VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ----------

TÂN HƯƠNG HUÊ

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ THEO

PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội, năm 2021

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

----------

TÂN HƯƠNG HUÊ

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM NHÂN THỌ THEO PHÁP

LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI

Ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG

Hà Nội, năm 2021

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) vừa là một hình thức chuyển giao rủi ro, vừa

là một hình thức đầu tư tài chính. Mục tiêu của BHNT là đảm bảo khả năng chi

trả các chi phí tài chính của người thụ hưởng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

đối với người được bảo hiểm (NĐBH). Trong quan hệ BHNT, do hạn chế về

trình độ chuyên môn và khả năng đàm phán trực tiếp với doanh nghiệp bảo

hiểm (DNBH), người mua bảo hiểm thường ở vị thế bất lợi hơn trong việc thỏa

thuận dẫn đến nguy cơ từ chối chi trả bảo hiểm. Vì vậy, các quy định của pháp

luật về bảo vệ người tiêu dùng (người mua BHNT) trở thành yếu tố quan trọng

chi phối đến hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, một số

quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (HĐBHNT) đã không

còn phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam và xu thế phát triển chung của thế giới.

Điều này vừa là rào cản cho sự phát triển của thị trường kinh doanh BHNT,

vừa không bảo đảm được quyền lợi chính đáng của người mua BHNT hoặc

người thụ hưởng bảo hiểm.

Luật kinh doanh bảo hiểm (KDBH) đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã

hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09/12/2000 (sửa

đổi bổ sung năm 2010 và năm 2019) đã đánh dấu một bước tiến quan trọng

trong việc xây dựng pháp luật điều chỉnh lĩnh vực KDBH trong đó có giao dịch

BHNT.

Hiện nay, pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng (NTD) chưa quy định người

mua các sản phẩm BHNT là NTD thực thụ dẫn đến việc bảo vệ quyền lợi cho

họ gặp nhiều bất cập, rất khó khăn khi giải quyết các tranh chấp hoặc vi phạm

xảy ra.

Từ thực tiễn phát sinh, kết quả giải quyết các tranh chấp về BHNT và kết

quả nghiên cứu về thực trạng trên, có thể thấy các nguyên nhân chính ảnh hưởng

đến quyền lợi của NĐBH đó là hệ thống pháp luật về KDBH, quy định về bảo

vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm còn tồn tại nhiều mâu thuẫn, bất cập.

Việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền

1

lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) khi tham gia BHNT là vô cùng cần thiết, có

ý nghĩa cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Xuất phát từ những lý do trên,

tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực

bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai ” làm

luận văn tốt nghiệp cấp học thạc sỹ của mình.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn bảo vệ quyền lợi người tiêu

dùng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, một số công trình nghiên cứu cấp trường, cấp

bộ và các báo cáo chuyên sâu, chi tiết về BHNT như các yếu tố chi phối đến

pháp luật kinh doanh BHNT; đánh giá nội dung pháp luật về kinh doanh BHNT,

bao gồm những ưu điểm và hạn chế của các quy định hiện hành. Việc đánh giá

được thực hiện chi tiết theo cấu trúc của từng bộ phận pháp luật nhằm phát hiện

những bất cập, hạn chế cơ bản của các quy định pháp luật hiện hành; xây dựng

các giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về kinh doanh BHNT nhằm thúc

đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường KDBH, đáp ứng quá trình hội nhập

kinh tế quốc tế. Đơn cử một số công trình nghiên cứu như:

Năm 2001, Nhà xuất bản Thống kê cho tái bản lần thứ nhất cuốn “Một

số điều cần biết về pháp lý trong Kinh doanh Bảo hiểm” của GS.TSKH. Trương

Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh. Trong lần tái bản này, cuốn sách đã bước

đầu đề cập những nguyên tắc pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và

đây có thể coi là cuốn sách đầu tiên của Việt Nam về vấn đề này.

Luận án tiến sỹ “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam,

những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Vũ Hải, trường Đại học

Luật, Hà Nội năm 2014, Luận án tập trung nghiên cứu những quan điểm hiện

hành và từ đó xây dựng nội dung lý luận về pháp luật kinh doanh; Đánh giá

nội dung pháp luật về kinh doanh BHNT, bao gồm những ưu điểm và hạn chế

của các quy định hiện hành. Việc đánh giá được thực hiện chi tiết theo cấu trúc

của từng bộ phận pháp luật nhằm phát hiện những bất cập, hạn chế cơ bản của

các quy định pháp luật hiện hành; Xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật

hiện hành về kinh doanh BHNT; Là công trình chuyên khảo xây dựng hệ thống

lý luận về pháp luật kinh doanh BHNT cũng như đánh giá tương đối toàn diện

2

thực trạng pháp luật hiện hành điều chỉnh lĩnh vực này.

Đề tài Bảo hiểm Nhân thọ theo pháp luật Việt Nam của tác giả Trịnh Thị

Bích Thủy, luận văn thạc sỹ nghành luật năm 2014. Luận văn là một trong

những công trình nghiên cứu chuyên sâu về BHNT theo pháp luật Việt Nam,

làm tài liệu tham khảo rất quý giá cho những công trình nghiên cứu tiếp theo

và trong hoạt động giảng dạy. Bên cạnh đó, những ý kiến đóng góp tích cực

của Luận văn cũng góp phần giải quyết những bất cập hiện tại liên quan đến

vấn đề BHNT. Đồng thời Luận văn cũng tác động đến những nhà làm luật trong

việc ban hành quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp trong BHNT. Ngoài

ra, qua những tranh chấp được phân tích trong luận văn cũng phần nào góp

phần cung cấp những tri thức quý giá cho những người tham gia ký kết hợp

đồng bảo hiểm nhân thọ.

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu liên quan cũng có nhiều

đề xuất, kiến nghị đáng chú ý đã được công bố, như:

Tác giả Phí Thị Quỳnh Nga (2006) trong bài báo “Những bất cập của

điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm” cho

rằng một số quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm cần được sửa đổi vì chưa

bao quát được hết các trường hợp cần điều chỉnh [54]

Tác giả PGS, TS. Hoàng Trần Hậu và ThS. Nguyễn Tiến Hùng (2013)

trong “Giám sát an toàn tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt

Nam” đề xuất giải pháp khắc phục sự khác biệt giữa Chuẩn mực kế toán số 19

và quy định về trích lập dự phòng nghiệp vụ theo Thông tư 125/2012/TT-BTC.

Tác giả Võ Trí Thành & Lê Xuân Sang (2013) trong tác phẩm “Giám

sát hệ thống tài chính: Chỉ tiêu và mô hình định lượng” có đề xuất về xây dựng

mô hình giám sát hợp nhất từ nay đến năm 2020. Tuy nhiên, các tác giả chưa

đề xuất cụ thể các bước thực hiện mục tiêu này.

Qua rà soát, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về BVQLNTD trong

lĩnh vực BHNT hiện nay là rất ít. Phần lớn các công trình nghiên cứu chỉ đề

cập đến pháp luật KDBH, về vấn đề quản lý, kinh doanh của các DNBH, số ít

các công trình nghiên cứu, các bài viết về vấn đề BVQLNTD trong lĩnh vực

3

BHNT cũng chỉ đề cập khái quát.

Việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp

luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT là cần thiết để đảm bảo lợi ích cho

các bên khi tham gia bảo hiểm và góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường

KDBH trong nước. Từ đó cho thấy việc nghiên cứu đề tài "Bảo vệ quyền lợi

NTD trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam hiện nay, thực

tiễn áp dụng tại tỉnh Đồng Nai" là rất cần thiết.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận pháp luật

BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT, đánh giá thực trạng các quy định hiện hành

và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực

BHNT đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện

nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

- Làm rõ một số khía cạnh lý luận pháp luật về BVQLNTD như: Khái

niệm người tham gia bảo hiểm, quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, cấu

trúc pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT.

- Đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về BVQLNTD trong lĩnh vực

BHNT tại Đồng Nai (thực tiễn áp dụng pháp luật của doanh nghiệp BHNT; cơ

quan giám sát, quản lý; cơ quan giải quyết tranh chấp...)

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi

pháp luật để BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh mối quan hệ giữa

người tham gia BHNT và doanh nghiệp kinh doanh BHNT kể từ khi có Bộ Luật

Dân sự năm 2015; Luật KDBH năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm

2019; Luật BVQLNTD năm 2010.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Căn cứ trên các dữ liệu thu thập từ các công trình nghiên cứu, bài viết,

4

số liệu thống kê, tài liệu tham khảo, các báo cáo pháp luật hiện hành về

BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT, tình hình thực tiễn tại tỉnh Đồng Nai được

công bố gần đây.

Luận văn chỉ đề cập và nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn thi

hành pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT ở Việt Nam hiện nay, thực

tiễn áp dụng tại tỉnh Đồng Nai và không nghiên cứu các hình thức KDBH khác.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng

của chủ nghĩa Mác - Lênin dựa trên các quy định pháp luật Việt Nam về bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.

Phương pháp phân tích tổng hợp được dùng để phân tích, lập luận và

tổng hợp những vấn đề lý luận về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT.

Phương pháp so sánh pháp luật được dùng để so sánh quy phạm pháp

luật về BVQLNTD dùng trong lĩnh vực BHNT so với các nước phát triển và

đang phát triển.

Phương pháp thống kê được dùng để thống kê, thu thập dữ liệu báo cáo

thực tế ở địa phương để đánh giá hiệu quả thực hiện về BVQLNTD trong lĩnh

vực BHNT.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Nội dung Luận văn này là nghiên cứu chuyên sâu về BVQLNTD trong

lĩnh vực BHNT ở trình độ thạc sỹ. Kết quả nghiên cứu (sau khi được Hội đồng

thông qua) sẽ làm tài liệu tham khảo cho đối tượng có nhu cầu, tìm hiểu về

BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT dưới góc độ khoa học pháp lý.

Luận văn là công trình nghiên cứu hệ thống lý luận pháp luật về BVQLNTD

trong lĩnh vực BHNT và đánh giá thực tiễn thi hành các quy định đó tại tỉnh Đồng

Nai, từ đó có những giải pháp phù hợp, mang tính khả thi, hạn chế phát sinh

các tranh chấp, vi phạm nhằm BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT trong thời gian

tới.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm có phần mở đầu, nội dung, kết luận và danh mục tài liệu

5

tham khảo. Nội dung của luận văn có 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và thực tiễn thi hành tại tỉnh Đồng Nai.

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao

hiệu quả thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực

6

bảo hiểm nhân thọ.

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM NHÂN THỌ

1.1. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ

1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ

Người tiêu dùng (NTD) là người mua hàng hoá, dịch vụ để trực tiếp sử dụng

hoặc sở hữu.

Kinh doanh bảo hiểm (KDBH) là kinh doanh dịch vụ tài chính, theo đó,

người được hưởng quyền lợi bảo hiểm là người cần được pháp luật bảo hộ.

Pháp luật của các nước về lĩnh vực KDBH không có định nghĩa riêng về quyền

lợi của người được bảo hiểm (NĐBH).

Do đó quyền lợi của NĐBH có thể được nhận diện qua suy luận từ quyền

lợi của NTD hưởng dịch vụ của nhà kinh doanh. Người tiêu dùng trong lĩnh

vực BHNT có thể là bên mua bảo hiểm (BMBH), NĐBH hoặc người thụ hưởng.

Từ phân tích trên ta có thể kết luận rằng quyền lợi của NTD trong lĩnh vực

BHNT chính là quyền lợi của BMBH, NĐBH hoặc người thụ hưởng.

Bên mua bảo hiểm (BMBH) được hiểu là NTD theo đúng định nghĩa về

NTD hiện hành.

1.1.2. Khái niệm và sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong

lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) trong lĩnh vực BHNT

gắn liền với ý tưởng về quyền NTD và với sự thành lập của các tổ chức

BVQLNTD giúp NTD lựa chọn tốt hơn trên thị trường và trợ giúp họ bảo vệ

quyền lợi. Một số tổ chức thúc đẩy việc bảo vệ NTD bao gồm các tổ chức chính

phủ và các tổ chức kinh doanh tự điều chỉnh như các tổ chức và cơ quan bảo

vệ NTD, các cán bộ thanh tra, ở Mỹ có Uỷ ban Thương mại Liên bang và các

Văn phòng kinh doanh tốt hơn (Better Business Bureau) ở Mỹ và Canada...

Ngoài ra, lợi ích của NTD còn được bảo vệ bằng cách thúc đẩy thương mại,

7

cạnh tranh lành mạnh, công bằng và minh bạch thông tin trên thị trường để

phục vụ NTD, phù hợp với hiệu quả kinh tế, tuy nhiên chủ đề này lại được đề

cập trong Luật Cạnh tranh.

Về mặt pháp lý, NTD được bảo vệ qua các quy định pháp luật trong đó

có Luật BVQLNTD, bao gồm những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của NTD.

Ví dụ: Pháp luật có thể yêu cầu doanh nghiệp công bố thông tin về các sản

phẩm liên quan tới an toàn, sức khoẻ của cộng đồng. Luật pháp được thiết kế

như là các quy định để ngăn chặn các doanh nghiệp có các hoạt động gian lận

hoặc có các hoạt động không công bằng do giành được nhiều lợi thế hơn so với

các đối thủ cạnh tranh, giúp bảo vệ, bổ sung cho những người dễ bị tổn thương

nhất trong xã hội. Bảo vệ NTD cũng có thể được thực hiện thông qua các tổ

chức phi chính phủ và cá nhân như là hoạt động của NTD.

Bản chất của BHNT là cách thức dự phòng tài chính an toàn cho tương

lai với mục đích thay thế nguồn thu nhập khi người tham gia gặp rủi ro bất trắc

(quyền lợi BHNT). Chính vì thế BHNT có ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống con

người, nó không chỉ giúp ổn định cuộc sống khi rủi ro bất ngờ xảy ra mà còn

là cách thức chia sẻ rủi ro trong cộng đồng bằng cách lấy số đông bù số ít.

1.1.3. Các hình thức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực

bảo hiểm nhân thọ

- Người tiêu dùng (NTD) tự bảo vệ mình trong quá trình đàm phán, ký

kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

Người tiêu dùng phải ý thức, nhận thức đầy đủ quyền và nghĩa vụ của

mình trong việc đàm phán, thương lượng, ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

(HĐBHNT). Ngoài ra, NTD cần hiểu rõ quy định về các quyền của mình, cần

có kiến thức, tự tìm hiểu thêm để am hiểu về sản phẩm mà mình sẽ mua và có

năng lực để đối phó với các tranh chấp có thể xảy ra trước, trong hoặc sau quá

trình thực hiện HĐBHNT.

Trong quan hệ với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (DNBHNT), hơn ai

hết, NTD chính là người hiểu về nhu cầu của chính bản thân mình khi quyết

định tham gia vào các giao dịch, họ có quyền lựa chọn sản phẩm phù hợp với

8

nhu cầu và năng lực tài chính của mình hay yêu cầu được cung cấp thêm thông

tin hoặc thay đổi, bổ sung, hủy bỏ các điều khoản giao dịch và quyết định tham

gia hoặc không tham gia HĐBHNT.

Như vậy, NTD cần chủ động tự bảo vệ mình trước khi cần đến sự trợ giúp

của các cơ quan chức năng hoặc của pháp luật.

- Được bảo vệ thông qua pháp luật Nhà nước

Đây là một trong các quy định về quyền con người, với chức năng của

Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người được thực thi trên thực tế.

Trách nhiệm bảo vệ NTD sẽ do Nhà nước đảm nhận, để BVQLNTD,

pháp luật và thực thi pháp luật trong lĩnh vực BHNT là công cụ để nhà nước

bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tham gia bảo hiểm, duy trì trật tự, ổn

định xã hội.

- Được bảo vệ thông qua các tổ chức xã hội

Để bảo vệ những quyền lợi hợp pháp và chính đáng của bản thân, người

tiêu dùng có thể liên hệ với các tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD. Vai trò

của các tổ chức xã hội này đã được xã hội hóa trong Luật Bảo vệ NTD năm

2010 và Nghị định số 99/2011/NĐ-CP.

Các tổ chức xã hội này sẽ hướng dẫn, giúp đỡ và tư vấn cho NTD khi

được yêu cầu, đại diện cho NTD khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện khi lợi ích

NTD bị xâm hại.

- Được bảo vệ thông qua Cục quản lý, giám sát bảo hiểm

Nhiệm vụ BVQLNTD trong BHNT thuộc trách nhiệm chủ yếu của Cục

quản lý, giám sát bảo hiểm. Đây là cơ quan thuộc Bộ tài chính, có chức năng

thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực KDBH; trực tiếp quản lý, giám sát

hoạt động KDBH; thực hiện chức năng BVQLNTD thông qua những hoạt động

như: xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH; giải quyết khiếu nại, tố cáo;

kiểm tra và giám sát hoạt động của DNBH; tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ để cấp, gia

hạn, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của DNBH; tổ chức thực hiện, tuyên

truyền về bảo hiểm; phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chiến lược, quy

hoạch, kế hoạch và các văn bản pháp luật về KDBH v.v.

9

- Được bảo vệ thông qua hoạt động tài phán

Các tranh chấp phát sinh từ giao kết HĐBHNT thường xuất phát từ hành

vi vi phạm hợp đồng của một bên hoặc cả hai bên với lỗi cố ý hoặc vô ý làm

trái các điều, khoản trong hợp đồng. Trong trường hợp NTD thấy mình bị xâm

hại về quyền lợi chính đáng thì có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng

trọng tài thương mại hoặc tòa án, các phán quyết có giá trị bắt buộc các bên

phải thi hành.

1.1.4 Những vấn đề chung về bảo hiểm nhân thọ

Khái niệm bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là sản phẩm của các doanh nghiệp kinh

doanh bảo BHNT nhằm bảo vệ con người trước những rủi ro liên quan đến sức

khỏe, thân thể, tính mạng. Đơn giản là người tham gia thỏa thuận và ký kết

HĐBHNT với công ty bảo hiểm về việc sẽ đóng đúng những khoản phí đều

đặn vào quỹ dự trữ tài chính do công ty bảo hiểm quản lý để được chi trả số

tiền nhất định khi không may gặp rủi ro hoặc đến thời điểm đáo hạn.

Theo Khoản 1, Điều 12, Luật KDBH: Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả

thuận giữa BMBH và DNBH, BMBH phải đóng phí bảo hiểm, khi có sự kiện

bảo hiểm xảy ra, DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi

thường cho NĐBH.

Đặc điểm bảo hiểm nhân thọ

BHNT là một loại nghiệp vụ bảo hiểm cho NĐBH sống hoặc chết. Chính

vì vậy mà BHNT mang những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe con người không xác định được

giá trị.

Thứ hai, sự kiện bảo hiểm không hoàn toàn gắn liền với rủi ro. Sự kiện

bảo hiểm là sự kiện khách quan mà theo đó, khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì

DNBHNT phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho

NĐBH.

Thứ ba, chỉ DNBHNT mới được cung cấp. BHNT là bảo hiểm con người,

đây là thuộc tính cơ bản nhất của BHNT mà các loại bảo hiểm khác không có.

Ví dụ: bạn tham gia bảo hiểm tính mạng, sức khỏe thì bạn phải đóng phí khi

10

tham gia bảo hiểm. Trong khoản thời gian tham gia bảo hiểm nếu bạn gặp rủi

ro như tai nạn thì bạn sẽ được bên bảo hiểm chi trả các chi phí phát sinh trong

việc gặp rủi ro này.

Thứ tư, đây là loại hợp đồng dài hạn và thường mang tính tiết kiệm.

Khái niệm kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi

trên cơ sở chấp nhận rủi ro của BMBH; KDBH chính là nghiệp vụ bảo hiểm

mà theo đó, KDBH chính là việc thực hiện các hoạt động nghiệp vụ bảo hiểm

bao gồm khai thác bảo hiểm, lưu giữ hồ sơ và giải quyết bồi thường, hoặc bao

gồm việc thiết kế sản phẩm, định phí, lập dự phòng và phân phối sản phẩm bảo

hiểm. BHNT là sản phẩm của các DNBH nhằm bảo vệ con người trước những

rủi ro liên quan đến sức khỏe, thân thể, tính mạng. Đơn giản là người tham gia

thỏa thuận và ký kết hợp đồng bảo hiểm với DNBH về việc sẽ đóng đúng những

khoản phí đều đặn vào quỹ dự trữ tài chính do DNBH quản lý để được chi trả

số tiền nhất định khi không may gặp rủi ro hoặc đến thời điểm đáo hạn.

Chính vì thế BHNT có ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống con người, nó

không chỉ giúp ổn định cuộc sống khi rủi ro bất ngờ xảy ra mà còn là cách thức

chia sẻ rủi ro trong cộng đồng bằng cách lấy số đông bù số ít.

1.2. Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo

hiểm nhân thọ

Những vấn đề chung pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT

gồm: Pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT; đặc điểm pháp luật về

BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT; vai trò và vị trí của pháp luật về BVQLNTD

trong lĩnh vực BHNT trong hệ thống pháp luật được phân tích chi tiết như sau:

1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong

lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ

Luận văn đưa ra khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

(BVQLNTD) trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là hệ thống các quy

phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận đảm bảo thực hiện, điều

chỉnh những quan hệ phát sinh giữa bên mua bảo hiểm (BMBH) với doanh

11

nghiệp bảo hiểm (DNBH) nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của BMBH.

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 9 Luật KDBH năm 2000, sửa đổi năm

2010 và năm 2019 thì quyền lợi được bảo hiểm là: “quyền sở hữu, quyền chiếm

hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối

với đối tượng được bảo hiểm”. Theo đó, xét dưới góc độ BHNT thì quyền lợi

bảo hiểm trong BHNT là “quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối

tượng được bảo hiểm”. “Cấp dưỡng” được định nghĩa tại Khoản 24, Điều 3

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là nội dung quan trọng của pháp luật

hôn nhân và gia đình: nghĩa vụ nuôi dưỡng được xác lập giữa cha mẹ (cả cha

mẹ ruột, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế) với con cái (cả con ruột, con nuôi,

con riêng của vợ hoặc con riêng của chồng) và ngược lại, giữa ông bà đối với

cháu và ngược lại, giữa cô, dì, chú, bác ruột với cháu. Ngoài nghĩa vụ được

pháp luật hôn nhân và gia đình xác lập, không còn tồn tại bất kỳ quy định pháp

luật nào khác về quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Do đó, căn cứ

để xác lập quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là quy định của pháp

luật hôn nhân và gia đình. Cách hiểu này là rất hẹp so với thực tiễn. Bởi vì,

ngoài mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng được xác lập theo quan hệ hôn nhân,

huyết thống thì còn tồn tại các mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng khác như:

quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn, quan hệ cấp dưỡng của

người phạm tội đối với những người mà người bị hại phải nuôi dưỡng nếu người

bị hại còn sống…

Theo quy định của khoản 3 Điều 9 Luật KDBH, nghĩa vụ nuôi dưỡng,

cấp dưỡng phải gắn với đối tượng được bảo hiểm. Khoản 1, Điều 31 Luật Luật

KDBH quy định: “Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người là tuổi thọ,

tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con người”. Như vậy, có thể hiểu, quyền lợi bảo

hiểm trong BHNT là quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng của BMBH

đối với NĐBH phát sinh liên quan đến tuổi thọ, sức khỏe hoặc tính mạng của

NĐBH. Pháp luật KDBH Việt Nam không bảo hiểm cho những yêu tố khác

thuộc về con người như nghề nghiệp, bộ phận cơ thể người,… Ví dụ, pháp luật

bảo hiểm Việt Nam không cho phép một cá nhân mua bảo hiểm cho giọng hát của

12

nghề ca sĩ, hoặc đôi chân của cầu thủ bóng đá. Người mua bảo hiểm chỉ có thể

mua bảo hiểm cho cầu thủ bóng đá với sản phẩm bảo hiểm sức khỏe, sinh kỳ hoặc

tử kỳ. Theo đó, cầu thủ bóng đá chỉ được bảo hiểm cho tổn thất về sức khỏe khi

bị gãy chân chứ không được bảo hiểm cho tổn thất về thu nhập, chi trả tài chính

cho cuộc sống khi phải giải nghệ vì gãy chân.

Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm quyền lợi có thể

được bảo hiểm trong BHNT như sau: Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong BHNT

là quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng giữa của người mua bảo hiểm với

NĐBH gắn liền về tính mạng, tuổi thọ, sức khỏe và tai nạn con người.

1.2.2. Đặc điểm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong

lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ

Về phương pháp luận, pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT là

một bộ phận của pháp Luật KDBH và trong quan hệ KDBH, ngoài lợi ích chung

của nhà nước, của xã hội thì còn có quan hệ lợi ích trực tiếp giữa DNBH và

NTD. Vì vậy, nền tảng của pháp luật về BVQLNTD xác định cần làm rõ những

tư tưởng mang tính nguyên tắc:

Thứ nhất, pháp luật phải thực hiện đúng chức năng công cụ của công

quyền với đúng nghĩa là sự bảo đảm của nhà nước trong một trật tự xã hội,

trong đó các chủ thể bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, nội dung là sự

phản ánh nhu cầu của xã hội và pháp luật phải bảo đảm cân bằng lợi ích giữa

quyền tự do kinh doanh của DNBHNT với QLNTD. Nếu pháp luật chỉ chú

trọng đến QLNTD thì có thể dẫn tới tình trạng hạn chế quyền tự do kinh doanh

của DNBHNT và ngược lại, nếu tuyệt đối hóa quyền tự do kinh doanh của

DNBHNT thì sẽ dẫn đến tình trạng quyền lợi của NĐBH không được bảo đảm.

Bảo đảm quyền tự do kinh doanh của DNBHNT với việc bảo đảm an toàn, hạn

chế rủi ro kinh doanh là hai vấn đề cần phải giải quyết đối với loại doanh nghiệp

này, vì đây là chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao.

Thứ hai, về phía NĐBH, pháp luật phải đảm bảo các quyền sau:

- Quyền được bình đẳng trong giao kết và thực hiện HĐBHNT. Tuy

nhiên thực tế cho thấy, đối với quan hệ BHNT, người tham gia bảo hiểm thường

là cá nhân, là bên yếu thế hơn so với DNBHNT khi giao kết và thực hiện hợp

13

đồng.

- Quyền được hướng dẫn, giải thích chi tiết để hiểu đúng và đầy đủ nhất

các nội dung của HĐBHNT. Hoạt động kinh doanh BHNT gồm các tác nghiệp

mang tính kỹ thuật kinh tế cao, đòi hỏi người mua bảo hiểm phải có kiến thức

hoặc hiểu biết tối thiểu về bảo hiểm. Nếu không, người mua bảo hiểm có thể sẽ

thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, dẫn đến bất lợi, hoặc có thể

không được trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

- Quyền được trả tiền bảo hiểm theo đúng nội dung đã thỏa thuận. Đây

là quyền lợi quan trọng nhất, vì nó là mục đích chính của BMBH.

- Ngoài ra BMBH còn có các quyền như quyền được lựa chọn, được lắng

nghe, được khiếu nại, được an toàn và được đền bù.

Thứ ba, pháp luật về BVQLNTD đảm bảo ràng buộc trách nhiệm của

các cơ quan, đơn vị, cá nhân trong mối quan hệ với NTD; có chế tài, xử lý đủ

sức răn đe, loại bỏ những bất cập vốn có, huy động được sự tham gia của toàn

xã hội trong việc bảo vệ NTD.

Chính vì lẻ đó, pháp luật BVQLNTD cần chứa các yếu tố cân bằng lợi

ích giữa DNBHNT và NTD cũng như lợi ích của xã hội, tạo nên môi trường

kinh doanh lành mạnh, bền vững; thông qua hoạt động bảo vệ NTD nhằm nâng

cao trách nhiệm của DNBHNT với NTD, đảm bảo trật tự công, đảm bảo các

quyền lợi của doanh nghiệp, tránh tình trạng NTD lợi dụng chính sách để trục

lợi bảo hiểm, gây thiệt hại cho DNBHNT.

Như vậy pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT cần có là tổng

hợp các quy định về tư cách pháp lý, về quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết

HĐBHNT, về cơ chế kiểm soát, giám sát đối với hoạt động KDBH nhằm mục

tiêu bảo đảm NTD được thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm theo HĐBHNT hoặc

theo quy định của pháp luật.

1.2.3. Vai trò và vị trí của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu

dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ trong hệ thống pháp luật

Người tiêu dùng (NTD) trong quan hệ giao dịch với doanh nghiệp bảo

hiểm nhân thọ (DNBHNT) luôn ở vị thế yếu hơn, không cân xứng. Vì thế, vai

trò của pháp luật BVQLNTD nên là công cụ để đảm bảo hiệu chỉnh, khắc phục

14

vị thế bất cân xứng trong mối quan hệ giữa NTD và DNBHNT.

Pháp luật BVQLNTD tại Việt Nam trước đó có quy định tại Pháp lệnh

BVQLNTD có hiệu lực từ 01/10/1999. Pháp lệnh đã điều chỉnh việc bảo vệ

quyền lợi của người tham gia BHNT trong thời gian này với những ghi nhận rõ

ràng về quyền và trách nhiệm của NTD, trách nhiệm của các cơ quan chính

quyền cũng như của các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Sau đó, pháp luật

BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT tiếp tục được quy định tại các văn bản pháp

luật khác nhau như Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm

2019), Luật BVQLNTD năm 2010, Bộ luật dân sự năm 2015 và các văn bản

hướng dẫn liên quan. Những văn bản này đã và đang có tác động trực tiếp, tích

cực đến nền kinh tế, xã hội, đến nhận thức của các DNBHNT và bản thân NTD

trong giao kết HĐBHNT nói riêng và trong vấn đề BVQLNTD nói chung.

1.2.4. Cấu trúc nội dung pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ

Pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT đã trở thành một lĩnh vực

pháp luật độc lập, có vị trí nhất định trong hệ thống pháp luật Việt Nam, góp phần

tạo nên một môi trường kinh doanh công bằng, pháp quyền và hiện đại.

Cấu trúc pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT có thể được nhận

diện từ nhiều góc độ khác nhau với những mục tiêu khác nhau.

Theo NAIC (National Association of Insurance Commissioners) Hiệp

hội quốc gia các Ủy ban bảo hiểm Hoa Kỳ thì mục tiêu của pháp luật KDBH là

để bảo vệ NTD, bảo đảm những cam kết của DNBHNT phải được thực hiện

đúng. Nội dung pháp luật BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT bao gồm các quy

định về cấp phép cho DNBHNT, dịch vụ bảo hiểm; quy định về quy chế tài

chính; quy định về sản phẩm bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

(HĐBHNT), trách nhiệm của người bán sản phẩm; quy định về bồi thường, về

giải quyết tranh chấp giữa NTD và doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(DNBHNT).

Để phân tích cấu trúc pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tham

BHNT, cần làm rõ từ “cái gốc” của hiện tượng xã hội, đó là các quan hệ phát

sinh từ hoạt động kinh doanh BHNT. Theo đó, pháp luật về bảo vệ quyền lợi

15

của người tham gia BHNT cần điều chỉnh những nhóm quan hệ xã hội sau:

Thứ nhất, pháp luật cần điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội định hình tư

cách chủ thể của các bên trong HĐBHNT nhằm xác định địa vị pháp lý của

NTD, của DNBHNT với những quyền và nghĩa vụ phù hợp với chức năng của

nó trong mối tương quan với các chủ thể khác của nền kinh tế. Với năng lực

chủ thể được pháp luật quy định, DNBH kinh doanh BHNT sẽ có cơ sở pháp

lý để tiến hành các hoạt động kinh doanh với tư cách là một chủ thể độc lập bao

gồm những quy định: Thành lập và hoạt động của DNBHNT; quy định về cơ

cấu, tổ chức cùng với những quyền và nghĩa vụ của DNBHNT khi hoạt động,

trong đó quyền và nghĩa vụ khi thực hiện hoạt động kinh doanh BHNT là những

quy định quan trọng, đặc trưng nhất.

Thứ hai, pháp luật cần điều chỉnh nhóm quan hệ HĐBHNT giữa

DNBHNT với người mua BHNT. DNBHNT với tư cách chủ thể kinh doanh

sản phẩm BHNT, sẽ tiến hành “phân phối” các sản phẩm của mình thông qua

một giao dịch HĐBHNT. Do sản phẩm BHNT là dịch vụ, không giống như

những sản phẩm hàng hóa nên trong HĐBHNT cần phải mô tả rõ ràng và cụ

thể về nội dung dịch vụ đó với những quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia

hợp đồng. Vì thế, pháp luật điều chỉnh về HĐBHNT được xem như một bộ

phận pháp luật quan trọng đối với việc BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT.

Thứ ba, pháp luật cần điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội là các cơ quan có

thẩm quyền thực hiện việc giám sát, giải quyết tranh chấp và xử lý các vi phạm

khi có khiếu nại, tố cáo của người tham gia bảo hiểm hoặc DNBHNT với mục

đích là BVQLNTD.

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ với tư cách là một chủ thể kinh doanh,

chịu sự giám sát của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Quan hệ pháp

luật phát sinh giữa cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với DNBHNT chủ

yếu là quan hệ pháp luật hành chính, dựa trên nguyên tắc mệnh lệnh giữa một

bên là chủ thể quản lý và một bên là chủ thể chịu quản lý, bao gồm các nội

dung: Xác định những quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước và các chủ thể

khác có thẩm quyền trong hoạt động giám sát; xác định những nghĩa vụ mà

16

DNBHNT cần phải tuân thủ và thực hiện để đảm bảo sự minh bạch, công bằng

trên thị trường bảo hiểm tự do cạnh tranh và đảm bảo nguyên tắc bảo vệ người

tham gia bảo hiểm.

Nội dung pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT cụ thể như sau:

1.2.4.1. Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên

- Quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHNT

Điều 8 của Luật BVQLNTD năm 2010 quy định về tám quyền của NTD

như sau: (1) quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản; (2) quyền được an

toàn; (3) quyền được thông tin; (4) quyền được lắng nghe; (5) quyền được lựa

chọn; (6) quyền được giáo dục, đào tạo và tiêu dùng; (7) quyền được khiếu nại

và bồi thường; (8) quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững.

Người tiêu dùng có bốn nghĩa vụ sau: (1) biết phê bình; (2) có ý thức

cộng đồng và xã hội; (3) hành động; (4) hiểu biết về tiêu dùng và môi trường.

Ngoài các quyền và nghĩa vụ nêu trên, theo Điều 18 Luật KDBH, người tham

gia bảo hiểm còn có các quyền và nghĩa vụ như sau:

Bên mua bảo hiểm có quyền:

Lựa chọn DNBH hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm;

Yêu cầu DNBH giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; cấp giấy

chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm;

Đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBHNT theo quy định tại Khoản 3

Điều 19, Khoản 1 Điều 20 của Luật KDBH: “Yêu cầu DNBH trả tiền bảo hiểm

cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho NĐBH theo thỏa thuận trong

HĐBHNT khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; chuyển nhượng HĐBH theo thỏa thuận

trong HĐBHNT hoặc theo quy định của pháp luật; và các quyền khác theo quy

định của pháp luật”.

Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ:

Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận

trong HĐBH; kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến HĐBH

theo yêu cầu của DNBH; thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro

hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của DNBH trong quá trình thực hiện

HĐBH theo yêu cầu của DNBH; thông báo cho DNBH về việc xảy ra sự kiện

17

bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBHNT; áp dụng các biện pháp đề phòng,

hạn chế tổn thất theo quy định của Luật KDBH và các quy định khác của pháp

luật có liên quan; và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

- Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ:

Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền: thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong

HĐBHNT; yêu cầu BMBH cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên quan đến

việc giao kết và thực hiện HĐBHNT; đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH

theo quy định tại Khoản 2 Điều19, Khoản 2 Điều 20, Khoản 2 Điều 35 và

Khoản 3 Điều 50 của Luật KDBH; từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ

hưởng hoặc từ chối bồi thường cho NĐBH trong trường hợp không thuộc phạm

vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo

thỏa thuận trong HĐBHNT; yêu cầu BMBH áp dụng các biện pháp đề phòng,

hạn chế tổn thất theo quy định và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ: giải thích cho BMBH về các điều

kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của BMBH; cấp cho BMBH giấy

chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết HĐBHNT; trả tiền

bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho NĐBH khi xảy ra

sự kiện bảo hiểm; giải thích bằng văn bản lý do từ chối chi trả bảo hiểm hoặc

từ chối bồi thường; và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Quyền và nghĩa vụ của hai bên cần minh bạch thông tin khi giao kết

HĐBHNT là để đảm bảo cho HĐBHNT có hiệu lực pháp. DNBHNT có nghĩa

vụ bảo đảm cho BMBH thực sự hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của mình trong

hợp đồng, giúp cho BMBH có thể lường trước được những khó khăn, rủi ro có

thể gặp phải khi giao kết và thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, DNBHNT phải công

bố thông tin chung về hoạt động kinh doanh và quản lý doanh nghiệp; tình hình

tài chính cũng như mức độ rủi ro và giải pháp quản lý rủi ro ... trước cơ quan

giám sát và công chúng. Cũng như phía DNBHNT, bên mua bảo hiểm cũng

phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ và rõ ràng cho DNBHNT biết nhằm

bảo vệ quyền lợi cho chính mình. Người tham gia bảo hiểm hay NTD trong

lĩnh vực BHNT có cả NĐBH và người thụ hưởng, tuy nhiên hiện nay chưa có

18

quy định nào đề cập về vấn đề này.

1.2.4.2. Quy định về điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm

nhân thọ

- Quy định về cấp phép hoạt động

Kinh doanh về BHNT là một lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế

và xã hội. DNBHNT phải được cấp phép thành lập theo các điều kiện do pháp

luật quy định nhằm đảm bảo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện

chức năng giám sát.

Những điều kiện DNBHNT cần đáp ứng khi được cấp phép là điều kiện

về quy mô vốn; có trụ sở chính ổn định; năng lực của đội ngũ quản lý, điều

hành; có chiến lược kinh doanh và KDBH là hoạt động chính của doanh nghiệp.

- Quy định về cơ cấu tổ chức, nhân sự và quản lý

Pháp luật Việt Nam cũng như các quốc gia đều đưa ra những yêu cầu,

quy định về cơ cấu, tổ chức nhân sự, đặc biệt là quy định đối với thành viên

Hội đồng quản trị, các chủ sở hữu và cán bộ chủ chốt, cán bộ quản lý điều hành

cấp cao của DNBHNT, quy định về điều kiện cung ứng sản phẩm BHNT, quy

định về hoạt động đầu tư của DNBHNT; quy định về khả năng thanh toán của

DNBHNT.

1.2.4.3. Quy định về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Về bản chất, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là giao dịch dân sự, về nguyên

tắc của giao dịch dân sự nói chung luôn được pháp luật tôn trọng. Từ mối quan

hệ giữa người tham gia BHNT và DNBHNT, cùng với bản chất của sản phẩm

BHNT mà pháp luật về HĐBHNT thường tập trung quy định về mặt nội dung,

về mặt hình thức và về hiệu lực của HĐBHNT.

Người tham gia bảo hiểm

Trong lĩnh vực BHNT, khái niệm về người tham gia bảo hiểm hay NTD

như đã phân tích ở trên là để chỉ bên mua bảo hiểm (BMBH) và các chủ thể có

quyền và nghĩa vụ liên quan đến HĐBHNT, nó bao gồm cả NĐBH và người

thụ hưởng. Ngoài những điều kiện chung để đảm bảo tư cách chủ thể của

BMBH như trong các giao dịch dân sự khác thì một nội dung đặc biệt được

19

pháp luật quy định là BMBH phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Mục đích

của bảo hiểm chỉ đạt được nếu BMBH phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm,

điều này sẽ làm hạn chế được tình trạng trục lợi bảo hiểm xảy ra.

Quyền lợi có thể được bảo hiểm là những lợi ích của BMBH đối với đối

tượng được bảo hiểm, nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm thì BMBH sẽ bị thiệt hại.

Việc giải thích có hay không có quyền lợi có thể được bảo hiểm là ở ba trường

hợp:

Một là, trong trường hợp mua bảo hiểm cho bản thân mình hoặc cho vợ,

chồng, con...;

Hai là, có thể xảy ra tổn thất về mặt tài chính;

Ba là, có lợi ích về tài chính theo quy định của pháp luật.

Nội dung và hình thức của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Nội dung của HĐBHNT là những thỏa thuận giữa người tham gia bảo

hiểm và DNBHNT được ghi nhận trong HĐBHNT. Trong quan hệ HĐBHNT

có một số thỏa thuận rất đặc trưng, vì HĐBHNT là một loại hợp đồng rất phức

tạp, do đó người tham gia bảo hiểm có thể không lưu ý được hết các điều khoản

quan trọng trong hợp đồng đã được DNBHNT soạn thảo sẵn. Vì vậy, để bảo vệ

quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm, pháp luật phải quy định chi tiết về

những nội dung cần phải có trong HĐBHNT. Trên thực tế thì một bộ HĐBHNT

thường có nhiều văn bản khác nhau tập hợp lại như giấy yêu cầu bảo hiểm,

bẳng minh họa quyền lợi bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm .v.v.

Một bộ HĐBHNT thường bao gồm nhiều văn bản khác nhau là do: một

là, quá trình giao kết hợp đồng gồm nhiều bước công việc và hai bên thường

không trực tiếp gặp nhau để cùng ký kết, nên để được bảo hiểm thì BMBH phải

thực hiện kê khai một số mẫu biểu theo trình tự thủ tục quy định của DNBHNT;

hai là, trong cùng một sản phẩm BHNT thì tập điều khoản bảo hiểm là giống

nhau, thậm chí giữa các sản phẩm BHNT tương tự nhau, nên DNBHNT thường

in sẵn để dùng chung cho các HĐBHNT; ba là, DNBHNT và BMBH có thể

thỏa thuận thêm về một hay một số sản phẩm bổ trợ cho sản phẩm chính, sự

thỏa thuận này có thể khác nhau giữa những người mua bảo hiểm, và sau cùng,

20

DNBHNT còn có thể yêu cầu BMBH thực hiện thêm một số loại giấy tờ khác

để đảm bảo đánh giá đúng tình trạng của đối tượng bảo hiểm và những yêu cầu

này giữa các HĐBHNT là không giống nhau.

Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Quy định về hiệu lực (quy định về thời điểm có hiệu lực và những trường

hợp HĐBHNT bị vô hiệu) của HĐBHNT rất quan trọng bởi vì chỉ khi hợp đồng

có hiệu lực thì các bên mới có quyền và nghĩa vụ với nhau.

Thời điểm có hiệu lực của HĐBHNT được quy định tương tự như các

hợp đồng thông thường. Do đặc thù của việc giao kết HĐBHNT thường không

được các bên trực tiếp thực hiện việc ký kết, nên hiệu lực của HĐBHNT thường

bắt đầu kể từ khi DNBHNT chấp nhận bảo hiểm.

Khi xét đến tính hiệu lực của HĐBHNT, một vấn đề pháp lý hết sức quan

trọng cần lưu ý đó chính là trường hợp hợp đồng vô hiệu. Có hai trường hợp

đương nhiên vô hiệu và có khả năng vô hiệu. Các hợp đồng thực hiện giao dịch

không hợp pháp, không đảm bảo tính công bằng hoặc có ảnh hưởng đến lợi ích

chung hoặc do chủ thể giao kết không đủ năng lực hành vi dân sự v.v. là trường

hợp hợp đồng đương nhiên vô hiệu. Đối với các hợp đồng đã có hiệu lực, đang

được thực hiện tuy nhiên việc giao kết hợp đồng là do nhầm lẫn, thiếu tự do ý

chí, trình bày không đúng hình thức hoặc khi có vi phạm nghiêm trọng các điều

khoản của hợp đồng gây thiệt hại cho một bên thì đây là những trường hợp hợp

đồng có khả năng vô hiệu.

Ngoài những trường hợp HĐBHNT bị vô hiệu theo quy định chung của

pháp luật về hợp đồng, pháp luật về kinh doanh BHNT còn có những quy định

riêng đối với một số trường hợp, chẳng hạn như trường hợp một trong các bên

không trung thực khi giao kết hợp đồng hoặc khi BMBH không có quyền lợi

có thể được bảo hiểm.

1.2.4.4. Quy định về giám sát kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Đối với lĩnh vực BHNT, hoạt động giám sát và khả năng xử lý những vi

phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giữ một vai trò rất quan

trọng nhằm đảm bảo ở mức độ lớn nhất có thể để DNBHNT luôn đảm bảo

nguồn tài chính để thanh toán tất cả các khiếu nại khi đến hạn cũng như đảm

21

bảo cho DNBHNT sẽ xử sự một cách công bằng đối với người tham gia bảo

hiểm trong tất cả các giao dịch. Pháp luật về giám sát hoạt động kinh doanh

BHNT về cơ bản thường có những quy định sau:

Thứ nhất, pháp luật quy định về thẩm quyền giám sát của các cơ quan

nhà nước. Chức năng giám sát được giao cho các cơ quan chuyên trách nhằm

bảo đảm yếu tố độc lập cũng như hiệu quả về chuyên môn. Trách nhiệm giám

sát có thể được kết hợp giữa cơ quan nhà nước với các hiệp hội có liên quan,

các cơ quan kiểm toán, hội đồng các giám đốc DNBHNT...

Thứ hai, pháp luật quy định về nội dung giám sát. Nhìn chung, pháp luật

Việt Nam và các quốc gia đều ghi nhận nội dung giám sát phải đa dạng để đảm

bảo cho các cơ quan giám sát có khả năng đánh giá đúng về thị trường bảo hiểm

cũng như tình hình hoạt động của DNBHNT với hai mục tiêu chính đó là đảm

bảo sự tuân thủ quy định pháp luật của DNBHNT và có khả năng đưa ra những

cảnh báo kịp thời để đảm bảo sự an toàn cho DNBHNT và BVQLNTD trong

lĩnh vực BHNT. Giám sát được tập trung chủ yếu vào các nội dung chính sau:

việc cấp phép hoạt động; đầu tư vốn cũng như các biện pháp phòng ngửa rủi ro và

xử phạt; tiêu chuẩn đối với người quản lý, điều hành, hoạt động kinh doanh. Bằng

tất cả những nguồn lực sẵn có cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan giám sát

với nhau, cơ quan giám sát thực hiện giám sát hoạt động thị trường bảo hiểm, phân

tích những yếu tố tác động đến thị trường bảo hiểm cũng như DNBHNT. Việc

thực thi quyết định và xử phạt vi phạm được thực hiện rõ ràng, khách quan và phải

công bố công khai.

Thứ ba, pháp luật quy định về phương thức giám sát. Có hai phương thức

giám sát cơ bản là giám sát gián tiếp và giám sát trực tiếp, pháp luật trao quyền

cho cơ quan giám sát căn cứ tình hình thực tiễn thực hiện một trong hai hoặc

cả hai phương thức giám sát trên. Giám sát gián tiếp được thực hiện bằng hoạt

động tiếp nhận thông tin và đánh giá thông tin theo những tiêu chí quy định cụ

thể. Giám sát trực tiếp được các cơ quan giám sát thực hiện kiểm tra trực tiếp

tại DNBHNT đối với hoạt động kinh doanh, việc tuân thủ pháp luật và các yêu

cầu của cơ quan giám sát. Để đảm bảo hoạt động giám sát được thực hiện hiệu

quả, các cơ quan giám sát có thể kết hợp giữa hai phương thức giám sát nêu

22

trên.

1.2.4.5. Quy định về phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tham

gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm) và doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

Cần có phương thức giải quyết hiệu quả đối với các tranh chấp phát sinh

do xung đột về lợi ích giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Pháp luật về hợp

đồng quy định bốn phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản, gồm: thương

lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Bốn phương thức này được pháp luật

BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT kế thừa làm cơ sở pháp lý giải quyết tranh

chấp giữa NTD và DNBHNT. Cơ quan nhà nước và trọng tài chỉ can thiệp theo

yêu cầu của các bên tranh chấp vì việc giải quyết các tranh chấp trong kinh

doanh dựa trên nguyên tắc tự định đoạt của các bên.

