Báo chí văn chương đầu thế
kỷ XX tại Việt Nam
Nam, nhìn nhn từ cấp độ mô hình
Đã mt s tác phm quan trng v lch s báo chí Việt Nam được in cho
ti nay: sau cun sách m đường ca Huỳnh Văn Tòng, Lch s báo chí Vit Nam
t khi thủy đến 1930[1], trong khong mười năm trở li đây đã xut hin nhng
công trình đồ s như T điển thư tch báo chí Vit Nam ca Nguyn
Thành[2], Lch s báo chí Vit Nam 1865-1945[3], hoc có th k ti nhng cun
sách ca Hng Chương nhưBáo chí Vit Nam (1985) hay Tìm hiu lch s báo chí
Vit Nam (1987), mt cun khác na ca Nguyn Thành, Báo chí cách mng Vit
Nam (1925-1945) (1984).
một điều dễ nhận thấy là báo chí văn chương chưa có được các nghiên cu lớn,
bao quát, cặn kẽ. Để tìm hiu về mảng này thể dựa vào một số điểm tựa sau: thứ
nhất, những trang mà các bn học sử nh để viết về báo chí. Những bộ văn học
sử nghiêm túc đều không thể bỏ qua mảng báo chí vô cùng quan trng, nhưng cũng
thường xuyên chỉ coi đây là một khía cạnh nhỏ, i lên đời sống văn học nhiu hơn
là giá tr với cách là tác phẩm văn cơng. Trong scác tác gichuyên viết
lch sử n học, người để m nhiều nhất tới báo chẳn là linh mục Thanh ng:
ngoài b sách ln Bảng ợc đồ văn học Việt Nam[4], ông n một số bộ sách
đặc biệt tập trung vào báo chí, nhất là Phê bình văn học thế hệ 1932[5] và bsách
in sau khi mất, 13 năm tranh luận văn học[6]. Thhai, các sưu tập mà thực chất là
in lại nội dung báo cthời trước, chẳng hạn như 13 năm tranh luận văn học vừa
nói ở trên in lại các bài báo quan trọng trên Phụ nữ tân văn, Nội báo, Ích hữu
với một dung lượng lớn xoay quanh cuộc cãi xung quanh Phong hóa; mng
này còn có thể kể tên các bộ sưu tập Tao đàn, Tri tân được thực hiện gần đây, hoặc
mới và hết sức quan trọng đối với bài viết này, bch Phan Ki tác phẩm đăng
báo[7]. Thba, các ng trình mang tính chức năng, ng cmà ni tiếng hơn cả
là Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong (1917-1934)[8]. Thtư, các hồi ký của
những người trong cuộc, chẳng hạn nhưBn mươi năm nói láo (1969) ca Vũ Bằng
hay gn đây hơn là Hồi Thanh Nghị[9]. Cũng mảng hi này n phải tính
đến rất nhiều hồi ức, knim viết trên báo, rất hiếm khi được in thành ch; chng
hạn như muốn tìm hiu về Phong hóa thì cn phải đọc trên chính Phong hóa các s
kniệm, muốn tìm hiểu về tạp c Văn cũng phải đọc trên chính Văn những k
đặc biệt như Đệ tứ chu niên” hoặc Đệ bát chu niên”, hoặc có những bài viết
không dtìm như loạt bài “T1927 đến 1937 Mười năm làng o Sài Gòn” của
Ngọa Long đăng trên nht báo Đuốc Nhà Nam, Sài n, ttháng Chín 1969, bài
Thnhìn qua 100 năm báo chí. Báo cm qua (1865-1965)” của Nguiễn Ngu Í,
tạp chí Bách khoa, 217, 15/1/1966.
