pháp (khoản 3 Điều 86 BLTTHS). Tương tự như luật hoặc không còn cần thiết nữa". Điều đó vậy, trong trường hợp tính cần thiết của có nghĩa là trong các giai đoạn tố tụng hình việc áp dụng biện pháp tạm giam không còn sự, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án nữa hoặc khi đã hết hạn tạm giam theo luật có quyền áp dụng những biện pháp cưỡng định thì biện pháp này sẽ bị huỷ bỏ hoặc chế đối với bị can, bị cáo; có quyền hạn chế nếu xét thấy cần thì áp dụng biện pháp ngăn một số quyền của họ nhưng việc áp dụng chặn khác (Điều 94 BLTTHS). Biện pháp những biện pháp cưỡng chế tố tụng chỉ cưỡng chế kê biên tài sản cũng chỉ được áp được coi là cần thiết, là hợp lí khi điều đó dụng đối với những đối tượng quy định tại xuất phát từ yêu cầu của thực tế điều tra, đoạn 1 khoản 1 Điều 146 BLTTHS và "khi giải quyết vụ án. Nói cách khác, việc áp xét thấy việc kê biên không còn cần thiết thì dụng những biện pháp đó trong những tình người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 huống tố tụng cụ thể được coi là giải pháp Điều này phải kịp thời ra quyết định huỷ bỏ cần thiết đảm bảo cho quá trình này đạt lệnh kê biên" (khoản 4 Điều 146 BLTTHS). được mục đích của mình và các cơ quan Kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những 8 t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011
  7. nghiªn cøu - trao ®æi biện pháp đã áp dụng khi thấy không còn hạn chế đó mặc dù đã được pháp luật tố tụng cần thiết hoặc vi phạm pháp luật là cách xử hình sự quy định cụ thể nhưng sự lạm quyền lí đúng đắn mà pháp luật đòi hỏi các chủ thể hoặc vượt quá giới hạn cho phép từ phía chủ tiến hành tố tụng phải thực hiện nhằm bảo thể tiến hành tố tụng là điều hoàn toàn có thể vệ các quyền cơ bản của công dân khỏi sự xảy ra. Trong những trường hợp đó, phương hạn chế hoặc xâm hại trái pháp luật. Khi tiện pháp lí hiệu quả nhất, duy nhất mà họ có các quyền cơ bản của công dân bị hạn chế thể sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp hoặc xâm hại trái pháp luật thì điều đó pháp của mình là yêu cầu chủ thể tiến hành không chỉ là sự phản ánh không đúng bản tố tụng thực hiện đúng trách nhiệm phải tôn chất của tố tụng hình sự Việt Nam mà còn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công làm cho quá trình đó không thể đạt được dân được quy định tại Điều 4 BLTTHS hiện mục đích. Vì vậy, những hành vi này khi hành hoặc khiếu nại, tố cáo hành vi trái pháp được phát hiện phải kịp thời huỷ bỏ hoặc luật đó của họ theo trình tự, thủ tục được quy thay thế bằng biện pháp khác mà pháp luật định tại Chương XXXV BLTTHS. cho phép đồng thời đối với những người đã 4. Thời gian gần đây, cùng với việc thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm nâng cao chất lượng của hoạt động khởi tố, trước pháp luật tuỳ theo tính chất, mức độ điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự, của sự vi phạm. Đây có thể coi là phương tình hình xâm phạm quyền và lợi ích hợp tiện hữu hiệu để đảm bảo cho nguyên tắc pháp của công dân trong tố tụng hình sự trên được thực hiện tốt trong quá trình tố được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, tình tụng hình sự. trạng tiêu cực nêu trên vẫn chưa được chấm - Việc quy định nguyên tắc trách nhiệm dứt triệt để. Số người bị oan, sai (và điều đó của các chủ thể tiến hành tố tụng trong việc đồng nghĩa với việc quyền và lợi ích hợp tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của pháp của họ, trong đa số các trường hợp, bị công dân còn là cơ sở pháp lí để những hạn chế hoặc tạm thời tước bỏ không có căn người tham gia tố tụng bảo vệ hiệu quả các cứ thực tế) hàng năm vẫn còn ở mức khá quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi cao. Nguyên nhân của tình trạng trên có tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình nhiều nhưng theo chúng tôi, nguyên nhân sự, những người tham gia tố tụng, tuỳ thuộc khách quan cơ bản là do sự chưa hoàn thiện tư cách tố tụng của họ và khi có căn cứ luật của không ít quy định trong hệ thống pháp định, có thể bị chủ thể tiến hành tố tụng áp luật tố tụng hình sự hiện hành và nguyên dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng cụ thể. nhân chủ quan chủ yếu là do trình độ, nhận Khi đó, việc thực hiện một số quyền cơ bản thức chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của họ sẽ bị hạn chế ở mức độ và trong của một bộ phận chủ thể tiến hành tố tụng. khoảng thời gian nhất định. Giới hạn của sự Vì vậy, chúng tôi đề xuất: t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 9
  8. nghiªn cøu - trao ®æi Về việc sửa đổi, bổ sung một số nội đình người đã bị bắt hay những người khác dung của BLTTHS mà người đó lựa chọn, chính quyền xã, - Bổ sung vào Điều 12 BLTTHS trách phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi nhiệm bồi thường thiệt hại đối với các chủ thể người đó cư trú hoặc làm việc biết. Đối với tiến hành tố tụng đã có hành vi xâm hại trái người bị bắt là người nước ngoài thì người pháp luật quyền và lợi ích hợp pháp của công ra lệnh bắt, cơ quan điều tra nhận người bị dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. bắt phải thông báo ngay cho lãnh sự quán Theo tinh thần trên, Điều 12 BLTTHS nên hoặc ngoại giao đoàn của quốc gia mà sửa lại như sau: "Người làm trái pháp luật người đó là công dân hoặc tổ chức liên trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, chính phủ liên quan”. truy tố, xét xử, thi hành án thì tuỳ theo tính - Bổ sung vào sau đoạn 1 khoản 2 Điều chất, mức độ vi phạm phải chịu trách nhiệm 146 BLTTHS nội dung sau: "Không kê biên dân sự, hành chính hoặc hình sự". những tài sản thuộc loại không được kê - Sửa lại khoản 1 Điều 58 BLTTHS như biên quy định tại Điều 87 Luật thi hành án sau: "Người bào chữa tham gia tố tụng từ dân sự". khi có quyết định tạm giữ hoặc quyết định - Sửa lại đoạn 3 khoản 1 Điều 258 khởi tố bị can" để bao quát được quyền bào BLTTHS như sau: “Trong thời hạn bảy chữa của người bị tạm giữ là người tự thú ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp hoặc đầu thú và bổ sung vào cuối khoản 1 luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân xá Điều 305 BLTTHS cụm từ sau: "…, nếu hoặc ân giảm hình phạt lên Chủ tịch nước” được họ đồng ý". - Bổ sung vào Điều 319 BLTTHS một và bổ sung vào cuối khoản 3 Điều 224 một điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn nữa là “5. đoạn với nội dung sau: “Trong trường hợp Bị can và người đại diện hợp pháp của họ bị cáo bị áp dụng hình phạt tử hình thì phải đồng ý áp dụng thủ tục rút gọn” và bổ sung ghi rõ quyền được gửi đơn xin ân xá hoặc vào khoản 2 Điều 57 BLTTHS một điểm mới ân giảm hình phạt lên Chủ tịch nước trong với nội dung sau: "c. Bị can, bị cáo trong các thời hạn bảy ngày, kể từ ngày bản án có vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn". hiệu lực pháp luật”. - Bổ sung vào Điều 80 BLTTHS một - Bổ sung vào Điều 303 BLTTHS một khoản (khoản 1) với nội dung sau: “1. Bắt khoản (khoản 1) với nội dung sau: “1. Việc bị can, bị cáo để tạm giam được áp dụng khi bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên có căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 chỉ được áp dụng như một biện pháp cuối Điều 88 Bộ luật này”. cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”. - Sửa lại Điều 85 BLTTHS như sau: - Bổ sung các điều 80, 81, 82 của “Người ra lệnh bắt, cơ quan điều tra nhận BLTTHS nội dung: “Không được sử dụng người bị bắt phải thông báo ngay cho gia vũ lực hoặc có hành vi khác xâm phạm tính 10 t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011