Khi có cơ sở cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm

thì bên mua bảo hiểm (BMBH) có quyền gửi yêu cầu đến DNBHNT để yêu cầu

giải quyết và thương lượng. DNBHNT có trách nhiệm tiếp nhận yêu cầu và tiến

hành thương lượng với BMBH trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể

từ ngày nhận được yêu cầu của BMBH. Kết quả thương lượng thành hoặc

không thành đều phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp các bên có thỏa

thuận khác.

Khi xảy ra tranh chấp, DNBHNT và NTD có quyền thỏa thuận lựa chọn

bên thứ ba để thực hiện việc hòa giải (có thể là cá nhân hoặc tổ chức hòa giải) trên

nguyên tắc khách quan, trung thực, thiện chí, không bị ép buộc, lừa dối. Các bên

có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc kết quả hòa giải thành trong thời hạn đã được

thỏa thuận ghi cụ thể trong biên bản hòa giải, nếu một bên không thực hiện nghiêm

túc theo biên bản hòa giải thành thì bên kia có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu

cầu giải quyết.

DNBHNT phải thông báo về điều khoản trọng tài cho người tham gia

bảo hiểm biết và phải được người tham gia bảo hiểm chấp thuận trước khi thực

hiện giao kết HĐBHNT. Trường hợp điều khoản trọng tài được DNBHNT thiết

kế sẵn trong HĐBHNT theo mẫu hoặc là điều kiện giao dịch chung thì khi xảy

ra tranh chấp, người tham gia bảo hiểm là cá nhân có quyền lựa chọn phương

23

thức giải quyết tranh chấp khác.

Một số lưu ý khi NTD hoặc tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD thực

hiện quyền khởi kiện DNBHNT theo phương thức giải quyết tranh chấp bằng

Tòa án:

Vụ án dân sự về BVQLNTD được giải quyết theo thủ tục đơn giản, rút

gọn theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự khi có đủ các điều kiện:

+ Người tiêu dùng là cá nhân khởi kiện; bên bị khởi kiện là tổ chức hoặc

cá nhân trực tiếp cung cấp dịch vụ, hàng hóa cho NTD;

+ Vụ án đơn giản và có chứng cứ rõ ràng;

+ Giá trị của giao dịch dưới 100 triệu đồng.

- Pháp luật về tố tụng dân sự quy định, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và

chứng minh trong vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình là

nghĩa vụ của NTD, trừ việc chứng minh lỗi. Nghĩa vụ chứng minh mình không

có lỗi gây ra thiệt hại là của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tòa

24

án quyết định bên có lỗi trong vụ án dân sự về BVQLNTD.

Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã nêu lên những vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ quyền lợi

người tiêu dùng trong lĩnh vực BHNT.

Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm được đề cao

là do tính đặc thù của sản phẩm BHNT, sự phụ thuộc về quyền lợi của người

tham gia bảo hiểm vào DNBH và nhằm duy trì niềm tin của công chúng đối với

ngành bảo hiểm. Pháp luật các quốc gia thường xác lập nhiều phương thức để

thực hiện việc bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm như minh bạch thông

tin, đảm bảo khả năng thanh toán và hoạt động giám sát.

Kinh doanh BHNT theo pháp luật Việt Nam hiện nay có liên quan đến

mọi lĩnh vực đời sống và sản xuất kinh doanh của xã hội. Đồng thời nó luôn

gắn liền với đầu tư vốn vào nền kinh tế nên BHNT có vị trí quan trọng nhất

định trong thị trường tài chính. Mặt khác BHNT là một dịch vụ tài chính mang

tính toàn cầu và nó là một trong những lĩnh vực nhạy cảm của nền kinh tế. Vì

vậy, hoàn thiện pháp luật về kinh doanh BHNT theo pháp luật Việt Nam hiện

nay là một tất yếu khách quan và là một yêu cầu của quá trình hội nhập, đồng

thời nó luôn phải đặt trong mối quan hệ phát triển bền vững. Pháp luật về kinh

doanh BHNT có hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh

doanh và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Để đảm

bảo quyền tự do kinh doanh, pháp luật cần đảm bảo sự bình đẳng của các thành

phần kinh tế trong việc tham gia thành lập cũng như trong quy định về địa vị

25

pháp lý đối với DNBH.

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI

TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ THỰC

TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH ĐỒNG NAI

2.1. Thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu

dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam hiện nay

Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động KDBH, đặc biệt là lĩnh vực BHNT

hiện nay đã được cải thiện, có nhiều đóng góp đáng kể vào việc bảo vệ quyền lợi

người tham gia bảo hiểm cũng như sự phát triển của thị trường bảo hiểm.

Khung điều chỉnh hoạt động KDBH là Luật KDBH năm 2000 (sửa đổi

bổ sung năm 2010 và năm 2019) và văn bản hướng dẫn thi hành (các nghị định của

Chính phủ, thông tư của Bộ Tài chính). Việc xây dựng văn bản hướng dẫn luật, sẵn

sàng thay đổi, điều chỉnh cũng như ban hành có hệ thống và kịp thời là một thành

công đáng kể, phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế - xã hội và thực tế thị trường

bảo hiểm. Ví dụ, Nghị định 73/2016/NĐ-CP là việc “hợp nhất” các văn bản pháp

quy (như trên đã đề cập), ngoài ra còn thể hiện được mục tiêu vừa đảm bảo quản lý

chặt chẽ của Nhà nước, vừa tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển ổn định,

tạo được tính đồng bộ giữa hệ thống pháp luật KDBH với các văn bản pháp quy ở

những lĩnh vực khác; bên cạnh đó, việc bỏ chương HĐBH trong Bộ luật dân sự

năm 2015 đã tháo gỡ được nhiều vướng mắc và khó khăn cho DNBH cũng như

những người áp dụng pháp luật, tránh sự chồng chéo trong việc áp dụng luật, đặc

biệt là khi giải quyết tranh chấp tại tòa án.

2.1.1. Các quy định về tư cách chủ thể của người tham gia bảo hiểm cũng

như doanh nghiệp bảo hiểm

2.1.1.1. Quy định về người tham gia bảo hiểm

Người tham gia bảo hiểm là chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến

HĐBHNT. Như đã phân tích ở trên, người tham gia bảo hiểm là BMBH, NĐBH

và người thụ hưởng. BMBH có thể đồng thời là NĐBH, người thụ hưởng và

cũng có thể là những chủ thể riêng biệt.

BMBH là chủ thể đứng tên trong HĐBHNT, có nghĩa vụ nộp phí bảo

26

hiểm. BMBH có thể là cá nhân, là tổ chức, miễn là thỏa mãn các điều kiện quy

định như là: phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; phải có quyền lợi có thể

được bảo hiểm. Trường hợp NĐBH không đồng thời là BMBH thì HĐBHNT

chỉ được giao kết nếu có sự đồng ý của NĐBH. Quy định này được đặt ra nhằm

mục đích loại bỏ tình trạng người thụ hưởng muốn trục lợi bất chính. Vì thế,

Luật KDBH quy định rõ: “Khi BMBH giao kết HĐBH con người cho trường

hợp chết của người khác thì phải được người đó đồng ý bằng văn bản, trong

đó ghi rõ số tiền bảo hiểm và người thụ hưởng”.

Tuy nhiên, các quy định hiện nay vẫn còn một vài bất cập cơ bản sau

đây:

Một là, pháp luật còn chưa quy định rõ những quyền và nghĩa vụ của

NĐBH và người thụ hưởng.

Về nguyên tắc, NĐBH hoặc người thụ hưởng có quyền từ chối tư cách

chủ thể nếu họ không muốn, đó là những quyền dân sự không thể phủ nhận.

Nếu họ đồng ý, họ sẽ phải tuân thủ những nghĩa vụ nhất định để đảm bảo hợp

đồng được thực hiện. Tuy nhiên, pháp luật về KDBH hiện nay lại không có quy

định này, dẫn đến thiếu chặt chẽ trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa những

người tham gia bảo hiểm với nhau, thiếu cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi

“Thứ hai, khái niệm về quyền lợi có thể được bảo hiểm nêu tại khoản 9

chính đáng của họ trong mối quan hệ với DNBH. ”

Điều 3 Luật KDBH chưa phù hợp với bản chất của BHNT.

Thực ra, “quyền lợi có thể được bảo hiểm” như quy định nếu trên chỉ là

quyền lợi về vật chất thuần tuý của BMBH đối với đối tượng bảo hiểm. Thực

ra, bảo hiểm con người không mang yếu tố bồi thường thiệt hại, mà là sự bù

đắp tổn thất về tính mạng, về sức khoẻ của NĐBH đối với chính người này và,

hoặc người thân của họ, đồng thời, nó có thể có yếu tố tiết kiệm, chẳng hạn như

trong BHNT. Chính bởi lẻ đó, những lợi ích về mặt tinh thần cần được đánh

giá đúng đắn và khách quan để xác định được quyền lợi có thể được bảo hiểm

như quan hệ hôn nhân, quan hệ ông bà với cháu, giữa người sử dụng lao động

và người lao động v.v.. trong bảo hiểm con người.

Luật KDBH quy định rõ BMBH có thể mua bảo hiểm cho những đối

27

tượng nào. Theo đó, BMBH có thể mua bảo hiểm cho “người khác, nếu BMBH

có quyền lợi có thể được bảo hiểm”, tuy nhiên, căn cứ vào khái niệm về “quyền

lợi có thể được bảo hiểm” trong Luật KDBH thì những đối tượng này có phần

bị “giới hạn”. Điều này dẫn đến hai hệ quả: Một là, việc mở rộng thị trường

bảo hiểm con người bị hạn chế; Hai là, những sản phẩm bảo hiểm được DNBH

cung cấp cho BMBH có thể sẽ không có “quyền lợi có thể được bảo hiểm” theo

quy, có nghĩa là đã vi phạm pháp luật. Vậy nên cần phân biệt rõ giữa quyền lợi

có thể được bảo hiểm của bảo hiểm con người và bảo hiểm thiệt hại.

2.1.1.2. “Quy định về cấp phép hoạt động đối với doanh nghiệp bảo hiểm

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, lĩnh vực kinh doanh BHNT chỉ

được thực hiện thông qua việc thành lập DNBH tại Việt Nam, không cho phép

thành lập chi nhánh của DNBH nước ngoài để kinh doanh BHNT, tuy nhiên

DNBH nước ngoài lĩnh vực phi nhân thọ thì được quyền này. DNBH được

thành lập và hoạt động theo quy định pháp luật và được Bộ Tài chính cấp phép.

Theo Luật KDBH, Nghị định 73/2016/NĐ-CP và các thông tư hướng dẫn

(Thông tư số 50/2017/TT-BTC; Thông tư số 124/2012/TT-BTC; Thông tư số

194/2014/TT-BTC) tập trung vào ba nội dung chủ yếu là yêu cầu về vốn pháp

định phải phù hợp, về người quản trị và điều hành phải đủ tiêu chuẩn và cơ sở

vật chất, trang thiết bị phải đáp ứng và đảm bảo có thể đi vào hoạt động ngay

sau khi được cấp phép.

Các quy định tại Nghị định số 73 đã hoàn thiện và thống nhất, chẳng hạn

như tại Điều 6, Điều 7, quy định về điều kiện chung để được cấp Giấy phép

thành lập và hoạt động, điều kiện thành lập DNBH; Điều 10 quy định về vốn

pháp định; Điều 11, 12, 13, 14 hướng dẫn chi tiết về hồ sơ đề nghị cấp Giấy

phép thành lập và hoạt động; quy định về trình tự, thủ tục cấp Giấy phép thành

lập và hoạt động cũng như các thủ tục tiếp theo sau đó.

Luật KDBH không quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức của DNBH, tuy

nhiên tại Nghị định 73 thì có quy định về cơ cấu tổ chức và hoạt động, tiêu

chuẩn của người quản lý, điều hành, cơ bản như sau: Tổ chức hoạt động của

DNBH bao gồm Trụ sở chính; Chi nhánh, sở giao dịch, hội sở, công ty thành

viên hạch toán phụ thuộc (được gọi là Chi nhánh) trực thuộc DNBH, doanh

28

nghiệp môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức

năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền; Văn phòng đại

diện là đơn vị phụ thuộc của DNBH, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, có nhiệm

vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của DNBH và bảo vệ các lợi ích đó; Địa

điểm kinh doanh, phòng giao dịch (được gọi chung là địa điểm kinh doanh) là

nơi mà DNBH tiến hành hoạt động kinh doanh. ”

Luật KDBH, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP và Thông tư số 50/2017/TT-

BTC đều quy định cụ thể về bộ máy quản lý DNBH, từ quy định chung cho

đến quy định cụ thể về tiêu chuẩn từng chức danh. Các yêu cầu cơ bản mà

Thông tư số 50/2017/TT-BTC đưa ra đối với các chức danh quản lý như sau:

Một là, người quản lý phải không thuộc các đối tượng bị cấm quản lý

doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp và trong 03 năm liên tục

trước thời điểm được bổ nhiệm không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh

vực KDBH với hình thức bị buộc bãi nhiệm chức danh quản trị, điều hành đã

được Bộ Tài chính chấp thuận hoặc buộc đình chỉ chức danh đã được DNBH

bổ nhiệm; không bị xử lý kỷ luật dưới hình thức sa thải do vi phạm quy trình

nội bộ về khai thác, giám định, bồi thường, kiểm soát nội bộ, quản lý tài chính

và đầu tư, quản lý chương trình tái bảo hiểm trong DNBH, chi nhánh nước

ngoài hoặc quy trình nghiệp vụ môi giới bảo hiểm, kiểm soát nội bộ, quy tắc

đạo đức nghề nghiệp trong doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; Không trực tiếp

liên quan đến vụ án đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố theo quy định pháp

luật. ”

Hai là, người quản lý phải là người có năng lực quản lý, điều hành, có

chuyên môn phù hợp (bằng đại học hoặc trên đại học), có kinh nghiệm và thời

gian công tác tối thiểu 3 năm trong lĩnh vực KDBH hoặc lĩnh vực tương ứng

được bổ nhiệm. Quy định này nhằm đảm bảo rằng người quản lý có đủ năng

lực thực hiện tốt nhiệm vụ ở vị trí tương ứng.

Ba là, người quản lý, điều hành phải cư trú tại Việt Nam trong thời gian

đương nhiệm, nhằm đảm bảo điều kiện thực hiện công tác quản lý, điều hành

cũng như khả năng giám sát của các cơ quan có thẩm quyền nhà nước.

Một chức danh quản lý hết sức đặc thù chỉ có ở DNBH theo thông lệ

29

quốc tế là chuyên gia tính toán (actuary), tại Điều 31 Nghị định số 73/2016/NĐ-

CP quy định riêng về tiêu chuẩn, nhiệm vụ của chuyên gia tính toán với từng

loại DNBH để thực hiện một số nhiệm vụ sau:

* Tính toán các mức phí bảo hiểm, tham gia xây dựng bộ quy tắc và điều

khoản của các sản phẩm bảo hiểm; định kỳ hàng năm, thực hiện đánh giá sự

chênh lệch giữa các giả định tính phí so với thực tế triển khai của từng sản phẩm

bảo hiểm; xác định mức phí bảo hiểm dựa trên số liệu thống kê, đảm bảo tính

khả thi về kinh tế và kỹ thuật của sản phẩm cũng như khả năng thanh toán của

DNBH;

* Tính toán việc trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm theo quy định

của pháp luật;

* Tham gia thực hiện việc tách quỹ và tính toán phân chia thặng dư hàng

năm của quỹ chủ HĐBH trên cơ sở công bằng, hợp lý và tuân thủ pháp luật.

Tính toán, lập báo cáo kết quả hoạt động KDBH vào cuối năm tài chính, trong

đó báo cáo riêng về tách quỹ chia lãi, đề xuất cấp có thẩm quyền của doanh

nghiệp quyết định số lãi chia cho từng chủ hợp đồng;

* Đánh giá khả năng thanh toán của DNBHNT, DNBH sức khỏe xác

nhận và báo cáo khả năng thanh toán gửi Bộ Tài chính theo quy định (định kỳ

hàng tháng);

* Báo cáo bằng văn bản cho Hội đồng quản trị (Hội đồng thành viên,

Chủ tịch công ty), Tổng Giám đốc (Giám đốc) định kỳ hàng quý và hàng năm

về tình hình tài chính, dự báo tình hình tài chính tương lai của doanh nghiệp,

tình hình hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, nêu rõ các rủi ro có thể phát sinh

và đề xuất về tài sản đầu tư, thời hạn đầu tư của từng loại tài sản đảm bảo tương

xứng giữa thời hạn của tài sản đầu tư với các trách nhiệm đã cam kết theo

HĐBHNT; Báo cáo kịp thời các vấn đề bất thường bất lợi tới tình hình tài chính

của doanh nghiệp và đề xuất biện pháp khắc phục, đối với các trường hợp có

thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của DNBH, chuyên gia tính toán phải

báo cáo trực tiếp Bộ Tài chính.

Các quy định của pháp luật Việt Nam về lĩnh vực BHNT hiện nay từng

bước đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, dần phù hợp với chuẩn mực chung

30

của quốc tế. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn còn hạn chế là chưa đảm bảo

tính cân bằng trong kiểm soát của bộ máy quản trị và điều hành DNBHNT như

chưa có quy định về cơ chế kiểm soát thích hợp trong trường hợp cho phép Chủ

tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc, chưa có quy định tách bạch hai

chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị (Hội đồng thành viên) với Tổng Giám

đốc (Giám đốc) của DNBHNT. Đây là điều rất được pháp luật nhiều quốc gia

coi trọng, cần có sự cân bằng quyền lực của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng

Giám đốc để không ai có quyền tự do quyết định nhằm bảo vệ quyền lợi của

người tham gia bảo hiểm, tránh cho việc DNBHNT có những quyết định không

phù hợp.

2.1.1.3. “Quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ bảo hiểm nhân thọ ”

Theo Luật KDBH và các văn bản hướng dẫn thì doanh nghiệp kinh doanh

BHNT được quyền thiết kế và phân phối các sản phẩm BHNT như: bảo hiểm

trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả

tiền định kỳ, bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí. Có thể thấy rằng, để

đáp ứng sự đa dạng trong nhu cầu của những đối tượng khách hàng khác nhau

thì hầu hết các sản phẩm BHNT thông dụng trên thế giới đều được pháp luật

cho phép cung cấp tại thị trường bảo hiểm Việt Nam.

Pháp luật quy định, sản phẩm BHNT phải được Bộ Tài chính phê chuẩn

trước khi triển khai ra thị trường, theo đó, sản phẩm BHNT được thiết kế phải

đảm bảo các yêu cầu như: phải đảm bảo tuân thủ pháp luật; phù hợp với thông

lệ, chuẩn mực đạo đức, văn hoá và phong tục, tập quán của Việt Nam; ngôn

ngữ sử dụng phải thật đơn giản, dễ hiểu và chính xác, phải định nghĩa rõ ràng

các thuật ngữ chuyên môn; các nội dung chủ yếu của HĐBHNT phải được thể

hiện rõ rang, minh bạch đối. Phí bảo hiểm được xây dựng dựa trên số liệu thống

kê, công thức tính toán hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán của DNBHNT,

tương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm. Nội dung phê chuẩn được

thực hiện bao gồm thẩm định về tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị, sự phù hợp pháp

luật của quy tắc, điều khoản bảo hiểm và thẩm định tính khả thi về mặt kinh tế,

kỹ thuật của sản phẩm BHNT. Về thủ tục phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm, pháp

luật quy định DNBHNT cần chuyển cho Bộ Tài chính những tài liệu cần thiết

31

cũng như giải trình chi tiết về sản phẩm bảo hiểm trên cơ sở ý kiến xác nhận

của chuyên gia tính toán bảo hiểm đối với nội dung của sản phẩm BHNT. Trong

vòng 21 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính sẽ có văn bản chấp

thuận hoặc từ chối chấp thuận sản phẩm BHNT, trường hợp từ chối phê chuẩn

sản phẩm phải có văn bản nêu rõ lý do. Thêm một "hàng rào" khác của pháp

luật nhằm đảm bảo sản phẩm BHNT đến tay NTD là tối ưu nhất, tại Quyết định

35/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ yêu cầu DNBHNT sau khi được

Bộ Tài chính phê chuẩn sản phẩm phải hoàn thành thủ tục đăng ký mẫu hợp

đồng BHNT với Bộ Công thương trước khi phân phối sản phẩm ra thị trường.

Tuy nhiên, do có nhiều ý kiến phản đối của các DNBHNT về việc quá

nặng nề thủ tục hành chính nên Chính phủ đã quyết định giao cho hai bộ là Bộ

Tài chính và Bộ Công thương phối hợp tham gia vào việc đăng ký HĐBHNT

theo mẫu. Bộ Tài chính là cơ quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị phê chuẩn, đăng ký

sản phẩm bảo hiểm. Bộ Tài chính thống nhất với Bộ Công thương về sản phẩm

bảo hiểm phải thực hiện đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

theo quy định tại Luật BVQLNTD.

Hoạt động phân phối sản phẩm BHNT của DNBH được pháp luật quy

định theo hướng mở. DNBHNT có thể phân phối thông qua kênh đại lý hoặc

môi giới bảo hiểm, thông qua kênh bán trực tiếp, thông qua đấu thầu và các

hình thức khác theo luật định. Riêng kênh phân phối qua trung gian, pháp luật

đã quy định cụ thể về điều kiện hoạt động của đại lý bảo hiểm và môi giới bảo

hiểm nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ bảo hiểm cũng như bảo vệ quyền lợi

của người tham gia bảo hiểm. Theo đó, đại lý bảo hiểm có thể là cá nhân hoặc

tổ chức, môi giới bảo hiểm phải được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp

nhưng đều phải tuân thủ các điều kiện của pháp luật, điều kiện tiên quyết là về

năng lực và chuyên môn nghiệp vụ. Đại lý bảo hiểm phải được đào tạo và cấp

chứng chỉ. Đối với đại lý bảo hiểm là tổ chức thì tất cả những cá nhân có khả năng

đại diện cho tổ chức đại lý đều phải thỏa mãn điều kiện giống như đại lý là cá

nhân.”

Từ những phân tích trên, có thể thấy quy định hiện hành của pháp luật

32

Việt Nam về cung ứng dịch vụ BHNT là phù hợp với bản chất của lĩnh vực

kinh doanh này. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm nêu trên, vẫn còn một số

hạn chế sau đây:

Thứ nhất, Luật KDBH còn không rõ ràng trong phân loại nghiệp vụ

BHNT và cách hiểu về sản phẩm BHNT, không thống nhất về tiêu chí phân

loại cũng như có sự nhầm lẫn về bản chất của BHNT với sản phẩm BHNT.

Theo Luật KDBH, sản phẩm BHNT bao gồm: Bảo hiểm trả tiền định kỳ; Bảo

hiểm sinh kỳ; Bảo hiểm tử kỳ; Bảo hiểm trọn đời; Bảo hiểm hỗn hợp; Bảo hiểm

liên kết đầu tư và Bảo hiểm hưu trí.

Để nhất quán về tiêu chí nghiệp vụ khi phân loại, BHNT cần được chia

làm 3 loại cơ bản: bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm hỗn hợp. Lý

do chỉ nên chia thành 3 loại cơ bản này là do sự kiện bảo hiểm trong từng loại

rõ ràng là khác nhau, trong khi đó bảo hiểm hỗn hợp là loại hình BHNT cho

phép sự kiện bảo hiểm vừa là trường hợp bảo hiểm tử kỳ, vừa là trường hợp

bảo hiểm sinh kỳ. Bảo hiểm trọn đời là bảo hiểm tử kỳ còn bảo hiểm trả tiền

định kỳ là loại hình bảo hiểm sinh kỳ hoặc bảo hiểm hỗn hợp. Đối với loại hình

bảo hiểm hưu trí tự nguyện, về bản chất cũng thuộc về loại hình bảo hiểm trả

tiền định kỳ, theo thỏa thuận trong hợp đồng thì NĐBH sẽ nhận được một khoản

trợ cấp khi đến một độ tuổi nhất định (không còn trong độ tuổi lao động).