Như vậy, thể thấy rằng mặc dù một lịch sử vô cùng phong phú, báo cViệt
Nam vn rơi vào tình trng kng được biết tới đầy đủ, có ít nghiên cu, và nghiên
cứu cũng thường xuyên đi theo hướng lập ttịch, u tầm in lại, cũng kng my
khi phân chia lĩnh vực để nghiên cu u, như báo chí văn chương chẳng hạn; lĩnh
vực hẹp duy nhất đã được khảo sát tương đối kỹ là báo chí cách mạng. Các hồi
rất nhiều và cũng là một nguồn thông tin hết sức hữu ích, nhưng nhiều khi mức
độ khả tín của chúng cũng kng hoàn toàn được đảm bảo. Việc nhầm lẫn, bỏ sót
trong nghiên cu báo chí cũng thường xuyên được nêu lên[10].
Nhưng thiếu sót lớn hơn cả lẽ nằm chỗ báo chí, trong mối tương quan với văn
học, chưa được nhìn nhận rộng hơn bn thân chúng, điều này cũng đồng nghĩa với
việc chúng chưa được nhìn nhận đúng vi giá trtthân. Sự nối kết giữa i đăng
báo và sách in cũng bị coi nhẹ, chỗ đứng của các tác giả ở thế lưỡng đôi tác giả báo
chí và tác giả sách in ít khi được đề cập. Trong bài viết này, nlực của chúng tôi là
tìm cách nhìn báo cvăn chương mức độ tổng quát, hthống, như mt mô hình
hoạt động với nhiều đặc tính hết sức quan trọng cho việc hiểu cặn kẽ lịch sn
học Việt Nam. Liên quan ti đó là một “mô hình mu” dùng để so sánh của báo chí
văn chương n Pháp, tiếp theo là các hquả của việc vận hành một hình
báo chí như đã thấy, nhất là trong s hình tnh một mẫu tác giả chưa từng có
trong lch svăn học Việt Nam. Điều này cũng là dhiểu, bởi trong qtrình hiện
đại hóa văn học Việt Nam, sự xuất hiện của báo chí tầm mức như ta đã thấy hồi
đầu thế kXX là một đặc điểm rất mới, và không thkng những tác động,
những kết quả đặc biệt.
Vtừ ngữ được sử dụng: đặc biệt cần lưu ý là thuật ngữ o chí văn chương” cn
được hiu rộng hơn một tờ tạp c hoặc một tờ báo chỉ chuyên viết về văn
chương đơn thuần. Trước 1945, gần như không một tờ báo nào chuyên chú
tuyệt đối về văn chương, hiện tượng sau này mi xuất hin như Tạp cVăn học
min Bắc hay các tạp c Văn học vàVăn miền Nam (cả ba đều xuất hiện vào đầu
những năm 1960, tờ đầu tiên vẫn còn tn tại, hai tờ sau đã ngừng t1975). Vấn đ
này đều được c nhà văn học sử xưa nay bàn tới, chẳng hạn như Nguyn Sỹ Tế
trong Việt Namn học nghị luận[11] viết: không những ta phải cứu xét lịch trình
tiến hóa của văn chương, ca ngôn ngữ mà còn phi cu xét lịch trình tiến hóa của
học thuật, của tưởng Việt Nam[12]”. Khái niệm n học” hay n chương”
Việt Nam luôn ln n bản thân n học thun túy”. Cũng Nguyễn Sỹ Tế đã
gọi Đông Dương tạp chí quan văn học đầu tiên bng chữ Quốc ngữ[13]”,
Đông Dương tạp chí hay Nam phong đều không thể coi là thuần túy văn chương
được, mà lớn hơn vy: [v]iết bài khảo cứu và bình lun vvăn học, phiên âm
dch nghĩac sách cũ, sưu tập các thơ n cổ, in các sách quan trọng…[14]”
Mặt khác, các tạp cPháp dùng để so sánh, đối chiếu về mặt hình như trình
bày dưới đây phần nhiều cũng không tính chất chuyên biệt về văn học (tức ch
đăng sáng c bình luận văn học), thường bao gồm cả chính trị, xã hi…
Điều quan trọng là stương đồng nổi bật giữa cách thức tổ chức và vận hành
của các tạp chí ở Pháp và Việt Nam tương đối đồng thời với nhau.