  9. nghiªn cøu - trao ®æi mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của đề cao trách nhiệm trong thực hành quyền người bị bắt khi không cần thiết”. công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”. - Bổ sung vào đầu đoạn 2 khoản 2 Điều Hiện tượng trên cũng chưa được khắc phục 132 BLTTHS thủ tục bắt buộc ghi âm cuộc triệt để trong ngành toà án. Báo cáo của hỏi cung trong trường hợp bị can là người ngành toà án năm 2009 cho rằng ở một số nước ngoài, bị can không biết tiếng Việt và thẩm phán, cán bộ của toà án “… tinh thần bị can chưa thành niên. trách nhiệm, ý thức tổ chức kỉ luật, thái độ Về các chủ thể tiến hành tố tụng phục vụ nhân dân chưa tốt nên hiệu quả Thứ nhất, cần nâng cao hơn nữa trình độ công tác còn thấp. Một số cán bộ, thẩm chuyên môn nghiệp vụ của các chủ thể tiến phán thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức hành tố tụng. Việc kiên quyết thực hiện các cách mạng dẫn đến vi phạm kỉ luật của quy định chuẩn hoá về mặt chuyên môn đối ngành hoặc vi phạm pháp luật”. Nhằm khắc với các chức danh tư pháp thời gian qua đã phục những biểu hiện tiêu cực trên, các biện góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất pháp cần được thường xuyên quan tâm thực lượng đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, hiện nghiêm túc là giáo dục ý thức trách thẩm phán. Tuy nhiên, theo Báo cáo tổng nhiệm và đạo đức nghề nghiệp cho các chủ kết công tác của ngành kiểm sát nhân dân thể tiến hành tố tụng cùng với việc bồi năm 2009 thì: “... năng lực trình độ chuyên dưỡng kiến thức pháp luật cũng như chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ, môn, nghiệp vụ… kiểm sát viên, điều tra viên còn hạn chế”. Thứ ba, cần nâng cao nhận thức pháp Tình trạng tương tự ở ngành toà án cũng đã luật cho mọi người dân. Đây được coi là được Báo cáo tóm tắt công tác năm 2009, điều kiện “đủ” để nguyên tắc tôn trọng và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2010 bảo vệ các quyền cơ bản của công dân có của ngành khẳng định là: “Vẫn còn một số thể được hiện thực hoá tối đa trong thực tế thẩm phán, cán bộ toà án hạn chế về năng tố tụng hình sự. Cùng với nhận thức đầy đủ lực, trình độ...”. Do vậy, nâng cao trình độ về nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tiến chuyên môn nghiệp vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án hành tố tụng là việc làm cần thiết hiện nay. hình sự cũng như quyền và nghĩa vụ của Thứ hai, cần nâng cao ý thức trách công dân nói chung, khi tham gia tố tụng nhiệm của các chủ thể tiến hành tố tụng hình sự nói riêng, người dân có thể kịp thời trong việc giải quyết vụ án nói chung, tôn tự bảo vệ mình hoặc bảo vệ người khác trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khỏi sự vi phạm các quyền cơ bản của công công dân nói riêng. Theo báo cáo của ngành dân từ phía cơ quan tiến hành tố tụng bằng kiểm sát năm 2009 thì còn tồn tại hiện những phương tiện phù hợp được pháp luật tượng “một số cán bộ, kiểm sát viên chưa quy định./. t¹p chÝ luËt häc sè 8/2011 11
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2