Hiện nay, không có cách hiểu chính thức về sản phẩm BHNT vì trong

các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động KDBH nói chung và BHNT nói

riêng không hề có định nghĩa về sản phẩm bảo hiểm, chỉ có sự phân biệt giữa

khái niệm loại hình bảo hiểm và khái niệm sản phẩm bảo hiểm. Vì thế, pháp

luật hiện hành còn đang thiếu các quy định điều chỉnh về sản phẩm bảo hiểm,

điều này gây khó khăn cho công tác quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh

BHNT.

Thứ hai, pháp luật quy định Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền phê

chuẩn quy tắc, điều khoản BHNT, tuy nhiên chưa quy định chi tiết, rõ ràng,

minh bạch về trình tự, thủ tục phê chuẩn sản phẩm BHNT nhằm đảm bảo quyền

và trách nhiệm của các bên. Xét về mặt nguyên tắc, thời gian Bộ Tài có văn

bản trả lời chấp thuận hay từ chối trong thời hạn 21 ngày, tuy nhiên chưa có

33

quy định cụ thể về trình tự, thủ tục phê chuẩn sản phẩm BHNT. Mặc dù theo

quy định, Bộ Tài chính là cơ quan có thẩm quyền nhưng hiện nay, Cục Quản

lý, giám sát bảo hiểm lại là cơ quan quản lý chuyên ngành, vậy chủ thể nào đã

thực tế thẩm định nội dung về quy tắc và điều khoản bảo hiểm? Các bước để

thực hiện việc phê chuẩn sẽ thực hiện như thế nào để đảm bảo đánh giá đúng?

Liệu trong quá trình phê chuẩn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cần trao

đổi và làm việc với DNBH có sản phẩm bảo hiểm đề nghị phê chuẩn hay

không?

Những vấn đề nêu trên cần được giải quyết để đảm bảo chất lượng của

hoạt động phê chuẩn cũng như xác định cụ thể trách nhiệm của các cá nhân và

tổ chức trong hoạt động phê chuẩn sản phẩm BHNT. Quá trình phê chuẩn sản

phẩm BHNT được quy định càng rõ ràng và cụ thể (về mặt thủ tục và trách

nhiệm của các tổ chức, cá nhân) có ý nghĩa rất quan trọng đối với chất lượng

hoạt động phê chuẩn, thông qua đó quyền lợi của người tham gia bảo hiểm sẽ

được bảo vệ. Nếu một sản phẩm BHNT được phê chuẩn mà không đảm bảo

yêu cầu về mặt pháp lý, chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chủ thể tham gia

bảo hiểm. Đặc biệt, việc soạn thảo nội dung các điều khoản bảo hiểm cũng có sự

ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá

trình thực hiện HĐBHNT. Hiện vẫn tồn tại HĐBHNT có các nội dung, quy định

không bảo vệ người tham gia bảo hiểm, điều này trái với nguyên tắc của Luật

KDBH nhưng vẫn được phê chuẩn và triển khai ra thị trường.

2.1.1.4. “Quy định về hoạt động đầu tư của DNBH”

Luật KDBH quy định hoạt động đầu tư vốn của DNBHNT phải đảm bảo

các nguyên tắc về an toàn, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên

đối với các cam kết theo HĐBHNT. Theo đó, một số lĩnh vực mà DNBHNT

được phép đầu tư như: mua trái phiếu Chính phủ, mua cổ phiếu, trái phiếu

doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản; góp vốn vào các doanh nghiệp khác;

cho vay theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và gửi tiền tại các tổ chức

tín dụng. Theo thông tư số 125/2012/TT-BTC, thông tư 194/2014/TT-BTC và

nghị định số 123/2011/NĐ-CP, đối với nguồn vốn chủ sở hữu được phân chia

nội dung đầu tư thành hai nhóm: Nhóm 1, đối với hoạt động đầu tư cho cơ sở

34

vật chất và trang trải chi phí kinh doanh thì thực hiện theo quy định chung;

Nhóm 2, đối với phần vốn chủ sở hữu còn lại thì được sử dụng để đầu tư tương

tự như đối với nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. Đồng thời,

để đảm bảo sự minh bạch, pháp luật cũng quy định DNBH phải tách bạch trong

hạch toán các loại nguồn đầu tư, cũng như đảm bảo ghi nhận các tài sản đầu tư

một cách thống nhất. Ngoài ra, Nghị định 46/2007/NĐ-CP không hạn chế hạn

mức mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh cũng như

gửi tiền tại các tổ chức tín dụng đối với DNBHNT. Đối với hoạt động đầu tư

cổ phiếu, trái phiếu nếu DNBHNT không có bảo lãnh hoặc góp vốn vào các

doanh nghiệp khác thì chỉ được đầu tư tối đa 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng

nghiệp vụ. Tương tự, đối với kinh doanh bất động sản hoặc cho vay, các giới

hạn này lần lượt là 40% (đối với DNBHNT). Quy định này cũng áp dụng đối

với nguồn vốn chủ sở hữu dành để đầu tư. Để bảo đảm an toàn tài chính, thông

tư 125/2012/TT-BTC cũng hướng dẫn bổ sung quy định DNBH không được

đầu tư trở lại dưới mọi hình thức cho các cổ đông/thành viên góp vốn và người

có liên quan (trừ trường hợp gửi tiền vào tổ chức tín dụng), đồng thời những tổ

chức tín dụng nhận tiền gửi phải có mức tín nhiệm cao (thuộc nhóm 1 và 2)

theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước. Theo luật định DNBH có quyền sử

dụng nguồn vốn chủ sở hữu để đầu tư ra nước ngoài với nhiều hình thức đầu tư

như thành lập DNBH, chi nhánh DNBH ở nước ngoài và các hình thức đầu tư

khác. Tuy nhiên, DNBH chỉ được đầu tư ra nước ngoài ở phần vốn tương ứng

với số chênh lệch giữa vốn chủ sở hữu vượt quá so với vốn pháp định. ” Trong

trường hợp biên khả năng thanh toán tối thiểu lớn hơn vốn pháp định, thì giới

hạn đầu tư ra nước ngoài sẽ là chênh lệch giữa vốn chủ sở hữu vượt quá biên

khả năng thanh toán tối thiểu. Một nội dung quan trọng khác cũng được quy

định trong việc thực hiện đầu tư ra nước ngoài của DNBH đó là phải được sự

chấp thuận của Bộ Tài chính khi tiến hành đầu tư, điều chỉnh và chấm dứt đầu

tư với quy trình được quy định tại thông tư 125/2012/TT-BTC.

Với những quy định trên, nhìn chung DNBHNT được thuận lợi hơn trong

hoạt động đầu tư và đa dạng hóa danh mục đầu tư. Tuy nhiên, để đảm bảo an

toàn và có cơ sở cho hoạt động giám sát ở một số hoạt động đầu tư thì cần phải

35

có giới hạn cụ thể, ví dụ như đầu tư vào cổ phiếu, góp vốn doanh nghiệp.

Ngoài ra, liên quan đến nghiệp vụ cho vay còn có sự mâu thuẫn giữa Luật

KDBH và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Theo Luật KDBH, cho vay là một trong những lĩnh vực đầu tư được thực

hiện theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, gồm cả việc cho vay độc lập

và cho vay theo HĐBHNT, tuy nhiên Điều 8 Luật KDBH lại cấm cá nhân, tổ

chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch

ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán. Điều này

có nghĩa là nghiệp vụ cho vay của DNBH hiện đang được thực hiện được xem là

không hợp pháp theo cách tiếp cận của Luật các tổ chức tín dụng vì DNBH đương

nhiên không phải là tổ chức tín dụng.

2.1.2. “Quy định về hợp đồng bảo hiểm

Các nội dung BVQLNTD liên quan đến HĐBHNT theo quy định pháp

luật hiện nay nhìn chung đã được điều chỉnh một cách đồng bộ, bảo vệ quyền

lợi của người tham gia bảo hiểm. Chẳng hạn Luật dân sự năm 2015 đã bãi bõ

quy định về HĐBH vì đây không phải là một loại hợp đồng dân sự thông

thường, đã được điều chỉnh bởi luật chuyên ngành (Luật KDBH). Việc này góp

phần làm cho hệ thống pháp luật đạt được sự thống nhất, tạo hành lang pháp lý

giúp các cơ quan xét xử dễ dàng giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan

đến HĐBHNT .. Tuy vậy, vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:

2.1.2.1. Quy định về nội dung hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Luật KDBH hiện hành chỉ quy định những nội dung cần phải có của

HĐBH nói chung mà không quy định riêng về nội dung của HĐBHNT, chẳng

hạn như ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng; nội dung về tên và địa chỉ của

DNBH; về thông tin của BMBH, NĐBH hoặc người thụ hưởng; về đối tượng

bảo hiểm và số tiền bảo hiểm phải; về phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm,

điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; về thời hạn bảo hiểm, mức phí bảo

hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm cũng như thời hạn, phương thức trả tiền

bảo hiểm hoặc bồi thường; về phương thức giải quyết tranh chấp.

Sản phẩm BHNT được DNBH cung cấp với những tiện ích thương gắn

liền với mục đích tiết kiệm, thời hạn tham gia bảo hiểm tương đối dài. Những

36

nội dung này tuy pháp luật ít đề cập đến một cách chi tiết nhưng theo thông lệ

quốc tế thì phổ biến và cũng thường được DNBH đưa vào điều khoản bảo hiểm,

ví dụ như:

• Về thời gian cân nhắc: Sau khi HĐBH có hiệu lực, BMBH có một khoảng

thời gian từ 14 đến 21 ngày để xem xét, cân nhắc về quyết định mua bảo hiểm của

mình. Nếu BMBH thay đổi ý định, không tham gia nữa thì hợp đồng chấm dứt,

DNBH sẽ hoàn lại số phí đã nộp sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý.

• “Về miễn truy xét: DNBH sẽ không truy xét trách nhiệm của BMBH

nếu BMBH vô ý kê khai không chính xác (thông thường là 2 năm) sau khi

HĐBHNT có hiệu lực hoặc phục hồi hiệu lực. ”

• Về gia hạn nộp phí: DNBH có quyền đình chỉ hợp đồng nếu quá 60

ngày kể từ ngày đến hạn, mà BMBH vẫn không nộp phí và không có thỏa thuận

khác.

• “Về từ bỏ thu phí: trong trường hợp BMBH chết hoặc thương tật toàn

bộ và vĩnh viễn, NĐBH mắc bệnh hiểm nghèo... thì BMBH sẽ không phải tiếp

tục nộp phí bảo hiểm, và HĐBHNT vẫn được duy trì đến hết thời hạn bảo hiểm. ”

• Về giá trị hoàn lại: Giá trị hoàn lại là số tiền bên mua bảo hiểm sẽ nhận

được khi yêu cầu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm trước thời hạn. Giá trị hoàn lại

bằng giá trị tài khoản hợp đồng trừ đi chi phí chấm dứt hợp đồng trước thời

hạn. Giá trị hoàn lại chỉ phát sinh sau khi khách hàng đã nộp đủ hai năm phí

bảo hiểm, sau đó giá trị hoàn lại sẽ tăng dần qua các năm. Về bản chất thì số

phí bảo hiểm đã nộp đó thuộc về BMBH nên phải được trả cho BMBH. Luật

KDBH hiện nay không trực tiếp định nghĩa về giá trị hoàn lại và quy định khi

nào HĐBHNT có giá trị hoàn lại. Tại thông tư 124/2012/TT-BTC có hướng

dẫn: trường hợp thứ nhất, thời điểm có giá trị hoàn lại có thể sớm hơn theo thỏa

thuận trong HĐBHNT; trường hợp thứ hai, đối với HĐBHNT nộp phí một lần

thì sẽ có giá trị hoàn lại ngay thời điểm nộp phí. ”

• Về việc cho vay từ giá trị hoàn lại: Đây là thoả thuận mà theo đó, kể

từ khi hợp đồng đã có giá trị hoàn lại, DNBH sẽ cho khách hàng vay một số

tiền nhất định. Việc cho vay này giúp cho BMBH vừa duy trì được hợp đồng

vừa đảm bảo cuộc sống. Số tiền vay thường không quá 80% giá trị hoàn lại.

37

Một trong những nội dung thỏa thuận vay từ giá trị hoàn lại đó là việc nộp phí

bảo hiểm tự động. Theo đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu BMBH

gặp khó khăn chưa thể nộp phí bảo hiểm đúng hạn và còn trong khoảng thời

gian gia hạn thì DNBH sẽ tự động cho BMBH vay tiền trong phạm vi giá trị

hoàn lại để nộp phí bảo hiểm. Tùy theo điều kiện của mình, bên mua bảo hiểm

có thể hoàn trả khoản vay từ giá trị hoàn lại, nếu không hoàn trả thì số tiền vay

và lãi vay sẽ được khấu trừ vào giá trị hoàn lại hoặc khấu trừ vào số tiền bảo

hiểm khi chấm dứt hợp đồng. HĐBHNT sẽ chấm dứt hiệu lực khi tổng số tiền

vay và lãi vay bằng giá trị hoàn lại.

Các thuật ngữ phổ biến trong HĐBHNT như giá trị hoàn lại, chi phí

hợp lý, ngày kỷ niệm hợp đồng,... hiện được sử dụng rất thường xuyên nhưng

Luật KDBH hiện hành lại không định nghĩa các thuật ngữ này. Năm 2006, các

DNBHNT tại Việt Nam đã thống nhất được cách hiểu 29 thuật ngữ của BHNT,

chứng tỏ đây là nội dung hết sức quan trọng [24], tuy nhiên việc thỏa thuận này

không có tính ràng buộn về mặt pháp lý.

2.1.2.2. Quy định về điều khoản mẫu và hợp đồng theo mẫu của hợp đồng

bảo hiểm nhân thọ”

Đối với các giao dịch có sử dụng hợp đồng theo mẫu hiện nay rất được

Bộ luật Dân sự và Luật BVQLNTD quan tâm, đạc biệt là việc BVQLNTD. Tuy

nhiên, Bộ luật Dân sự, Luật BVQLNTD và Luật KDBH vẫn chưa quy định

những khái niệm điều khoản mẫu của HĐBHNT, hay như vấn đề điều chỉnh

hợp đồng theo mẫu cũng chưa có cách hiểu giống nhau.

Theo quy định của Luật BVQLNTD thì hợp đồng theo mẫu là hợp đồng

do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo sẵn để thực hiện

giao dịch với NTD. Như vậy, với cách hiểu về khái niệm hợp đồng theo mẫu

của Luật BVQLNTD là hẹp hơn vì chỉ thể hiện yếu tố “mẫu” về mặt hình thức

mà chưa thể hiện được bản chất “mẫu” về mặt nội dung của loại hợp đồng mẫu

này. Hợp đồng theo mẫu được áp dụng cho nhiều khách hàng vậu nên có thể

thấy khái niệm hợp đồng theo mẫu của Luật BVQLNTD là chưa hoàn thiện.

Điều khoản mẫu chính là những nội dung còn lại của HĐBHNT, bao

gồm các thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên, có tính chất áp dụng

38

chung cho tất cả các hợp đồng của cùng một loại sản phẩm BHNT, được sử

dụng nhiều lần cho nhiều khách hàng chứ không phải cho từng khách hàng cụ

thể. Các DNBH thường nhấn mạnh với khách hàng rằng điều khoản bảo hiểm

là một phần không thể tách rời của HĐBHNT.

Xét thấy tính chất phổ biến và quan trọng của điều khoản mẫu, cần phải

được pháp luật định nghĩa cụ thể. Tuy nhiên, Luật KDBH hiện sử dụng khá phổ

biến thuật ngữ “điều khoản bảo hiểm” nhưng lại không được định nghĩa. ”

2.1.2.3. Quy định về hình thức hợp đồng bảo hiểm

Điều 14, “Luật KDBH quy định hình thức của HĐBHNT là văn bản, bằng

chứng của giao kết HĐBH là giấy yêu cầu bảo hiểm, bảng minh họa quyền lợi

bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác theo quy định. Tuy nhiên,

vẫn còn thiếu sự ghi nhận những thành tố tạo nên hình thức HĐBHNT. Trên

thực tế, không giống những hợp đồng thông thường chỉ có một văn bản duy

nhất, HĐBHNT thường bao gồm nhiều văn bản với những nội dung rất khác

nhau như: giấy yêu cầu bảo hiểm, bảng minh họa quyền lợi bảo hiểm, tập điều

khoản bảo hiểm chính, điều khoản bảo hiểm bổ trợ... Tổng hợp các văn bản này

mới tạo thành bộ HĐBHNT. Do đó, pháp luật cần ghi nhận những loại giấy tờ

nào là thành tố HĐBHNT để đảm bảo cho người tham gia bảo hiểm biết rõ về

quyền và nghĩa vụ của mình. Hiện nay còn rất nhiều trường hợp người tham

gia bảo hiểm không biết rằng tập điều khoản bảo hiểm được in sẵn chính là một

phần quan trọng của HĐBHNT mà mình đã giao kết.

2.1.2.4. “Quy định về chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm và xử lý hợp

đồng trong trường hợp có gian dối ”

Chuyển nhượng HĐBHNT là một trong những nội dung quan trọng được

pháp luật điều chỉnh. Bản chất của việc chuyển nhượng HĐBHNT là việc thay

đổi chủ thể khác đối với BMBH trong hợp đồng (kế thừa quyền và nghĩa vụ).

Lúc đó, người nhận chuyển nhượng trở thành BMBH mới để tiếp tục duy trì

hợp đồng và hưởng các quyền lợi theo hợp đồng. Về nguyên tắc, việc thay đổi

này phải đảm bảo không ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của HĐBHNT. Theo

đó, bên nhận chuyển nhượng HĐBHNT phải thỏa mãn điều kiện giống BMBH

39

như có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có quyền lợi có thể được bảo hiểm.

Luật KDBH quy định chưa hợp lý về việc chuyển nhượng HĐBH con

người vì bản chất của việc chuyển nhượng hợp đồng là việc thay thế vị trí pháp

lý về chủ thể của BMBH trong hợp đồng. BMBH có thể chuyển nhượng

HĐBHNT cho chủ thể khác để tiếp tục duy trì hợp đồng, hoặc để có một khoản

tiền hoặc không muốn hợp đồng chấm dứt ảnh hưởng đến quyền lợi của người

thụ hưởng. Điều 26, Luật KDBH có quy định vấn đề này, tuy nhiên, thực tế

điều khoản này chỉ phù hợp với HĐBH thiệt hại, khi mà BMBH đồng thời là

NĐBH (vào thời điểm mua bảo hiểm). Riêng đối với HĐBH con người, bên

chuyển nhượng (BMBH) có thể không phải là NĐBH nên quá trình chuyển

nhượng HĐBH con người còn nhiều vấn đề phát sinh.

Về việc chuyển nhượng HĐBH quy định tại Điều 26 Luật KDBH mang

tính khái quát, chung chung, chỉ ghi nhận quyền của BMBH trong việc chuyển

nhượng HĐBH cho bên thứ ba và việc chuyển nhượng này phải có sự chấp

thuận bằng văn bản của DNBH, mà chưa đề cập đến các nội dung như: điều

kiện chuyển nhượng, thủ tục chuyển nhượng, quyền hạn và trách nhiệm của các

bên trong quan hệ chuyển nhượng; hậu quả pháp lý của việc chuyển nhượng

HĐBH .v.v.

Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 quy định, nếu hợp đồng vô hiệu thì

hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi,

chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập

và các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã

nhận; bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường (Điều 127 và Điều 407).

Về nguyên tắc, nếu có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng thì hợp đồng

đó đương nhiên vô hiệu (vi phạm nguyên tắc trung thực khi giao kết). Theo quy

định tại khoản 1 Điều 132 BLDS năm 2015, trong thời hạn hai năm kể từ ngày

ký kết hợp đồng, nếu một bên phát hiện bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Toà án

tuyên bố hợp đồng là vô hiệu. Do đó, việc cung cấp sai thông tin để giao kết

HĐBH không thể dẫn đến hành vi đình chỉ thực hiện hợp đồng. ”

Đây là những nội dung quan trọng mà Luật KDBH chưa đề cập tới, dẫn

đến việc không có cơ sở pháp lý để giải quyết khi phát sinh tranh chấp. Hiện

40

nay, trong điều khoản hợp đồng BHNT thường có nội dung “DNBH không chịu

trách nhiệm về tính hiệu lực, hợp pháp, sự đầy đủ của việc chuyển nhượng hợp

đồng giữa BMBH và người được chuyển nhượng". Giả sử, việc chuyển nhượng

hợp đồng là không hợp pháp, trong khi đó DNBH lại đồng ý việc chuyển

nhượng và có sự kiện bảo hiểm xảy ra sau khi hợp đồng đã được chuyển

nhượng, như vậy trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng

này sẽ được xác định như thế nào (bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm

nhân thọ, người nhận chuyển nhượng hợp đồng và người thụ hưởng)?

Trên thực tế thì các DNBH đều thoả thuận với BMBH là không chịu

trách nhiệm về tính hợp pháp của thoả thuận chuyển nhượng, dẫn đến tình trạng

DNBH chấp nhận việc chuyển nhượng để tiếp tục thu phí, và khi có sự kiện

bảo hiểm xảy ra thì lại từ chối chi trả tiền bảo hiểm mà chỉ hoàn lại phí bảo

hiểm vì hợp đồng không còn hiệu lực.

2.1.2.5. “Quy định về cơ sở tính phí bảo hiểm”

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Luật KDBH, doanh nghiệp bảo hiểm

(DNBH) có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của HĐBH khi

có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các

rủi ro được bảo hiểm. Nếu bên mua bảo hiểm không đồng ý tăng phí bảo hiểm

thì DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện HĐBH và thông báo ngay

bằng văn bản cho BMBH biết.

Theo ý kiến của các chuyên gia, quy định như trên sẽ gây thiệt thòi cho

BMBH hoặc người thụ hưởng. Trường hợp có các yếu tố làm tăng mức độ rủi

ro thì phải phân định được nguyên nhân là khách quan hay chủ quan. Nếu mức

độ rủi ro tăng do yếu tố chủ quan thì DNBH có quyền tăng phí bảo hiểm, ví dụ

NĐBH làm công việc có tính chất nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có nếp

sinh hoạt ngày càng không đều độ, không lành mạnh, có ý thức kém trong việc

gây giảm sút sức khoẻ của chính mình,.... Nếu do nguyên nhân khách quan làm

cho rủi ro tăng lên, DNBH không thể xét đó làm cơ sở để tăng phí bảo hiểm,

trừ trường hợp có thoả thuận với BMBH, ví dụ các rủi ro khách quan như ô

nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu v.v...

Trong quan hệ bảo hiểm, tính không xác định chính là một trong những

41

yếu tố của rủi ro, là động cơ để BMBH quyết định giao kết hợp đồng, vì vậy,

DNBH không nên vì quyền lợi của riêng mình mà tự ý tăng phí bảo hiểm hoặc

đình chỉ hợp đồng khi nguyên nhân làm tăng yếu tố rủi ro là khách quan.

2.1.2.6. “Bất cập trong quy định về Quỹ bảo vệ NĐBH

Một nét đột phá của Luật KDBH (sau sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm

2019) chính là quy định về Quỹ BVNĐBH (được thành lập vào tháng 9/2014)

để bảo vệ quyền lợi của NĐBH trong trường hợp DNBH mất khả năng thanh

toán hoặc phá sản với nguồn tài chính được trích lập theo tỷ lệ phần trăm trên

phí bảo hiểm áp dụng đối với tất cả HĐBH. Quỹ BVNĐBH được quy định chi

tiết tại Nghị định số 73/2016/NĐ-CP. Theo đó, Quỹ BVNĐBH được sử dụng

để chi trả tiền bảo hiểm, giá trị hoàn lại; chi trả tiền bồi thường bảo hiểm; hoàn

phí bảo hiểm theo quy định tại HĐBH theo đề nghị của DNBH bị phá sản hoặc

mất khả năng thanh toán.

Quỹ BVNĐBH được quản lý tập trung từ ngày 18/12/2017 bởi Bộ Tài

chính thay vì Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam như trước và được hạch toán, quản

lý, theo dõi riêng đối với từng loại hình bảo hiểm. Bộ Tài chính công bố mức

trích nộp Quỹ BVNĐBH của DNBH hàng năm, tối đa không vượt quá 0,3%

tổng doanh thu phí bảo hiểm giữ lại của các HĐBH gốc (hiện nay đang là 0,1%).

Đối với DNBH kinh doanh BHNT, việc trích nộp được thực hiện cho đến khi

quy mô của Quỹ BVNĐBH đạt 3% tổng tài sản.

Tính đến thời điểm này, bên cạnh việc ghi nhận những ưu điểm đã đạt

được thì quy định về Quỹ BVNĐBH cũng còn vài bất cập cơ bản sau:”

Một là, tên gọi của Quỹ chưa bao hàm tất cả những chủ thể cần được

“bảo vệ” trong quan hệ pháp luật BHNT.

Cái tên “Quỹ BVNĐBH” về cơ bản chỉ đúng đối với bảo hiểm tài sản,

còn đối với lĩnh vực BHNT thì chưa đúng. Trong HĐBHNT, người mua bảo

hiểm và người thụ hưởng có những lợi ích liên quan đến HĐBH, thậm chí còn

nhiều hơn là NĐBH (nếu như các chủ thể này không cùng là một người) như

quyền hưởng lãi, quyền vay vốn, quyền nhận tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo

hiểm xảy ra v.v.. Thế nên, quyền lợi của NĐBH và người thụ hưởng cần được

bảo vệ khi DNBH bị phá sản hoặc mất khả năng thanh toán chứ không riêng gì

42

đối với NĐBH.

Hai là, quy định pháp luật hiện hành còn hạn chế chức năng của Quỹ, do

đó chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.

Chức năng của Quỹ BVNĐBH chỉ là hỗ trợ DNBH trong việc thanh toán

các nghĩa vụ theo HĐBHNT khi DNBH mất khả năng thanh toán hoặc bị phá

sản. Có nghĩa là, Quỹ BVNĐBH không tham gia hỗ trợ các DNBH trong quá

trình thực hiện các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán mà chỉ hỗ trợ thanh

toán chi trả tiền bảo hiểm khi những giải pháp khôi phục này không hiệu quả.

Việc hỗ trợ chuyển giao HĐBH từ DNBH phá sản hoặc mất khả năng

thanh toán sang cho DNBH khác đủ điều kiện để tiếp tục duy trì HĐBH là một

trong những chức năng tương đối quan trọng của Quỹ BVNĐBH tuy nhiên

không được pháp luật ghi nhận. Trong khi đó, rất nhiều nước như Nhật, Anh

hoặc Canada v.v., pháp luật rất quan tâm đến chức năng này để đảm bảo quyền

lợi cho NĐBH hoặc người thụ hưởng vì nếu tại thời điểm DNBH mất khả năng

thanh toán hoặc phá sản mà chưa có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì BMBH sẽ bị

thiệt thòi về quyền lợi bảo hiểm khi buộc phải chấm dứt hợp đồng trước hạn

[45]. Thậm chí, ở một số nước, Quỹ bảo vệ chủ HĐBH có thể trực tiếp là chủ

thể duy trì HĐBH cho đến khi HĐBH đáo hạn [18]. ”

2.1.3. Quy định về vấn đề giám sát của cơ quan quản lý và giải quyết

tranh chấp đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ”

“ Việc thực hiện nghĩa vụ minh bạch thông tin của các chủ thể trong hoạt

2.1.3.1. Quy định về nghĩa vụ minh bạch thông tin

động kinh doanh BHNT giúp nâng cao hiệu quả công tác giám sát của cơ quan

có thẩm quyền, bởi thông tin chính là cầu nối giữa cơ quan giám sát với DNBH

và các chủ thể khác có liên quan. Vì thế, Luật KDBH đã quy định khá cụ thể

về nghĩa vụ minh bạch thông tin.

Thứ nhất, DNBH phải minh bạch năng lực tài chính và năng lực quản lý

khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động.

Theo quy định của Luật KDBH và các văn bản hướng dẫn thì khi có

những thay đổi về vốn điều lệ, cơ cấu tổ chức hoặc người lãnh đạo thì

DNBHNT phải xin ý kiến và được sự chấp thuận của Bộ Tài chính, đồng thời

43

thực hiện công bố công khai trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được chấp thuận,

nhằm đảm bảo cho hoạt động của DNBH được giám sát một cách chặt chẽ, bảo

đảm sự an toàn trong hoạt động KDBH.

Trong quá trình hoạt động, DNBHNT có nghĩa vụ thực hiện báo cáo

thông tin chi tiết định kỳ (hàng tháng, quý, năm) và bất thường với cơ quan nhà

nước có thẩm quyền; trường hợp xảy ra những diễn biến không bình thường

trong hoạt động kinh doanh hoặc khi không bảo đảm các yêu cầu về tài chính

theo quy định để thực hiện những cam kết với BMBH thì phải báo cáo ngay về

Bộ Tài chính. Công khai gồm toàn văn báo cáo tài chính trên trang thông tin

điện tử; báo cáo thường niên, báo cáo tài chính tóm tắt công bố trên báo trung

ương hoặc địa phương. Tất cả văn bản nêu trên phải có ý kiến của tổ chức kiểm

toán độc lập trước khi thực hiện công khai. Việc công khai thông tin được thực

hiện trong thời hạn là 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.

Thứ hai, DNBHNT phải cung cấp thông tin trung thực khi giao kết và

thực hiện HĐBHNT. Sản phẩm bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, nên việc

cung cấp thông tin là hết sức quan trọng để người tham gia bảo hiểm có thể lựa

chọn cho mình sản phẩm phù hợp. Đối với BHNT, thời hạn bảo hiểm là tương

đối dài nên việc cân nhắc trước khi tham gia của BMBH lại càng quan trọng,

không những để đảm bảo cho quyền lợi của người tham gia bảo hiểm mà còn

giúp cho DNBH tránh tình trạng bị hủy hợp đồng trước thời hạn.

Luật KDBH quy định, DNBHNT có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông

tin liên quan đến HĐBHNT, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho

BMBH, đảm bảo những thông tin quảng cáo về sản phẩm là trung thực, tránh

làm cho khách hàng hiểu nhầm. Pháp luật nghiêm cấm hành vi cung cấp thông

tin và quảng cáo sai sự thật gây tổn hại quyền và lợi ích hợp pháp của BMBH.

Tài liệu giới thiệu về sản phẩm BHNT phải rõ ràng, dễ hiểu, không chứa đựng

thông tin gây hiểu nhầm và không trái với quy tắc, điều khoản bảo hiểm của

sản phẩm. Tài liệu minh họa bảo hiểm sử dụng ngôn ngữ phù hợp với đối tượng

khách hàng. Để đảm bảo quyền lợi của BMBH, DNBHNT phải thông báo cho

khách hàng các vấn đề sau: một là, các sản phẩm bổ trợ kèm theo HĐBHNT

chính không phải là điều kiện bắt buộc để duy trì hiệu lực của HĐBHNT chính;

44

hai là, HĐBHNT có giá trị hoàn lại khi có hiệu lực và đóng phí bảo hiểm đủ

hai năm trở lên hoặc có thể sớm hơn theo thỏa thuận; ba là, quyền của

DNBHNT được khấu trừ các khoản nợ chưa được hoàn trả trước khi thanh toán

giá trị hoàn lại cho BMBH.

Thứ ba, người tham gia bảo hiểm cũng phải kê khai trung thực những

thông tin có liên quan đến đối tượng bảo hiểm và được DNBH bảo mật những

thông tin này.

Người tham gia bảo hiểm thực hiện tốt nghĩa vụ này nhằm đảm bảo

quyền lợi chính đáng cho mình, giúp cho DNBH tính toán được mức độ rủi ro

bảo hiểm, cũng như đảm bảo sự công bằng cho các chủ thể tham gia bảo hiểm

khác đối với cùng một sản phẩm bảo hiểm. Khác với DNBH phải có nghĩa vụ

minh bạch thông tin trong suốt quá trình hoạt động và trong nhiều trường hợp

cụ thể, pháp luật chỉ yêu cầu nghĩa vụ này đối với người tham gia bảo hiểm khi

tiến hành giao kết và thực hiện HĐBHNT với DNBHNT.

Ngoài việc quy định BMBH phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông

tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho DNBHNT và chịu trách nhiệm về

tính chính xác, trung thực của thông tin đã cung cấp, Luật KDBH còn quy định

người tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm cung cấp những thông tin phát

sinh có liên quan như việc thay đổi mức độ rủi ro, thông báo về sự kiện bảo

hiểm... Đối với HĐBHNT, ngoài những nghĩa vụ kể trên, BMBH còn có nghĩa

vụ thông báo chính xác tuổi của NĐBH vào thời điểm giao kết HĐBHNT để

làm cơ sở tính phí bảo hiểm.

Pháp luật cũng quy định nghĩa vụ đối với DNBHNT trong vấn đề bảo

mật thông tin về người tham gia bảo hiểm. Luật Bảo vệ NTD quy định NTD

được bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch trừ

trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu, đồng thời tổ chức, cá

nhân kinh doanh phải có trách nhiệm minh bạch về mục đích sử dụng thông tin,

chỉ được chuyển giao thông tin của NTD cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của

NTD (trừ trường hợp pháp luật có quy định) và nhiều nghĩa vụ khác.

Như vậy, các quy định pháp luật hiện hành là tương đối rõ ràng và cơ

bản phù hợp với mức độ phát triển của thị trường BHNT. Tuy nhiên, vẫn còn

45

một số tồn tại như: pháp luật không có quy định về trách nhiệm trao đổi cơ sở

dữ liệu khách hàng giữa các DNBH nhằm phòng, chống trục lợi bảo hiểm; chưa

có quy định bắt buộc công khai điều khoản mẫu BHNT trên trang thông tin

điện tử của DNBH.

2.1.3.2. “Quy định về thẩm quyền giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm

nhân thọ”

Cuối tháng ba năm 2017, Bộ Công Thương và Bộ Tài chính đã tiến hành

ký kết quy chế phối hợp giữa hai Bộ trong việc phê chuẩn sản phẩm, đăng ký

hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung đối với lĩnh vực BHNT. Cho

thấy quy trình phê chuẩn, giám sát quá trình phân phối và thực hiện sản phẩm

BHNT đã được quy định cụ thể và có cải tiến. Theo quy định của Luật

BVQLNTD và Luật KDBH, doanh nghiệp kinh doanh BHNT phải thực hiện 2

thủ tục hành chính riêng biệt, đó là thủ tục phê chuẩn sản phẩm BHNT tại Bộ

Tài chính và thủ tục đăng ký HĐBHNT theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

tại Bộ Công Thương. Trong thời gian qua, việc phải thực hiện hai thủ tục nói

trên cùng lúc đã mang lại không ít khó khăn cho các doanh nghiệp KDBH. Do

đó, để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp KDBH, hai Bộ này đã thống nhất cơ chế

liên thông một đầu mối trên tinh thần nhất quán về nội dung khi hướng dẫn

doanh nghiệp KDBH thực hiện các thủ tục nói trên.

Tại Thông tư 50/2017/TT-BTC cũng có quy định các nguyên tắc khi phê

chuẩn sản phẩm BHNT như sau:

* Bộ Tài chính kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ đề nghị phê chuẩn,

đăng ký sản phẩm bảo hiểm và sự phù hợp của quy tắc, điều khoản bảo hiểm

với các quy định pháp luật hiện hành.

* Bộ Tài chính kiểm tra nội dung giải trình cơ sở kỹ thuật của sản phẩm

“Mặc dù đã có cải tiến và thuận lợi cho DNBH và NTD, tuy nhiên quy

BHNT.

“Một là, việc phân định quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản

định pháp luật về giám sát sản phẩm BHNT vẫn còn những tồn tại như:”

lý nhà nước là không rõ ràng.

Điều 47, 48, 49, Luật BVQLNTD quy định, Bộ Công thương và UBND

46

các cấp có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước đối với vấn đề BVQLNTD

và nhiệm vụ này hiện được giao cho Cục Quản lý cạnh tranh. Tuy nhiên, Luật

KDBH lại quy định Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về

lĩnh vực KDBH và Bộ Tài chính là cơ quan chuyên môn chịu trách nhiệm trước

Chính phủ về hoạt động giám sát KDBH nói chung, trong đó có lĩnh vực

BHNT. Theo Quyết định 288/QĐ- BTC, ngày 12/2/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài

chính thì hoạt động giám sát bảo hiểm được thực hiện trực tiếp bởi Cục Quản

lý, giám sát bảo hiểm trực thuộc Bộ Tài chính, thay thế cho Vụ Bảo hiểm và

theo Thông tư 50/2017/TT-BTC thì Ban kiểm soát khả năng thanh toán (trong

trường hợp DNBH không khôi phục được khả năng thanh toán) cũng có chức

năng giám sát hoạt động của DNBH, đây là một quy định rất tiến bộ của các

nhà làm luật. Ban này được lập ra để áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng

thanh toán theo quy định tại Điều 80 Luật KDBH trong trường hợp DNBH

không khôi phục được khả năng thanh toán theo yêu cầu của Bộ Tài chính quy

định tại khoản 2 Điều 67 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP. Ban này cũng thực

hiện chức năng giám sát việc triển khai thực hiện các biện pháp khôi phục khả

năng thanh toán theo phương án đã được chấp thuận. Việc giám sát được thực

hiện như sau: Giám sát thông qua các báo cáo định kỳ và đột xuất của DNBH

hoặc làm việc trực tiếp với người đại diện theo pháp luật của DNBH; Giám đốc

của chi nhánh trong trường hợp cần thiết.

Từ sự chồng chéo nêu trên, nhất thiết phải có cơ chế phối hợp quản lý

của các cơ quan chức năng. Việc phân công Cục Quản lý cạnh tranh giữ chức

năng BVQLNTD mà không có sự tách biệt rõ về cơ cấu, tổ chức chuyên môn

xét về mặt lý luận và thực tiễn đều chưa phù hợp. Về lý luận, lĩnh vực cạnh

tranh và BVQLNTD tuy có vài điểm chung nhưng về cơ bản thì khác nhau,

BVQLNTD liên quan đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng, còn

cạnh tranh là vấn đề nảy sinh giữa các doanh nghiệp với nhau. Trên thực tế, các

vụ việc liên quan đến BVQLNTD có tính chất phức tạp và “nhỏ lẻ”, cơ quan

BVQLNTD nên cần có mặt tại địa phương, đồng thời có thể giải quyết các vụ

việc trên phạm vi cả nước, nếu chỉ tập trung ở Cục Quản lý cạnh tranh thì hiệu

quả sẽ không cao. Hiện nay, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có trách nhiệm

47

liên quan với nhau vẫn chưa được ban hành.

Thứ hai, việc cơ quan giám sát bảo hiểm và các cơ quan giám sát nói

chung, vừa giữ chức năng giám sát, vừa giữ chức năng ban hành chính sách,

pháp luật dẫn đến hiệu quả giám sát chưa cao. Hiện nay, Bộ Tài chính vừa là

cơ quan ban hành các chỉ tiêu giám sát, các văn bản hướng dẫn Luật KDBH,

vừa thực hiện chức năng giám sát, bao gồm cả việc cấp phép, phê chuẩn, thanh

tra, kiểm tra,... đối với hoạt động KDBH, do đó sẽ khó tránh khỏi sự xung đột

về chức năng và lợi ích.

Thứ ba, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam là một trong những chủ thể có vai

trò quan trọng trong hoạt động giám sát KDBH nhưng không được Luật KDBH

đề cập đến, điều này làm hạn chế nhiều đến hiệu quả giám sát vì tổ chức này

có nhiều thông tin và với vai trò là tổ chức phi Chính phủ, Hiệp hội Bảo hiểm

Việt Nam sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện chức năng giám sát và phối hợp

giám sát, vũ cũng phù hợp với xu hướng hiện nay là hạn chế can thiệp hành

chính vào hoạt động kinh doanh của DNBH. Trên thực tế, Nghị định số

45/2007/NĐ-CP mặc nhiên công nhận vai trò của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam

trong việc giám sát, theo đó, Nghị định 45 quy định Nhà nước tạo điều kiện để

Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp tăng cường

vai trò tự quản trong lĩnh vực bảo hiểm và DNBH phải có nghĩa vụ thông báo

danh sách các đại lý bảo hiểm bị chấm dứt hợp đồng đại lý do vi phạm pháp

luật, vi phạm quy tắc hành nghề.

2.1.3.3 “Quy định về nội dung giám sát và phương thức giám sát đối với

hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Giám sát đối với hoạt động KDBH nói chung và BHNT nói riêng được

ghi nhận ngắn gọn trong Luật KDBH và hướng dẫn chi tiết tại Nghị định

73/2016/NĐ-CP, theo đó, các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện việc giám

sát các hoạt động nghiệp vụ, tình hình tài chính, quản trị doanh nghiệp, quản trị

rủi ro và việc chấp hành pháp luật của DNBH và có thể áp dụng các biện pháp

cần thiết để DNBH bảo đảm các yêu cầu về tài chính và thực hiện những cam

kết đối với BMBH. Hoạt động giám sát bao gồm các nội dung như việc cấp

48

phép, phê chuẩn, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm .v.v.

Theo Nghị định 98/2013/NĐ-CP ngày 28/8/2013 về xử phạt vi phạm

hành chính trong lĩnh vực KDBH, kinh doanh xổ số, những hành vi được xem

là vi phạm liên quan đến khai thác bảo hiểm như: quảng cáo sai sự thật, tài liệu

minh hoạ không rõ ràng hoặc không công khai, minh bạch dẫn đến sự hiểu lầm

của khách hàng, ép buộc giao kết hoặc không thông báo về tình trạng của

HĐBHNT, vi phạm nghĩa vụ giữ bí mật về thông tin có liên quan đến HĐBH

do BMBH cung cấp .v.v. những hành vi vi phạm nên trên đều bị xử phạt.

Luật KDBH và các văn bản hướng dẫn hiện hành không có quy định cụ

thể về phương thức giám sát. Tuy nhiên, tại các quy định về quyền hạn và trách

nhiệm của cơ quan quản lý giám sát, cho thấy việc giám sát có thể được thực

hiện theo phương thức giám sát trực tiếp hoặc phương thức giám sát gián tiếp

(hay còn gọi là giám sát từ xa). Phương thức giám sát gián tiếp được thể hiện

bằng hoạt động: cấp phép, phê chuẩn hoặc chấp thuận của Bộ Tài chính.

Phương thức giám sát trực tiếp được thực hiện thông qua hoạt động: thanh tra,

kiểm tra tại DNBH. Việc thanh tra hoạt động KDBH được thực hiện theo Điều

122 của Luật KDBH đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật về thanh tra đối

với doanh nghiệp. Việc kiểm tra hoạt động KDBH phải được thực hiện theo

đúng thẩm quyền, đúng chức năng và tuân thủ quy định pháp luật, không được

tiến hành trùng lặp và không quá một lần về cùng một nội dung trong một năm

đối với một doanh nghiệp (trừ trường hợp kiểm tra đột xuất).

Thông qua các phương thức giám sát nêu trên, cơ quan quản lý nhà nước

đã phát hiện và xử lý nhiều sai phạm của DNBH. Ví dụ: trong năm 2017, Cục

giám sát bảo hiểm đã có 6 cuộc kiểm tra chuyên đề và 2 cuộc thanh tra toàn

diện đối với các DNBH. Trong lĩnh vực BHNT, đã xảy ra một số sai phạm như:

công tác chăm sóc, chi trả quyền lợi bảo hiểm chưa thống nhất, chưa phù hợp

với quy tắc điều khoản sản phẩm, nguyên nhân chính là chất lượng của đội ngũ

đại lý bảo hiểm; việc dẫn chiếu và vận dụng các quy định pháp luật của DNBH

trong giải quyết quyền lợi bảo hiểm chưa nhất quán phần nào ảnh hưởng đến

quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, đồng thời quy trình kiểm tra, đánh giá

do chính DNBH xây dựng đã không được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc. Qua

49

thanh tra, Cục đã chấn chỉnh các DNBH có sai phạm, kiến nghị xử lý tài chính

(hạch toán tăng thu nhập chịu thuế TNDN 10,46 tỷ đồng; kê khai bổ sung thuế

TNDN 1,17 tỷ đồng). [46]”.

Nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của mình, bên cạnh

việc giám sát từ phía cơ quan quản lý nhà nước, pháp luật cũng có quy định về

mô hình giám sát nội bộ yêu cầu DNBH phải xây dựng để đánh giá khả năng

thanh toán và quản lý. Một số quy định tại Thông tư 124/2012/TT-BTC quy

định về việc DNBH thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ (theo quy định

tại Điều 15 Nghị định số 45/2007/NĐ-CP) như sau”:

• “Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ phải độc lập với các hoạt động

điều hành, hoạt động kinh doanh và đảm bảo đánh giá, phát hiện kịp thời mọi

rủi ro có nguy cơ ảnh hưởng theo chiều hướng bất lợi đến hiệu quả và mục tiêu

hoạt động của DNBH, đồng thời phản ánh ngay với cấp có thẩm quyền của

DNBH để có biện pháp xử lý thích hợp ”.

• Yêu cầu đối với gười làm công việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ là phải

có bằng đại học hoặc trên đại học, có kinh nghiệm tối thiểu ba (03) năm làm

việc trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm.

• Quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ phải được cấp có thẩm quyền quy

định tại Điều lệ tổ chức, phải đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Trong một quy trình nghiệp vụ, cho phép kiểm tra chéo giữa các cá

nhân, các bộ phận cùng tham gia;

+ DNBH phải thông báo quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ đến tất cả

người lao động của doanh nghiệp để người lao động tham gia vào hoạt động

kiểm tra, kiểm soát nội bộ một cách hiệu quả;

+ “Người quản lý điều hành và các cá nhân liên quan cần xem xét, đánh

giá thường xuyên về tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm tra, kiểm soát

nội bộ; báo cáo kịp thời với cấp quản lý trực tiếp nếu phát hiện khiếm khuyết

của hệ thống.

Nhìn chung, về khung pháp lý điều chỉnh hoạt động giám sát KDBH là

tương đối rõ, đã thể hiện được nhiều quan điểm phù hợp với thông lệ quốc tế. ”

50

2.1.3.4. “Quy định về giải quyết tranh chấp giữa DNBH và NTD”

Về giải quyết tranh chấp giữa DNBH và NTD hiện nay được pháp luật

quy định rất nhiều điểm có lợi cho NTD. Vấn đề này được thấy rõ nhất là trong

quy định tại Khoản 2 Điều 405 Bộ luật Dân sự, trường hợp hợp đồng theo mẫu

có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng mẫu phải chịu bất lợi khi

đưa ra điều khoản đó; hay tại Khoản 6 Điều 404, trường hợp bên DNBH đưa

vào hợp đồng nội dung bất lợi cho BMBH thì khi giải thích hợp đồng phải theo

hướng có lợi cho BMBH và tại Điều 15 Luật BVQLNTD, trường hợp có cách

hiểu khác nhau về nội dung hợp đồng thì tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải

quyết tranh chấp giải thích theo hướng có lợi cho NTD. Với các quy định nêu

trên thì NTD được ưu tiên bảo vệ trong các giao dịch có sử dụng hợp đồng theo

mẫu, mà cụ thể là HĐBHNT. Nội dung này cho thấy có tính chất ngoại lệ trong

quan hệ dân sự đơn thuần”.

Tại khoản 3 Điều 405 Bộ luật Dân sự quy định, khi hợp đồng theo mẫu

có điều khoản miễn trách nhiệm của bên thiết kế hợp đồng mẫu và tăng trách

nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên còn lại thì điều khoản này

không có hiệu lực, trừ trường hợp có sự thỏa thuận khác. Đây là một trong

những quy định có tính "chế tài" đối với những giao dịch có khả năng gây bất

lợi cho NTD nhằm đảm bảo sự công bằng giữa người tham gia bảo hiểm và

DNBH trong quan hệ HĐBHNT. Tuy nhiên, quy định "trừ trường hợp có thỏa

thuận khác" lại thể hiện sự mâu thuẫn với nội dung nêu trên, có thể làm triệt

tiêu cơ chế bảo vệ NTD bởi vì những cơ quan giải quyết tranh chấp luôn tôn

trọng sự thỏa thuận giữa các bên, cho dù các thỏa thuận này có "điều khoản

miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc

loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia". Như vậy, BLDS chỉ đưa ra những

quy định mang tính nguyên tắc, chưa thể hiện được mục đích bảo vệ đến cùng

các quyền và lợi ích chính đáng của NTD.

Để khắc phục hạn chế trên, Điều 16 Luật BVQLNTD quy định, cơ quan

có thẩm quyền có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch

vụ phải sửa đổi, hủy bỏ nội dung vi phạm trong trường hợp nội dung của hợp

đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung vi phạm pháp luật về BVQLNTD

51

hoặc trái với nguyên tắc chung về giao kết hợp đồng. Cơ quan có thẩm quyền

yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh phải giải trình, làm rõ các nội dung trong

hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung không rõ ràng hoặc có thể làm

cho khách hàng có nhiều cách hiểu khác nhau. Điều 21 Luật KDBH quy định

về giải thích HĐBH theo hướng có lợi cho BMBH,” Trong trường hợp hợp

đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích

theo hướng có lợi cho BMBH”. Tuy vậy, quy định này chỉ dừng lại ở nguyên

tắc giải thích HĐBH mà không nói cụ thể cách giải thích hợp đồng này như thế

nào. Do đó, khi xảy ra tranh chấp, việc giải thích hợp đồng bảo hiểm sẽ căn cứ

vào quy định khác của pháp luật (nếu có).

Hiện nay, cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến QLNTD trong lĩnh

vực KDBH và lĩnh vực BVQLNTD hoàn toàn thuần túy dựa vào các phương

thức giải quyết theo cơ chế dân sự. Theo Luật BVQLNTD, cơ chế giải quyết

tranh chấp gồm: hòa giải, thương lượng, trọng tài hoặc tòa án (từ Điều 30 đến

Điều 46). Luật KDBH không quy định cụ thể mà được dẫn chiếu đến Điều 12

Bộ luật Dân sự. Ngoài ra, Điều 25 Luật BVQLNTD còn quy định thêm nội

dung về khiếu nại của NTD sẽ được cơ quan quản lý nhà nước BVQLNTD cấp

huyện giải quyết nếu khiếu nại đó gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi

ích của NTD, lợi ích công cộng. Trong khí đó, cơ quan này hiện nay vẫn chưa

được hình thành cụ thể (hiện nay nhiều cá nhân, tổ chức vẫn cho rằng đó là Ủy

ban nhân dân cấp huyện), thêm vào đó, việc chứng minh đủ điều kiện để thực

hiện việc khiếu nại đến cơ quan này là không dễ dàng.

Về thời hiệu khởi kiện tranh chấp cũng chưa được thống nhất. Theo quy

định tại Điều 30, Luật KDBH: “Thời hiệu khởi kiện về HĐBH là ba năm, kể từ

thời điểm phát sinh tranh chấp”. Điều 184, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS)

năm 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện như sau:

“1. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết các vụ việc dân sự

được thực hiện theo quy định của BLDS.

2. Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời

hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra

52

trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.

Trừ trường hợp việc từ chối áp dụng thời hiệu nhằm mục đích trốn tránh

thực hiện nghĩa vụ, người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền

từ chối áp dụng thời hiệu.”

BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi bổ sung theo hướng dẫn chiếu tới các qui

định tương ứng của Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015, về thời hiệu khởi kiện ở

một số điều luật như sau:

Điều 429 quy định thời hiệu khởi kiện về hợp đồng, “Thời hiệu khởi kiện

để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 03 năm kể từ ngày

người yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp của mình pháp bị xâm

phạm”.

Dù rằng thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 30 Luật KDBH và Điều

429 BLDS năm 2015 đều là 03 năm, nhưng cách tính bắt đầu thời hiệu khởi

kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại khác nhau hoàn toàn về mặt ngữ nghĩa, từ

đó, cũng khác nhau về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu. Chẳng hạn như, tại Điều

30 Luật KDBH, thời hiệu khởi kiện bắt đầu tính kể từ thời điểm phát sinh tranh

chấp, có nghĩa là sau khi sự kiện pháp lý xảy ra, có thiệt hại về quyền lợi nhưng

họ chưa thực hiện quyền khởi kiện ngay, đến một thời gian sau đó, có thể là 5

tháng, 9 tháng hoặc 2 năm sau đó họ mới chính thức yêu cầu bên có nghĩa vụ thực

hiện trách nhiệm của mình. Quá trình đó, nếu hai bên không thống nhất được kết

quả giải quyết, thì thời điểm phát sinh tranh chấp được tính kể từ khi hai bên không

đạt được sự thỏa thuận. Tại Điều 429, BLDS năm 2015 thì lại quy định thời hiệu

khởi kiện bắt đầu tính kể từ ngày người yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi

ích hợp của mình pháp bị xâm phạm.

Ví dụ minh họa như sau, ngày 20/6/2019, chị L.T.H làm hợp đồng mua

BHNT Bảo Việt cho anh N.V.T với tổng số tiền hơn 06 triệu đồng, đóng phí

kỳ 6 tháng, một năm đóng hai lần. Khi mua bảo hiểm, họ chưa phải là vợ chồng

hợp pháp, 10 ngày sau đó họ đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của chị H. Ngày 09/7/2019, anh H đột ngột qua đời tại Bệnh

viện đa khoa khu vực huyện M, tỉnh Đồng Nai do nhồi máu cơ tim cấp. Sau khi

anh T chết, ngày 25/7/2019 chị H liên hệ với Chi nhánh của Công ty BHNT Bảo Việt, tại tỉnh Đồng Nai nộp hồ sơ để yêu cầu thực hiện chi trả quyền lợi

53

bảo hiểm. Chờ đợi một thời gian rất lâu nhưng phía Công ty BHNT Bảo Việt vẫn chưa phản hồi kết quả giải quyết, ngày 10/01/2020 chị H tiếp tục liên hệ

đến Công ty thì được trả lời, “đang tiếp tục thu thập chứng cứ", do đó, ngày

14/02/2020 chị H làm đơn khởi kiện Công ty BHNT Bảo Việt ra Tòa án để giải

quyết.

Từ ví dụ minh họa trên, cho thấy căn cứ để tính thời hiệu khởi kiện của

chị H yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ sự kiện

pháp lý trên theo BLDS và theo Luật KDBH là khác nhau, cụ thể:

+ Theo Điều 429 BLDS, thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết

bắt đầu tính là ngày 10/01/2020 (ngày chị H nhận kết quả phản hồi từ phía Công

ty BHNT Bảo Việt, hay nói cách khác, đó là ngày chị H biết được quyền và lợi

ích hợp pháp của mình pháp bị xâm phạm.)

+ Theo Điều 30 Luật KDBH, ngày bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là

ngày 14/02/2020 (ngày chị H không đồng ý với kết quả giải quyết cuối cùng

của phía Công ty BHNT Bảo Việt, nên từ đó phát sinh tranh chấp, chị H đã nộp

đơn khởi kiện).

2.1.4. Bất cập trong nội dung một số quy định giữa Luật Kinh doanh

bảo hiểm, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Thứ nhất, việc ưu tiên áp dụng luật nào để bảo vệ NTD khi tham gia

BHNT có nhiều nội dung giữa Luật KDBH và Luật BVQLNTD không thống

nhất với nhau.

Có nhiều vấn đề cùng được điều chỉnh bởi cả hai Luật, đặc biệt là các

văn bản pháp luật có hiệu lực ngang nhau, việc ưu tiên áp dụng văn bản pháp

luật nào là một vấn đề tương đối phức tạp trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Chẳng hạn như vấn đề về minh bạch thông tin, về hợp đồng theo mẫu hay về

trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ bảo hiểm trong thời hạn hợp đồng v.v.

Luật Ban hành VBQPPL có quy định, trường hợp những VBQPPL có

những quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì sẽ áp dụng VBQPPL có hiệu

lực pháp lý cao hơn và nếu trường hợp các VBQPPL do cùng một cơ quan ban

hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì sẽ áp dụng quy định

của VBQPPL được ban hành sau [43]. Tuy nhiên, theo luật KDBH thì hoạt

động KDBH phải tuân thủ đúng quy định cũng như các văn bản pháp luật hướng

dẫn khác liên quan tại Điều 2 Khoản 1, mà không nêu rõ nếu điều chỉnh cùng

54

một nội dung thì sẽ ưu tiên áp dụng văn bản nào. Luật BVQLNTD ghi nhận

nguyên tắc áp dụng Luật này đối với hoạt động BVQLNTD trên lãnh thổ Việt

Nam tại Điều 1 và 2, có thể hiểu là gồm cả vấn đề BVQLNTD trong lĩnh vực

BHNT. Hai luật nêu trên, về thời gian ban hành (sửa đổi) đều là năm 2010, đều

do Quốc hội ban hành, nên việc xem xét áp dụng văn bản trở nên phức tạp, cần

được bổ sung, sửa đổi cho thống nhất hoặc ít nhất cũng cần có hướng dẫn cụ

thể để nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật. ”

Thứ hai, Luật BVQLNTD yêu cầu đối với người cung cấp hàng hóa, dịch

vụ là vấn đề niêm yết giá, tuy nhiên trong Luật KDBH lại không đặt ra trách

nhiệm này.

Nếu áp dụng quy định của Luật BVQLNTD yêu cầu người cung cấp hàng

hóa, dịch vụ niêm yết giá tại địa điểm kinh doanh, văn phòng tại khoản 2 Điều

12 cho sản phẩm BHNT thì còn nhiều bất cập. Vì đặc điểm của sản phẩm bảo

hiểm là phụ thuộc vào năng lực tài chính của BMBH. Với mỗi số tiền bảo hiểm

khác nhau thì sẽ có một mức phí bảo hiểm khác nhau. BMBH có thể lựa chọn

nộp phí bảo biểm theo tháng, theo quý hoặc 6 tháng hoặc năm tương ứng với

mức phí khác nhau. Do đó, việc niêm yết giá trong trường hợp này đối với

DNBH là không khả thi.

2.2. “Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ hiện nay tại tỉnh Đồng Nai

Tính đến 31/12/2020, thị trường BHNT Việt Nam đã có 18 DNBH nhân

thọ tham gia, cung cấp đa dạng các quyền lợi bảo hiểm dịch vụ cho gần 9 triệu

hợp đồng chính và 14,5 triệu hợp đồng bảo hiểm bổ trợ. Tốc độ tăng trưởng

bình quân doanh thu phí hàng năm ước đạt 26%, tổng số tiền bảo hiểm chi trả

bình quân hàng năm ước tính 10.000 tỷ đồng với số lượng hồ sơ yêu cầu giải

quyết quyền lợi bảo hiểm bình quân trên 600.000 hồ sơ/năm. [52]

Số lượng hợp đồng khai thác mới của các sản phẩm bảo hiểm chính hàng

năm có mức tăng trưởng ổn định. Theo số liệu từ niên giám, thị trường bảo hiểm Việt Nam của Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm, trong năm 2016, số lượng hợp đồng khai thác mới của các sản phẩm bảo hiểm chính đạt 1.538.896

hợp đồng, tăng 18,93% so với năm 2015. Tổng doanh thu phí bảo hiểm của các

hợp đồng khai thác mới của các sản phẩm bảo hiểm chính đạt 15.891 tỷ đồng,

55

tăng 30,52% so với năm 2015. Đến năm 2019, số lượng hợp đồng khai thác mới của các sản phẩm bảo hiểm chính đạt 2.716.671 hợp đồng, tăng 20,84% so

với năm 2018. Trong đó, số lượng hợp đồng bảo hiểm cá nhân đạt 2.716.334

hợp đồng, số lượng hợp đồng bảo hiểm nhóm đạt 337 hợp đồng (tương ứng với

số lượng thành viên trong nhóm được bảo hiểm là 108.322 người). Tổng doanh

thu phí bảo hiểm của các hợp đồng khai thác mới của các sản phẩm bảo hiểm

chính đạt 30.722 tỷ đồng, tăng 15,13% so với năm 2018. [51]

Số lượng hợp đồng có hiệu lực của các sản phẩm bảo hiểm chính trong

năm 2016, tổng số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực của các sản phẩm bảo hiểm

chính đạt 6.395.262 hợp đồng, tăng 14,03% so với năm 2015, tổng phí bảo

hiểm của các hợp đồng có hiệu lực là 50.497 tỷ đồng, tăng 31,95% so với năm

2015. Năm 2019 đạt 10.274.339 hợp đồng, tăng 18,4% so với năm 2018, tổng

phí bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực là 106.640 tỷ đồng, tăng

23,75% so với năm 2018. Thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm của các hợp

đồng bảo hiểm có hiệu lực như sau: Bảo Việt nhân thọ (23,87%), Prudential

(20,82%), Manulife (14,14%), Dai-ichi (12,24%), AIA (10,73%), Chubb

(3,31%), Hanwha (2,67%), Generali (2,51%). Các doanh nghiệp còn lại chiếm

9,71% thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm có

hiệu lực. [51]

Về tình hình trả tiền bảo hiểm, tổng số tiền bảo hiểm các doanh nghiệp

đã chi trả trong năm các năm qua đều tăng. Năm 2016 tổng số tiền bảo hiểm

các doanh nghiệp đã chi trả cho các sản phẩm bảo hiểm là 12.363 tỷ đồng; trong

đó trả giá trị tiền bảo hiểm gốc là 7.766 tỷ đồng, trả giá trị hoàn lại là 2.373 tỷ

đồng, trả tiền đáo hạn là 2.223 tỷ đồng. Năm 2019 cho các sản phẩm bảo hiểm

là 22.854 tỷ đồng; trong đó trả giá trị tiền bảo hiểm gốc là 8.097 tỷ đồng, trả

giá trị hoàn lại là 6.474 tỷ đồng, trả tiền đáo hạn là 8.283 tỷ đồng. Số tiền chi

trả bảo hiểm tập trung chủ yếu vào các sản phẩm hỗn hợp và bảo hiểm liên kết

đầu tư.

Trong giai đoạn 2016 - 2019, số lượng hợp đồng khai thác mới có tốc độ tăng trưởng ổn định, tuy nhiên trong cùng khoảng thời gian, số lượng hợp đồng

có hiệu lực có mức tăng trưởng thấp, cho thấy tỷ lệ duy trì hợp đồng ở mức

thấp, rất nhiều HĐBH bị khách hàng hủy bỏ. Trong năm 2019 có 436.749 hợp đồng bị hủy bỏ.

56

Tình hình hủy bỏ hợp đồng năm 2019

Trong năm hợp Trong năm hợp Trong năm Nghiệp vụ đồng thứ nhất đồng thứ hai hợp đồng sau

Bảo hiểm trọn đời 160 307 2.741

Bảo hiểm sinh kỳ 0 - 75

Bảo hiểm tử kỳ 27.903 57.579 25.791

Bảo hiểm hỗn hợp 58.935 73.580 86.668

Bảo hiểm trả tiền định kỳ 628 448 628

Bảo hiểm liên kết đầu tư 31.102 33.279 36.919

Bảo hiểm hưu trí 8

Tổng 118.735 165.192 152.822

Nguồn: Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm, Bộ Tài chính

Nhận thức của người dân về bảo hiểm trong những năm gần đây được

nâng lên, nhưng một thách thức tồn tại trong hơn 20 năm qua là hiện vẫn chỉ

có một tỷ lệ rất nhỏ người dân Việt Nam tham gia BHNT. Xét về khía cạnh khả

năng tài chính của khách hàng thì lý do chính của tình trạng trên là bở còn một

số lượng lớn người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết

phải sở hữu một HĐBHNT và nguyên nhân quan trọng hơn nữa là do những

"điều tiếng" và tranh chấp của các DNBH với khách hàng trong thời gian qua

làm cho NTD dần dần mất niềm tin vào các công ty bảo hiểm.

2.2.1. Thực tiễn quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân

thọ giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tiêu dùng

Một số nghệ thuật hay các “chiêu bài” mà các DNBH đang sử dụng để

tiếp cận và mời gọi NTD tham gia bảo hiểm như:

* Khi quảng cáo các sản phẩm bảo hiểm đặc biệt là BHNT, DNBH

thường chỉ đề cập đến các ưu điểm và cố gắng khắc họa nó thật nổi bật để làm

cho khách hàng chỉ tập trung vào các quyền lợi hấp dẫn đó, dẫn đến việc hiểu

không đầy đủ về HĐBHNT. Ví dụ như trong HĐBHNT thường có nội dung

thu hút sự chú ý của khách hàng như về chia lãi và các quyền lợi khác đi kèm

hấp dẫn hơn. Tất nhiên các HĐBHNT có chia lãi thường sẽ có mức phí bảo

57

hiểm cao hơn, dẫn đến hạn chế khả năng duy trì hợp đồng, điều này các DNBH

rất ít đề cập hoặc là không đề cập tới. Vì vậy khách hàng đã không lường trước

được và thường gặp trường hợp vi phạm về nghĩa vụ nộp phí.

* Ngoài ra, quảng bá trên phương tiện thông tin đại chúng và đại lý

BHNT cũng là một kênh tiếp thị được đa số DNBHNT sử dụng. Tuy nhiên, khi

đại lý mô tả sản phẩm bảo hiểm thường chỉ giới thiệu về những quyền lợi mà

NTD sẽ được hưởng, có thể gọi là tình trạng “bán mùi thơi” của sản phẩm mà

bỏ qua những chi tiết quan trọng như giá trị hoàn lại của HĐBHNT, những

nghĩa vụ cần tuân thủ như thời hạn nộp phí bảo hiểm, nghĩa vụ kê khai thông

tin cá nhân chi tiết và trung thực,... Chính bản thân các đại lý cũng có suy nghĩ

rằng nếu bản thân mình là khách hàng và phải đối mặt với quá nhiều nghĩa vụ

có thể khách hàng sẽ cân nhắc và không tham gia bảo hiểm, điều này làm cho

đại lý thường bỏ qua việc phải mô tả chi tiết về sản phẩm, dẫn đến việc khách

hàng không hiểu đầy đủ về sản phẩm bảo hiểm của mình, gây ảnh hưởng đến

quyền lợi của khách hàng hoặc dẫn đến phát sinh tranh chấp về sau.

Ví dụ như năm 2016, hàng loạt khách hàng ở công ty bảo hiểm nhân thọ

Prudential Đồng Nai đến hủy bỏ hợp đồng vì không đủ khả năng tài chính theo

đuổi đến khi đáo hạn [36]. Năm 2015, chị B và nhiều khách hàng đã ký

HĐBHNT Phú, có bảo tức, tích luỹ định kỳ gia tăng, có thời hạn là 12 năm,

mức đóng phí hàng năm gần 6.150.000 đồng, khi đáo hạn chị B sẽ nhận được

97.950.790 đồng. Chị B đã đóng phí được 3 năm, đến năm thứ 4, do được cộng

tiền bảo tức theo định kỳ nên chỉ phải đóng thêm 1.150.000 đồng nữa. Như vậy,

tính đến năm 2018, chị B đã đóng phí được 4 năm, với tổng số tiền 19.600.000

đồng. Năm 2019, do không còn khả năng theo đuổi HĐBHNT, chị B đã ngừng

nộp phí. Cũng trong năm 2019, chị đến Công ty để thanh lý HĐBHNT thì được

nhân viên của công ty thông tin rằng số tiền chị được nhận lại là 8.907.366

đồng (do đã trừ phí bảo hiểm mà công ty tự đóng cho khách hàng). Thấy số tiền

được nhận lại quá ít, chưa bằng một nửa so với số đã nộp, chị B không đồng ý

nhận và được nhân viên tư vấn, nên để hợp đồng lại, vài năm sau hãy phá thì

số tiền được nhận sẽ cao hơn. Tin tưởng nên mãi đến cuối tháng 7 năm 2019,

chị B mới trở lại để làm thủ tục thanh lý hợp đồng. Tuy nhiên, cũng như lần

58

trước, lần này mức tiền mà chị B được nhận lại theo tính toán của nhân viên

cũng chỉ có 8.907.366 đồng. Trả lời thắc mắc của chị, nhân viên vẫn nêu ra lý

do rằng khi đến hạn chị đã không nộp phí nên DNBH đã tự đóng, vì phải trừ đi

số phí này, cộng thêm “lãi suất” của số tiền mà DNBH tự đóng, nên số tiền mà

chị B được nhận còn lại là 8.907.366 đồng. Như vậy, trong trường hợp của chị

B, so sánh giữa số tiền đã đóng và số được nhận lại, có thể nói chị B đã bị thiệt

hơn 2/3 số tiền đã nộp. Điều đáng quan tâm là trong suốt thời gian ngừng đóng

phí, chị B cùng với rất nhiều khách hàng khác cùng hoàn cảnh đều không hề

nhận được bất cứ thông báo nào từ Công ty Prudential về việc “nếu không tiếp

tục đóng phí hàng năm, khách hàng sẽ bị DNBH tự động đóng và trừ vào số

tiền đã nộp” mà chỉ có thông báo yêu cầu đóng phí được gửi đến khách hàng

mỗi năm vào thời hạn nộp tiền. Trước khi tiến hành ký HĐBHNT, đại lý cũng

không tư vấn rõ ràng, cụ thể để khách hàng hiểu rõ hết vấn đề nêu trên. Trên

HĐBH được ký giữa Prudential với khách hàng cũng chỉ có những điều khoản

mơ hồ, khó hiểu về “giá trị hoàn lại, giảm thu nhập đầu tư ...” khiến cho khách

hàng như lâm vào “ma trận”, không thể nào biết được nếu không tiếp tục đóng

phí thì quyền lợi của mình sẽ bị “khấu trừ”. Ví dụ trên đây cho thấy đại lý bảo

hiểm đã cố ý bỏ qua những nội dung cần thiết phải cho khách hàng biết nó có

thể gây bất lợi cho khách hàng mặc dù bất lợi đó phụ thuộc vào hành vi của

khách hàng.

* Khi tư vấn chốt với khách hàng, các đại lý giải thích rất mập mờ giữa

quyền lợi có bảo đảm và quyền lợi không bảo đảm, cố tình khẳng định mức lãi

suất không bảo đảm như là một cam kết chắc chắn của DNBH hoặc mức lãi có

đảm bảo (chắc chắn) với tổng số phí bảo hiểm với mục đích để khách hàng

đồng ý ký hồng đồng.

* Trong quá trình chuẩn bị giao kết HĐBHNT, khách hàng chỉ được xem

các tờ quảng cáo, bảng minh họa quyền lợi bảo hiểm nhưng không được cung

cấp toàn văn nội dung hợp đồng. Chỉ khi khách hàng đồng ý ký hợp đồng, hoàn

tất các thủ tục kê khai và được DNBH chấp nhận bảo hiểm, khách hàng mới

được cung cấp đầy đủ bộ HĐBHNT, bao gồm cả tập điều khoản mẫu. Thực

chất, khi hợp đồng đã được ký kết, khách hàng mới nghiên cứu được kỹ về nội

59

dung hợp đồng. Trên thực tế, mặc dù các DNBH có dành một thời gian (từ 14

đến 21 ngày) để khách hàng việc hủy hợp đồng, tuy vậy sự bất lợi tất nhiên

thuộc về khách hàng, chẳng hạn như khi hủy hợp đồng, khách hàng phải chịu

chi phí hợp lý có liên quan như chi phí khám nghiệm y khoa, chi phí phát hành

các văn bản v.v.

Trong quá trình thực hiện HĐBHNT, đã có nhiều tranh chấp xảy ra,

nguyên nhân chủ yếu phần lớn xuất phát từ giai đoạn ký kết hợp đồng, gây thiệt

hại cho các bên, có khả năng dẫn đến tranh chấp kéo dài. Theo quy định, việc

kê khai hồ sơ yêu cầu bảo hiểm phải đầy đủ thông tin và chính xác. Nhiều

trường hợp BMBH khi kê khai hồ sơ yêu cầu BHNT không cẩn thận, thông tin

không chính xác và không lường được hậu quả mà họ buộc phải biết. Nhiều đại

lý bảo hiểm vì muốn khách hàng ký kết hợp đồng nhanh chóng nên đã rất cẩu

thả trong việc tư vấn cho BMBH kê khai theo kiểu chiếu lệ. Trong quan hệ

HĐBHNT, nguyên tắc trung thực là nguyên tắc cao nhất phải được các bên

tuân thủ. Trong quan hệ dân sự, khi không có chứng cứ để chứng minh là thông

tin đưa ra do cẩu thả thì có thể bị xem là cố ý đưa thông tin sai sự thật, khi đó

DNBHNT có quyền từ chối chi trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy

ra.

Bên mua bảo hiểm nhầm lẫn khi kê khai hồ sơ yêu cầu bảo hiểm được

hiểu là họ có thể đã không nhớ chính xác hoặc không hiểu đúng về yêu cầu kê

khai dẫn đến việc kê khai sai. Thực tế thì hồ sơ yêu cầu bảo hiểm có nhiều thuật

ngữ mang tính chuyên môn, nếu không được đại lý (tư vấn viên) giải thích và

hướng dẫn rõ thì rất dễ gây nên sự nhầm lẫn cho khách hàng trong việc thực

hiện kê khai. Ngoài ra còn có những câu hỏi về lý lịch sức khỏe với nội dung

rất rộng, nếu không có sự chuẩn bị thông tin trước đó thì người kê khai rất khó

có thể kê khai chính xác, vì phần lớn họ không nhớ chính xác hoặc không biết,

dẫn đến trả lời không đúng.

* Có thể nói, DNBHNT và các đại lý bảo hiểm chưa thực sự đặt quyền

lợi của khách hàng là quan trọng, mặc dù đây được coi là yếu tố có tính quyết

định và cơ bản nhất của loại hình KDBHNT. Để hiểu rõ hơn về ý kiến này, học

60

viên xin đưa ra hai trường hợp cụ thể vừa xảy ra như sau:

Trường hợp 1: Theo Báo Việt Nam mới đưa tin ngày 05/6/2019, chị Trần

Thị A có hộ khẩu tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Năm 2010, chị A có

mua ba HĐBHNT của Công ty Prudential cho bản thân và hai người con từ một

đại lý (tư vấn viên) tên là Đỗ Văn H. Mỗi HĐBHNT có giá trị cả 100 triệu

đồng, phí đóng mỗi năm của một HĐBHNT là hơn 7 triệu đồng. Khi bán bảo

hiểm cho chị A thì H có nói là sẽ đến thu tiền trực tiếp từ gia đình, không phải

đi đến nơi thu hộ nào khác để đóng phí. Trong 3 năm (2016, 2017, 2018), chị

A đã đóng phí bảo hiểm cho ông H số tiền gần 65 triệu đồng. Đến cuối năm

2017, đầu 2018 gia đình chị không thấy ông H đến thu tiền nên đã gọi điện hối

mấy lần nhưng ông H đều báo bận không qua được và có nói cứ để đó sẽ qua

thu sau. Tin tưởng nhân viên của công ty bảo hiểm nên bẵng đi một thời gian,

đến cuối năm 2018, vẫn không thấy ông H đến thu tiền bảo hiểm, chị sinh nghi

mới gọi điện lên hỏi trung tâm chăm sóc khách hàng của Prudential để hỏi về

hợp đồng và tại sao không có nhân viên tới thu tiền bảo hiểm thì được biết ba

hợp đồng của chị bị mất hiệu lực do quá 24 tháng không đóng phí và các số

điện thoại nhập trên hệ thống liên quan tới người đứng tên hợp đồng không

chính xác, không thể liên lạc được. Công ty đưa ra lý do là đã lưu nhầm số điện

thoại của chị A và H “quên” không thu tiền bảo hiểm. Quá bức xúc vì cách làm

việc thiếu trách nhiệm của nhân viên công ty, chị A yêu cầu chấm dứt hợp đồng,

nhân viên tư vấn thông tin cho chị rằng nếu chấm dứt hợp đồng chị không nhận

được tiền gốc mà chỉ thu lại được vài trăm ngàn đồng cho mỗi hợp đồng mà

thôi. Chị A không đồng ý và đã nhiều lần làm đơn khiếu nại mong được khôi

phục hợp đồng nhưng không được phúc đáp, giải quyết. Đến ngày 18/5/2018,

tức là khoảng 1 năm rưỡi sau ngày gửi đơn khiếu nại, chị A nhận được văn bản

trả lời từ Công ty Prudential rằng không thể khôi phục được hợp đồng cho chị

và nếu khôi phục sẽ phải mất một số tiền rất lớn, số tiền để khôi phục cho mỗi

hợp đồng được phía công ty đưa ra là 64.140.000 đồng. Như vậy, nếu khôi phục

cả 3 hợp đồng này thì phải tốn thêm khoảng 190.000.000 đồng. Trong khi nếu

đóng phí định kỳ đúng hạn cho 4 năm (2013-2016) thì mỗi hợp đồng chỉ mất

khoảng hơn 29 triệu đồng. Với 64.140.000.000 đồng để khôi phục mỗi hợp

61

đồng thì chị phải mất phí phạt khoảng 35.000.000 đồng. Ba hợp đồng mất phí

phạt 105.000.000 đồng dù lỗi hoàn toàn từ phía đại lý và công ty. Tuy vậy, dù

đã đóng phí để khôi phục 3 hợp đồng nhưng khi thực hiện thủ tục khôi phục

hợp đồng lại quá phức tạp khiến chị càng thêm bức xúc. Do Công ty bốc thăm

một trong ba hợp đồng để lập thủ tục, bốc thăm trúng hợp đồng của con gái chị

và yêu cầu là phải có giấy khám sức khỏe trong khi con gái chị đang du học ở

Australia, do chưa có giấy khám sức khỏe nên chưa thể khôi phục được hợp

đồng. Quá bức xúc với sự việc trren, chị A đã nhờ người em gái đi cùng dùng

điện thoại quay lại sự việc khi bị Công ty Pudential đuổi ra ngoài và sự việc

này đã tạo nên nhiều tranh luận trong dư luận xã hội. [1]

Trường hợp 2: anh Nguyễn Duy H (Đồng Nai), mua bảo hiểm nhân thọ

của Công ty AIA Việt Nam vào ngày 20/8/2015, nhưng ngay ngày hôm sau

(21/8/2015) anh đã qua đời vì tai nạn giao thông, trong khi đó bảng minh họa

được lập và in trên hệ thống của AIA Việt Nam vào ngày 22/8/2015 (một ngày

sau khi khách hàng qua đời) thì vẫn chưa tìm được dữ liệu của đại lý bảo hiểm.

Sau khi xem xét hồ sơ yêu cầu bồi thường, AIA Việt Nam quyết định từ chối chi

trả quyền lợi bảo hiểm với lý do không trùng khớp chữ ký của anh H tại hồ sơ bảo

hiểm với các giấy tờ khác như biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe, giấy khám

sức khỏe, tờ khai lệ phí trước bạ..., thậm chí, chữ ký và chữ viết trong các giấy tờ

trên cũng không phải do cùng một người thực hiện. [48]

Phân tích nguyên nhân của những vụ tranh chấp trên, cho thấy nguyên

nhân chính đều xuất phát từ hành vi cẩu thả và thiếu trách nhiệm của đại lý bảo

hiểm và sự "thiếu trách nhiệm" của các DNBH trong việc quản lý đội ngũ đại

lý, tư vấn viên của mình, điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của

khách hàng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

2.2.2. Thực tiễn hoạt động giám sát kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Để đảm bảo cho các chủ thể liên quan thực hiện hành vi một cách có

trách nhiệm đối với quyền lợi của người tham gia bảo hiểm thì hoạt động giám

sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

giữ một vai trò đặc biệt quan trọng.

62

2.2.2.1. Thực hiện minh bạch thông tin còn nhiều hạn chế

Thứ nhất, việc công khai các điều khoản bảo hiểm trên các phương tiện

thông tin chưa được các DNBHNT chú trọng đến, đặc biệt là trên trang thông

tin điện tử của doanh nghiệp mình. Một phần nguyên nhân có thể lý giải là do

động lực cạnh tranh giữa các DNBH, nhưng như thế sẽ không đảm bảo sự được

sự công khai và minh bạch trong khi khách hàng không có khả năng so sánh

giữa các sản phẩm BHNT với nhau. Về vấn đề này, các DNBH có vốn đầu tư

nước ngoài thực hiện tốt hơn so với DNBH trong nước. Hiện nay, DNBH thường

chỉ công khai điều khoản mẫu BHNT liên kết đầu tư, còn những loại hình BHNT

khác thường ít được công bố, phần nào ảnh hưởng đến khả năng duy trì HĐBHNT

của BMBH trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Thứ hai, các điều khoản HĐBHNT hiện nay nhìn chung thường có nội

dung khó hiểu, mập mờ, rất dễ làm cho người tham gia bảo hiểm hiểu sai vấn

đề dẫn đến quyết định giao kết HĐBHNT hoặc làm hạn chế quyền của người

tham gia bảo hiểm khi HĐBH đã được giao kết. Trong quá trình phân phối sản

phẩm BHNT, việc giải thích các điều khoản bảo hiểm đối với BMBH có ý nghĩa

hết sức quan trọng. Thực tế hiện nay, việc giải thích HĐBHNT thường là trách

nhiệm của đại lý, tuy nhiên nhiều đại lý chỉ giải thích “qua loa, chiếu lệ” với

mục đích là ký được HĐBHNT để hưởng hoa hồng, hậu quả là BMBH không

nắm rõ hết được các nội dung về quyền và nghĩa vụ của mình, hoặc quyết định

ký kết HĐBHNT không phù hợp với năng lực tài chính của mình. Ngoài ra, có

những sản phẩm BHNT tương tự nhau, tuy nhiên trong điều khoản mẫu thì lại

được các DNBH đưa ra các định nghĩa khác nhau, mặc dù về bản chất là cùng

để chỉ một khái niệm như học viên đã nêu ở phần trên, ví dụ về "khoản lãi vay

từ giá trị hoàn lại của HĐBH".

Về trách nhiệm cung cấp thông tin, theo Điều 19 Luật KDBH thì DNBH

và người tham gia bảo hiểm đều có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ cho

nhau và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin được cung

cấp. Khi một bên vi phạm nghĩa vụ thì bên kia có quyền đơn phương đình chỉ

việc thực hiện HĐBHNT. Tuy nhiên, khi xem xét hành vi cố ý cung cấp thông

tin sai sự thật để giao kết hợp đồng là hành vi lừa dối và dẫn đến hậu quả pháp

63

lý là hợp đồng vô hiệu, từ đó "các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu,

hoàn trả cho nhau những gì đã nhận..., bên có lỗi phải bồi thường". Trong thời

gian qua, có rất nhiều tranh chấp phát sinh giữa DNBH và người tham gia bảo

hiểm bởi vì DNBHNT dựa vào quy định này để thông báo HĐBHNT vô hiệu

và thoái thác trách nhiệm.

2.2.2.2. Hoạt động phê chuẩn sản phẩm còn hình thức, chưa thực sự bảo

vệ quyền lợi NTD

Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, 18/18 DNBH nhân thọ đã cung

cấp hơn 500 sản phẩm BHNT, bảo hiểm sức khỏe, BHNT đang ngày càng trở

nên quen thuộc đối với một bộ phận không nhỏ người dân. Tất cả các bộ sản

phẩm bảo hiểm phân phối trên thị trường đều được đăng ký với cơ quan có

thẩm quyền và được chấp thuận.

Mặc dù đã có nhiều quy định chi tiết và rõ ràng hơn về việc phê chuẩn

sản phẩm BHNT, tuy nhiên những tiêu chí để phê chuẩn sản phẩm BHNT đã

được quy định trong Thông tư 124/2012/TT-BTC vẫn còn sự bất cập. Theo đó,

Bộ Tài chính yêu cầu DNBHNT phải chịu trách nhiệm về tính hợp lý, hợp pháp

của các quy tắc, điều khoản bảo hiểm, nhưng lại không quy định về trách nhiệm

của cơ quan phê chuẩn khi phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm có điều khoản không

đảm bảo tính công bằng. Do đó, nhiều quy tắc, điều khoản BHNT khi được phê

chuẩn vẫn còn có nhiều nội dung gây bất lợi cho người tham gia bảo hiểm. Từ

thực tiễn cho thấy, các điều khoản mẫu do DNBH ban hành thường có cấu trúc

và nội dung chặt chẽ, trong đó chứa đựng một số quy định “lắt léo” và “mập

mờ” có thể làm cho người tham gia bảo hiểm hiểu sai. Bên cạnh đó, điều khoản

BHNT còn quy định rất “kín” một số nội dung có lợi cho DNBH, từ đó đòi hỏi

công tác thẩm định trước khi phê chuẩn phải được thực hiện một cách nghiêm

túc.

Ví dụ 1: Theo Bộ điều khoản Bảo hiểm hỗn hợp có quyền lợi mở rộng

của Prudential, được Bộ Tài chính phê chuẩn năm 2009 tại văn bản số

14830/BTC-QLBH ngày 21/10/2009, có quy định về điều khoản miễn truy xét

như sau:

“Ngoại trừ những thông tin quan trọng và cần thiết quy định tại Quy tắc,

64

điều khoản sản phẩm bảo hiểm này, Prudential sẽ không truy xét các thông tin

khác do BMBH kê khai không chính xác thể hiện trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm

sau 24 tháng liên tục đóng phí bảo hiểm, trong khi NĐBH vẫn còn sống, tính

từ ngày giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc các sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận

bảo hiểm có hiệu lực.”

Với quy định này, tưởng như Prudential dễ dàng “bỏ qua” những thông

tin có thể không chính xác mà BMBH đã khai, nhưng xét kỹ thì không phải như

vậy:

• Một là, trong cả bộ điều khoản nói trên không hề có định nghĩa hoặc

chỉ dẫn đâu là thông tin quan trọng và cần thiết, do đó Prudential có thể toàn

quyền đánh giá về những thông tin mà BMBH phải kê khai là có cần thiết và

quan trọng hay không. Với việc yêu cầu kê khai thông tin quá nhiều thì khả

năng thông tin được kê khai không chính xác sẽ tang, do đó khả năng từ chối

trả tiền của DNBHNT sẽ tăng.

• Hai là, từ quy định nêu trên cho thấy, nếu trường hợp NĐBH không

còn sống (đây là một trường hợp phải chi trả tiền bảo hiểm trong sản phẩm

BHNT hỗn hợp), thì tất cả các thông tin kê khai không chính xác có thể bị

DNBH từ chối chi trả tiền bảo hiểm.

Ví dụ 2: Theo Điều khoản hợp đồng sản phẩm BHNT liên kết đơn vị của

Manulife được Bộ Tài chính phê chuẩn năm 2008 tại văn bản số 5485/BTC-

BH ngày 13/5/2008 có quy định nư sau:

“Các loại phí liên quan đến HĐBH được quy định rõ trong trang hợp đồng.

Công ty cũng có thể thay đổi mức phí, nhưng không vượt quá mức tối đa được đề

cập trong Điều 13.9 sẽ được nêu dưới đây và trong vòng 3 tháng trước khi thay

đổi, công ty phải có thông báo và thỏa thuận bằng văn bản với BMBH.”

Với Điều 13.9 cho phép nhiều loại phí được tăng tối đa 15%/năm, DNBH

đã trao cho mình quyền được tăng nhiều loại phí mà không cần sự đồng ý của

người mua bảo hiểm với mức tăng cao hơn mức lạm phát ước tính vào thời

điểm sản phẩm BHNT này được bán. Sự “mập mờ” ở đây là bởi sau khi đã

quy định về quyền thay đổi mức phí, thì “thỏa thuận bằng văn bản” được nêu

65

ở điều khoản này chỉ có ý nghĩa là sự “thông báo” của DNBH mà thôi.

Chính vì có lợi thế từ sự “mập mờ” này dẫn đến hiện nay có rất nhiều

HĐBHNT có khả năng chắc chắn là DNBH sẽ không chi trả tiền bảo hiểm

nhưng vẫn được DNBH duy trì để chiếm dụng phí bảo hiểm. DNBH sẽ dựa vào

các quy định này để từ chối bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thời gian qua đã rất cố gắng và nỗ lực để

ban hành mẫu điều khoản BHNT đạt chất lượng tốt hơn.[30] Tuy nhiên, bộ điều

khoản đã ban hành hiện nay vẫn chỉ có những quy định chung chung, mang ý

nghĩa là sự khuyến nghị hoặc hướng dẫn đối với các DNBH là chính chứ chưa

thực sự đạt đến một chuẩn mực để có thể thành “mẫu”, dẫn đến hiệu quả trên

thực tế là không cao.

2.2.3. Thực tiễn xét xử các vụ tranh chấp bảo hiểm nhân thọ

Khi xét đến khả năng áp dụng pháp luật của cơ quan tài phán ta thấy hầu

hết các tranh chấp về HĐBHNT đều được giải quyết qua phương thức Tòa án,

do đó khả năng xét xử của Tòa án được xem là yếu tố quan trọng đối với việc

đảm bảo thực hiện pháp luật. Nếu các vụ án được giải quyết đúng bản chất, áp

dụng đúng quy định pháp luật sẽ có đóng góp rất lớn vào việc bảo vệ quyền lợi

chính đáng của các bên, đồng thời đó cũng là một phương thức phổ biến pháp

luật hữu hiệu. Ngược lại, nếu phán quyết của Tòa án không thỏa đáng, sẽ ảnh

hưởng rất tiêu cực đến thị trường BHNT. Đơn cử như vụ xét xử mới đây tại

TAND tỉnh Đồng Nai, gây nhiều tranh cãi:

Giữa tháng 11/2010, ông C ký hợp đồng BHNT với công ty bảo hiểm,

mệnh giá sản phẩm chính là 500.000.000 đồng. Ngày 60/6/2011, ông C bị bệnh.

Sau khi cấp cứu tại bệnh viện ở Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh của ông C

chuyển biến nặng, người nhà đưa về thì mất. Anh của ông C (người thụ hưởng

hợp đồng bảo hiểm) đã yêu cầu công ty bảo hiểm chi trả. Công ty bảo hiểm từ

chối với lý do: “Thông tin thu thập được từ địa phương và cơ quan chức năng

có liên quan thì ông C là người nghiện rượu, uống rượu thường xuyên, liên tục

trong nhiều năm trước khi tham gia bảo hiểm, tức là mâu thuẫn với thông tin

ông C khai trong hồ sơ HĐBHNT. Vì vậy hợp đồng không có hiệu lực ngay từ

khi giao kết”. Không đồng ý, anh của ông C khởi kiện ra tòa án nhân dân tỉnh

66

Đồng Nai (nơi công ty bảo hiểm có trụ sở) yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường

hơn 500.000.000 đồng. Làm việc với Tòa, đại diện công ty bảo hiểm trình

chứng cứ chứng minh là “biên bản xác minh nhân thân” do công an xã cung

cấp, nội dung thể hiện là ông C nghiện rượu từ năm 2005 cho đến khi qua đời.

Tại phiên tòa, đại diện công ty bảo hiểm rút chứng cứ nêu trên nhưng vẫn cho

rằng ông C nghiện rượu căn cứ vào bệnh án của bệnh viện cung cấp.

Tranh luận tại tòa, anh của ông C phản biện, bệnh án không nêu rõ ông

C nghiện rượu từ lúc nào, bác sĩ cũng khẳng định: “Không thể xác định được

thời điểm nghiện rượu”. Bác sĩ trình bày việc bệnh án ghi nhận ông C nghiện

rượu là căn cứ vào lời khai của người nhà bệnh nhân tuy nhiên bác sĩ không

xác định được đó là người nào. Trước đó, tòa đã có văn bản hỏi bệnh viện “bệnh

nhân C bị xuất huyết tiêu hóa trên do giãn tĩnh mạch thực quản, xơ gan có phải

là hậu quả tất yếu của việc sử dụng rượu bia trong một thời gian dài hay

không?”, bệnh viện trả lời: “Chưa đủ dữ liệu khẳng định nguyên nhân xơ gan

là do rượu...”. Dù vậy, tòa vẫn kết luận: Ông C bị xơ gan nên ông là người

nghiện rượu, HĐBHNT của ông C là vô hiệu nên bác yêu cầu khởi kiện của

anh ông C. Sau phiên xử, anh của ông C cho biết sẽ kháng cáo vì “không phải

ai xơ gan cũng do nghiện rượu”. [40]

Trong vụ án trên, Tòa án đã đưa ra kết luận một cách chủ quan khi khẳng

định ông C không trung thực khi khai thông tin tại hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, khi

chưa có đầy đủ chứng cứ chứng minh nguyên nhân chính đã gây ra căn bệnh

xơ gan của ông C là do nghiện rượu.

Hay như trong vụ án mà Thẩm phán cho rằng "mua bảo hiểm không phải

vì mục đích kinh doanh nên đây được coi là hợp đồng dân sự" nên không thể

áp dụng Luật KDBH trong trường hợp này, dù rằng có những lý lẽ để bảo vệ

người mua bảo hiểm. Cụ thể:

Tháng 2/2006, bà M mua HĐBHNT cho con trai, thời hạn đóng phí là

15 năm, giá trị hợp đồng 70.000.000 đồng cho sản phẩm chính, và 80.000.000

đồng cho sản phẩm bổ trợ “chết và thương tật toàn bộ vĩnh viễn”. Một tháng

sau, trên đường từ Vĩnh Long về Biên Hòa (Đồng Nai), con trai bà M bị tai nạn

giao thông, tử vong. Bà M yêu cầu DNBH chi trả quyền lợi bảo hiểm theo hợp

67

đồng. DNBH từ chối, cho rằng HĐBHNT trước đó đã vô hiệu do bà M đã kê

khai không trung thực về tình trạng sức khỏe của con bà. Bà M không đồng ý,

khởi kiện ra tòa yêu cầu bồi thường 150.000.000 đồng. Xử sơ thẩm, TAND tỉnh

Đồng Nai đã áp dụng Luật KDBH để nhận định HĐBHNT của bà M vô hiệu.

Theo tòa, bà M phải kê khai đầy đủ thông tin, tự khẳng định rằng “có” hoặc

“không” đối với các câu hỏi trong phần khai chi tiết về sức khỏe. Cụ thể, ở câu

hỏi “bạn đã, đang có sử dụng ma túy hoặc chất gây nghiện không?”, bà M đánh

dấu chéo vào ô “không”. Trước đó, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Đồng Nai ra

thông báo con bà bị HIV. Như vậy bà M đã khai không trung thực.

Phiên tòa phúc thẩm nhận định bà M mua bảo hiểm không phải vì mục

đích kinh doanh nên đây chỉ là hợp đồng dân sự. Việc cấp sơ thẩm áp dụng

Luật KDBH là không phù hợp. Tòa phúc thẩm cho rằng nội dung ghi trong hợp

đồng “nếu kê khai không trung thực... thì hợp đồng sẽ vô hiệu” là vi phạm pháp

luật. BLDS quy định hợp đồng chỉ vô hiệu khi vi phạm các điều cấm. Ngoài ra,

xét thấy án sơ thẩm còn có các vi phạm về tố tụng nên tòa tuyên hủy án để xét

xử lại. [40]

Trên đây chỉ là hai trong số rất nhiều vụ tranh chấp xảy ra hàng năm về

về lĩnh vực BHNT. Từ thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp về lĩnh vực BHNT

trong thời gian qua cho thấy, về chất lượng xét xử lĩnh vực này ở Việt Nam còn

chưa cao, do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến thời gian xét xử thường

kéo dài, ngoài nguyên nhân xuất phát từ sự bất cập của các quy định pháp luật

thì còn nguyên nhân xuất phát từ khả năng áp dụng pháp luật của cơ quan xét

xử cũng như các chủ thể tham gia hợp đồng.

2.2.4. Một số yếu tố khác ảnh hưởng gián tiếp đến quyền lợi người tiêu

dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ tại Đồng Nai.

Yếu tố về kinh tế:

Tỉnh Đồng Nai trong những năm gần đây phát triển mạnh về các khu

công nghiệp, tạo điều kiện cho người lao động ổn định việc làm và nâng cao

thu nhập. Khi chất lượng cuộc sống đã được nâng lên, người dân nhận thức

được những rủi ro trong cuộc sống và quyền lợi khi tham gia bảo hiểm nhân

thọ, với điều kiện kinh tế có sẵn, họ quyết định chọn cho mình sản phẩm bảo

68

hiểm phù hợp với khả năng kinh tế của mình, có người tham gia ít nhất là 01

hợp đồng bảo hiểm, có người tham gia đến hơn 03 hợp đồng bảo hiểm. Vì có

điều kiện kinh tế nên người dân tham gia hợp đồng bảo hiểm coi như là để tích

lũy và chuyển giao rủi (nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra), họ không quan tâm

sâu đến các quy định chi tiết trong hợp đồng bảo hiểm về nghĩa vụ bồi thường

và chi trả bảo hiểm. Vì vậy, khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, căn cứ theo các

điều khoản quy định trong hợp đồng họ mới nhận thấy được quyền lợi của mình

không được bảo vệ.

Yếu tố về chính trị:

Đội ngủ tư vấn viên, đại lý bảo hiểm nhân thọ khu vực Đồng Nai hiện

nay được nâng chất về số lượng lẫn chất lượng. Phần lớn các tư vấn viên, đại

lý bảo hiểm hiện là các cán bộ, lãnh đạo, quản lý của một số đơn vị, một số

ngành trong cơ quan nhà nước về hưu hoặc đang đương nhiệm. Khi tiếp cận và

tư vấn bảo hiểm, khách hành phần lớn tin tưởng vào uy tín và vị thế của tư vấn

viên, đại lý bảo hiểm nên thường quyết định tham gia hợp đồng bảo hiểm rất

nhanh mà bỏ qua các bước tư vấn sâu về nghĩa vụ, quyền lợi bảo hiểm... Chính

vì vậy, khi có sự kiện bảo hiểm xả ra hoặc khi phát sinh tranh chấp, phần lớn

người mua bảo hiểm bị thiệt thòi vì chính họ không thực hiện đúng nghĩa vụ

được quy định trong hợp đồng.

Yếu tố về văn hóa:

Xuất phát từ bản chất là người nông dân chân chất, phần lớn người dân

thường có xu hướng lắng nghe thông tin và hoàn toàn tin tưởng từ nguồn thông

tin được truyền miệng từ những người hàng xóm, láng giềng, người thân quen

về một sự việc đã và đang diễn ra mà không cần rà soát và tìm hiểu lại thông

tin như được truyền đạt là có đúng và chuẩn xác chưa? Ví dụ tư vấn viên A của

công ty bảo hiểm Nhân thọ Bảo Việt Đồng Nai tư vấn rất tận tình, dễ thương,

sản phẩm bảo hiểm này có nhiều quyền lợi lắm nè, gia đình mình đã tham gia

03 hợp đồng .... Chính vì thói quen tin tưởng vào thông tin truyền đạt từ người

thân quen mà người dân sẵn sàng quyết định tham gia hợp đồng bảo hiểm mà

không cần tìm hiểu và xem xét cẩn trọng đến các nghĩa vụ, quyền lợi của hai

bên khi xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc hậu quả pháp lý khi một trong hai bên

69

không tuân thủ hợp đồng ...

Tiểu kết chương 2

Mặc dù, trong thời gian qua kinh doanh BHNT Việt Nam đã có những

bước phát triển đáng ghi nhận, song so với tiềm năng thực tế và yêu cầu phát

triển của thị trường trong quá trình hội nhập, thì kinh doanh BHNT Việt Nam

còn nhiều hạn chế, thách thức cần phải nhanh chóng khắc phục. Có vậy mới

đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của kinh tế - xã hội trong điều kiện hiện nay.

Trong quá trình thực hiện pháp luật về kinh doanh BHNT Việt Nam cũng

mới chỉ đi được những bước đi đầu tiên trong quãng đường dài, tuy có nhiều

cơ hội nhưng cũng không ít những khó khăn thách thức.

Từ thực tiễn thi hành pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT hiện

nay và những yếu tố đặc thù tại tỉnh Đồng Nai, để phát huy tốt những thành quả

đã được và khắc phục những hạn chế tồn tại cũng như tận dụng tốt nhất những

cơ hội và vượt qua những khó khăn thách thức trong quá trình hội nhập nhằm

phát triển về kinh doanh BHNT một cách toàn diện, vững chắc và ổn định, cần

phải có những định hướng và hệ thống các giải pháp cụ thể, đồng bộ và có tính

khả thi cao. Chúng ta tiếp tục nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật

và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT ở

70

chương 3 dưới đây.

Chương 3

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ

QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC

BẢO HIỂM NHÂN THỌ

3.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ

3.1.1. Giải quyết mối quan hệ điều chỉnh giữa Luật Bảo vệ quyền lợi

người tiêu dùng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật dân sự.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) gồm 6 chương, 51

điều. Theo đó, KDBH là một loại hình kinh doanh dịch vụ, về nguyên tắc, người

sử dụng dịch vụ bảo hiểm là người được pháp luật bảo vệ theo quy định của

Luật BVQLNTD.

Đối với Luật BVQLNTD năm 2010, các quy định này không đủ để điều

chỉnh các quan hệ giữa DNBH với người tham gia bảo hiểm từ chế độ

BVQLNTD. Riêng chương IV Luật BVQLNTD năm 2010 quy định về giải

quyết tranh chấp giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

là những quy định về tố tụng, chồng chéo với chức năng điều chỉnh của pháp

luật tố tụng dân sự về pháp luật nội dung, thực tế giải quyết tranh chấp, các cơ

quan tài phán áp dụng quy quy định của Bộ luật dân sự, Luật KDBH. Vì thế,

theo pháp luật về BVQLNTD được ban hành năm 2010, đối với người tham

gia bảo hiểm chỉ có ý nghĩa về lý thuyết mà không có ý nghĩa thực thi trên thực

tế.

Để nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật thì Luật BVQLNTD nên

có quy định loại trừ áp dụng đối với việc sử dụng một số dịch vụ, trong đó có

dịch vụ bảo hiểm. Luật KDBH cũng nên có những quy định cụ thể, chi tiết hơn

đối với các vấn đề liên quan đến BVQLNTD.

Bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm dưới góc độ toàn diện và

thống nhất được hiểu là các quy định của pháp luật về quyền lợi của người tham

71

gia bảo hiểm vừa đóng vai trò là hàng rào pháp lý ngăn ngừa, vừa tác động trực

tiếp bằng quy phạm pháp luật thông qua các quy định về quyền lợi, nghĩa vụ

của các bên, và một bộ máy thực thi pháp luật hiệu quả.

Trong mối quan hệ pháp luật với người tham gia bảo hiểm thì BLDS

đóng vai trò là nền tảng, Luật KDBH đóng vai trò là luật chuyên ngành, Luật

BVQLNTD, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật Tố tụng dân sự,... cũng đóng vai trò

quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi NTD lĩnh vực BHNT. Để đảm bảo tính

thống nhất, cụ thể và rõ ràng trong Luật KDBH, cần phải xây dựng mối tương

quan thống nhất với các bộ phận pháp luật khác có liên quan.

3.1.2. Xác định quyền lợi của người tiêu dùng là trọng tâm khi hoàn

thiện quy định về doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Một là, cần thống nhất tiêu chí để phân loại BHNT ra thành ba loại chính,

đó là “bảo hiểm tử kỳ”, “bảo hiểm sinh kỳ” và “bảo hiểm hỗn hợp”. Việc này

có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của DNBHNT trong

việc cung cấp các sản phẩm trong cùng một loại nghiệp vụ bảo hiểm. Theo quy

định, DNBHNT muốn bổ sung nghiệp vụ bảo hiểm thì phải làm thủ tục và được

Bộ Tài chính chấp thuận.

Hai là, bổ sung nội dung về khái niệm sản phẩm BHNT để phân biệt rõ

hai khái niệm “BHNT” và “sản phẩm BHNT”. Cần bổ sung các quy định về

cách đặt tên sản phẩm BHNT nhằm hạn chế tối đa sự nhầm lẫn (cùng một loại

sản phẩm BHNT nhưng lại có rất nhiều tên gọi khác nhau) theo hướng: Tên gọi

phải thể hiện rõ loại hình sản phẩm BHNT để BMBH dễ nhận biết, lựa chọn

sản phẩm phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính của mình. Cần quy định rõ

phần trách nhiệm của DNBH khi xây dựng một sản phẩm BHNT mới, phải thể

hiện rõ những điểm khác biệt quan trọng của sản phẩm mới so với những sản

phẩm đã phân phối trên thị trường trước đây nhằm đảm bảo không còn tình

trạng cung cấp hai sản phẩm BHNT tương đối giống nhau nhưng tên gọi lại

khác nhau gây nhầm lẫn cho khách hàng. Bộ Tài chính có quyền từ chối phê

chuẩn đối với sản phẩm BHNT mới nếu những điểm khác biệt đó không quan

trọng, không rõ ràng.

Ba là, cần bổ sung và sửa đổi quy định về trình tự, thủ tục phê chuẩn sản

72

phẩm BHNT, ghi nhận vào Luật KDBH các vấn đề cơ bản nhất.

Bốn là, cần quy định rõ và thống nhất các đầu mối có chức năng thực

hiện công tác đào tạo đại lý bảo hiểm, ban hành các quy tắc hành nghề đại lý

bảo hiểm; điều chỉnh các quy định về phân phối sản phẩm BHNT; Đại lý bảo

hiểm là một nghề thương mại, các cá nhân, tổ chức làm đại lý bảo hiểm phải

được cấp phép hành nghề. Do tính đặc thù của sản phẩm BHNT, kênh phân

phối chủ yếu sản phẩm BHNT là đại lý. Mặc dù đã có quy định thống nhất về

phương pháp sát hạch, tuy nhiên pháp luật vẫn cho phép các DNBH được tự

đào tạo đại lý bảo hiểm của mình, có thể thấy việc kiểm soát về chất lượng đào

tạo là rất khó; Công tác tự đào tạo của một số DNBH chưa đạt yêu cầu vì chịu

sự ảnh hưởng của yếu tố chi phí và sức ép của việc giành thị phần. Điều này

cho thấy, cần phải quy định rõ những tổ chức được phép đào tạo về đại lý bảo

hiểm, cần đưa ra yêu cầu cụ thể về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên cũng như

chương trình đào tạo để các DNBH có nhu cầu đào tạo đại lý sẽ cử người tham

gia. Về công tác tổ chức đào tạo đại lý bảo hiểm, kiến nghị giao cho Hiệp hội

Bảo hiểm Việt Nam thực hiện vì tổ chức này vừa có tính độc lập, vừa có mối

quan hệ gắn bó với các DNBH là thành viên, đồng thời có trách nhiệm đối với

sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Để đảm bảo tính khách quan, Bộ Tài

chính không nên trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động đào tạo khi Bộ

tài chính là đơn vị chủ trì việc tổ chức thi và cấp chứng chỉ hành nghề đại lý

bảo hiểm.

Năm là, cần bổ sung và sửa đổi các quy định về Quỹ BVNĐBH:

• Sửa đổi tên gọi của Quỹ để đảm bảo ý nghĩa của quỹ là bảo vệ những

chủ thể có lợi ích liên quan trực tiếp đến HĐBH như NĐBH, BMBH và người

thụ hưởng.

• Cần bổ sung quy định cụ thể để đảm bảo Quỹ BVNĐBH có đầy đủ

những chức năng theo thông lệ quốc tế nhằm mục đích duy trì HĐBH, bảo vệ

quyền lợi người tham gia bảo hiểm (ngoài chức năng hỗ trợ DNBH trong việc

thanh toán các nghĩa vụ theo HĐBH khi DNBH mất khả năng thanh toán hoặc

bị phá sản thì Quỹ cần có thêm chức năng tham gia vào việc hỗ trợ chi phí để

chuyển giao HĐBH từ DNBH mất khả năng thanh toán hoặc phá sản sang cho

73

DNBH khác đủ điều kiện).

• Bổ sung, sửa đổi các quy định nhằm đảm bảo tư cách pháp lý độc lập

cho Quỹ BVNĐBH. Quỹ nên là một pháp nhân độc lập, hoạt động hoặc theo

mô hình doanh nghiệp, hoặc mô hình tổ chức phi lợi nhuận, trong cơ cấu tổ

chức và bộ máy quản lý có sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước, các

DNBH thành viên, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và đặc biệt là cần có sự tham

gia của các cơ quan, tổ chức có chức năng BVQLNTD hoặc Hội tiêu chuẩn và

bảo vệ NTD Việt Nam. Cơ cấu quản lý được thực hiện theo nguyên tắc vừa đảm

bảo tính độc lập trong công tác điều hành, vừa đảm bảo sự liên kết với các thành

viên cũng như chức năng giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

đối với hoạt động của Quỹ. Việc lựa chọn người tham gia quản lý phải dựa trên

năng lực và kinh nghiệm quản lý cũng như đảm bảo sự khách quan và độc lập

khi tham gia quyết định.

3.1.3. Hoàn thiện các quy định về hợp đồng bảo hiểm

Một là, bổ sung nội dung “khái niệm người tham gia bảo hiểm” vào Luật

KDBH, bởi vì người mua bảo hiểm, NĐBH và người thụ hưởng quyền lợi bảo

hiểm có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với nhau.

Hai là, bổ sung phần định nghĩa đối với các thuật ngữ thường được sử

dụng trong HĐBHNT để có cách hiểu thống nhất, ví dụ như “chi phí hợp lý”,

“giá trị hoàn lại” và “vay từ giá trị hoàn lại”.

Ba là, bổ sung phần nội dung quy định thật chi tết về quyền và nghĩa vụ

của NĐBH, như:

• Quy định cụ thể về quyền của NĐBH như quyền từ chối tư cách NĐBH

trong một khoảng thời gian nhất định khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết (nếu

NĐBH không đồng thời là BMBH); quyền đồng ý hoặc không đồng ý với sự

chỉ định người thụ hưởng của BMBH; quyền được ưu tiên nhận tiền bảo hiểm

so với người mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.

• Quy định cụ thể về nghĩa vụ của NĐBH khi có sự kiện bảo hiểm phát

sinh như: tự mình thực hiện khai báo thông tin trung thực theo yêu cầu của

DNBH, trừ trường hợp NĐBH dưới 18 tuổi thì việc khai báo sẽ do cha, mẹ

74

hoặc người giám hộ của NĐBH thực hiện; thực hiện các xét nghiệm, giám định

y khoa theo chỉ định của DNBH; chấp hành chỉ dẫn của bác sỹ chuyên khoa

trong điều trị khi khám và chữa bệnh.

• Quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của người thụ hưởng quyền lợi

bảo hiểm như: quyền được thông báo về việc mình là người thụ hưởng hoặc

không còn là người thụ hưởng theo HĐBHNT; quyền từ chối trở thành người

thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm; nghĩa vụ hợp tác với DNBHNT thực hiện xác

minh sự kiện bảo hiểm, thông báo với DNBH về sự kiện bảo hiểm (trong trường

hợp BMBH không thể thông báo được).

Bốn là, phân định rõ quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm con người

với quyền lợi được bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm

tài sản. Chẳng hạn, trong bảo hiểm con người, quyền lợi được bảo hiểm là

quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng cùng với các quyền lợi khác đối với NĐBH, nếu

được DNBH chấp thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên cạnh đó, cần bổ sung

tại khoản 2 Điều 31 Luật KDBH những chủ thể có thể là BMBH (gồm doanh

nghiệp, tổ chức mua bảo hiểm cho người lao động; bên cho vay mua bảo hiểm

cho bên vay).

Năm là, quy định chi tiết việc chuyển nhượng HĐBHNT từ người mua

bảo hiểm sang người khác, từ NĐBH sang người khác, quy định này cần được

ghi rõ trong HĐBHNT để NĐBH biết rõ quyền, nghĩa vụ của mình trong quan

hệ hợp đồng, làm cơ sở giải quyết tranh chấp nếu có. Kiến nghị bỏ khoản 3

Điều 19, sửa đổi điểm a khoản 2 Điều 19, bỏ cụm từ "nhằm giao kết hợp đồng

bảo hiểm”, khi đó, khoản 2 Điều 19 chỉ áp dụng cho trường hợp BMBH thực

hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin khi thực hiện hợp đồng, còn nếu các bên cung

cấp thông tin sai sự thật để giao kết hợp đồng, sẽ áp dụng quy định tại Điều 22

Luật KDBH.

Việc chuyển nhượng HĐBH, theo nguyên tắc là thoả thuận, phải có sự

chấp thuận của DNBH, tuy nhiên để đảm bảo quy định của pháp luật về BMBH,

cần bổ sung, sửa đổi Điều 26 Luật KDBH theo hướng quy định cụ thể người

nhận chuyển nhượng phải thoả mãn điều kiện là BMBH. Việc chuyển nhượng

HĐBH con người không làm thay đổi NĐBH, do đó việc chuyển nhượng

75

HĐBH phải có sự đồng ý của chủ thể này. Nếu NĐBH không có năng lực hành

vi dân sự đầy đủ thì điều kiện để chuyển nhượng HĐBH là phải có sự đồng ý

của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp khác. [9]

Sáu là, bổ sung và sửa đổi khoản 2 Điều 20 Luật KDBH về cơ sở tính

phí bảo hiểm theo hướng: “DNBH có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian

còn lại của HĐBHNT nếu như có sự thay đổi các yếu tố là cơ sở để tính phí

bảo hiểm mà nguyên nhân xuất phát từ phía BMBH hoặc NĐBH, dẫn đến tăng

các rủi ro được bảo hiểm. Nếu BMBH không chấp nhận việc tăng phí bảo hiểm

thì DNBH có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và thông báo

bằng văn bản ngay cho BMBH biết.” [9]

Bảy là, cần quy định cụ thể về hình thức HĐBH con người, trong đó đặc

biệt chú trọng đến việc phân định rõ các hình thức cụ thể để thiết lập quan hệ

HĐBH. Đồng thời, nên quy định rõ thế nào là hợp đồng mẫu, điều khoản hợp

đồng mẫu.

Tám là, cần định rõ ràng và cụ thể về hiệu lực của HĐBH nhân thọ. Đề

xuất bãi bỏ khoản 3 Điều 19 Luật KDBH, "trường hợp DNBH cố ý cung cấp

thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì BMBH có quyền đơn

phương đình chỉ thực hiện HĐBH; DNBH phải bồi thường thiệt hại phát sinh

cho BMBH do việc cung cấp thông tin sai sự thật”, để tránh hiểu nhầm về hành

vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật trong giao kết hợp đồng, trường hợp

HĐBH sẽ vô hiệu và quyền lợi của NĐBH sẽ không được bảo vệ.

Chín là, hoàn thiện một số quy định về HĐBHNT vô hiệu theo hướng có

lợi cho người tham gia bảo hiểm nhưng không làm phương hại đến quyền và

lợi ích của DNBH. Ví dụ như trường hợp HĐBHNT chấm dứt trước thời hạn

do khách hàng vi phạm nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm thì DNBH sẽ tất toán phí

bảo hiểm và hoàn lại phí nếu đã thu phí nhiều hơn thời gian có hiệu lực tương

ứng của HĐBHNT.

Còn một trường hợp, mặc dù không được đề cập đến trong phần thực

trạng bởi còn gây nhiều tranh cãi nên học viên chỉ phân tích dưới góc độ tổng

hợp ý kiến để đánh giá, đó là quy định về các trường hợp không được trả tiền

bảo hiểm tại Điều 39, "NĐBH chết hoặc bị thương tật vĩnh viên do lỗi cố ý của

76

BMBH hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng”. Có hai trường hợp: thứ nhất,

NĐBH chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của BMBH; thứ hai là,

NĐBH chết hoặc bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của người thụ hưởng. Cả

hai trường hợp này cần có cách giải quyết khác nhau. Trường hợp thứ nhất, với

mục đích là hưởng tiền bảo hiểm hoặc để người khác hưởng tiền bảo hiểm nên

BMBH mong muốn hậu quả xảy ra. Vì vậy, pháp luật quy định không trả tiền

bảo hiểm là hợp tình, hợp lý. Ở trường hợp thứ hai, sự kiện pháp lý xảy ra là

hoàn toàn nằm ngoài dự liệu và không phải do lỗi của người mua bảo hiểm, đó

là lỗi của người thụ hưởng. Có thể nói, trong trường hợp này, người mua bảo

hiểm cũng là người bị hại, và nếu không được nhận tiền bảo hiểm thì người

mua bảo hiểm sẽ là người bị thiệt hại kép, vừa bị người thụ hưởng hại, vừa mất

quyền yêu cầu DNBH chi trả. Tuy nhiên, trên đây chỉ là ý kiến thiểu số, không

phải chuyên gia của lĩnh vực bảo hiểm.

3.1.4. Hoàn thiện các quy định về giám sát đối với hoạt động kinh

doanh bảo hiểm nhân thọ

Một là, thông tin về các sản phẩm bảo hiểm cần được công khai rộng rãi

và cụ thể, đầy đủ nội dung điều khoản bảo hiểm trên trang thông tin điện tử

trước và trong quá trình triển khai sản phẩm để khách hàng có khả năng tiếp

cận, hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình trong HĐBHNT. Đồng thời, cần

có chế tài xử phạt hành chính đối với đại lý bảo hiểm trong trường hợp không

giải thích đầy đủ các nội dung về quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên nêu trong

HĐBHNT cho khách hàng trước khi thực hiện giao kết hợp đồng.

Hai là, để tránh bị chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, nên thống nhất (hợp

nhất) cơ quan thực hiện chức năng giám sát.

Ba là, cần có quy định cụ thể về nội dung giám sát, có khung tiêu chí

đánh giá, cách thức đánh giá. Cần định lượng tiêu chí rõ ràng, công khai, minh

bạch.

Bốn là, cần có những quy định cụ thể về phương thức giám sát. Trường

hợp nào giám sát gián tiếp, trường hợp nào giám sát trực tiếp, cách thức thực

hiện như thế nào.

Luật KDBH cũng cần quy định rõ về quyền hạn của Đoàn thanh tra, kiểm

77

tra cũng như quyền và nghĩa vụ của DNBH trong quá trình chấp hành quyết

định thanh tra, kiểm tra; bổ sung quy định giải quyết xung đột về thẩm quyền

thanh tra, kiểm tra giữa cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm với những cơ

quan quản lý nhà nước khác.

Năm là, theo quy định tại Điều 25 Luật BVQLNTD, cần thành lập cơ

quan quản lý nhà nước về BVQLNTD cấp huyện để tạo điều kiện thuận lợi và

dễ dàng hơn trong giải quyết tranh chấp khi quyền, lợi ích hợp pháp của những

người tham gia bảo hiểm bị xâm phạm.

Sáu là, cần quy định rõ ràng hơn về trách nhiệm của các cơ quan giám

sát hoạt động KDBH; hướng dẫn cụ thể về phương thức phối hợp giữa các cơ

quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền lợi của người

tham gia bảo hiểm.

Bảy là, về thời hiệu khởi kiện giữa BLDS và Luật KDBH cần phải thống

nhất, đề xuất sửa đổi quy định tại Điều 30 Luật KDBH, thay cụm từ “kể từ thời

điểm phát sinh tranh chấp” bằng cụm từ “kể từ ngày người yêu cầu biết hoặc buộc

phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ

quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ

3.2.1. Thành lập cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm bảo vệ

người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và cơ quan giám sát

tuân thủ

Hiện nay, tại Việt Nam, Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trong các

vấn đề về BVQLNTD nói chung. Tuy nhiên, Cục Quản lý cạnh tranh của Bộ

này quản lý đối với tất cả các lĩnh vực ngành nghề và không có một bộ phận

riêng chịu trách nhiệm quản lý giám sát đối với BVQLNTD trong lĩnh vực

BHNT dẫn đến việc BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT không được thực hiện

một cách hiệu quả. Ngành tài chính là một lĩnh vực đặc thù liên quan đến sự

lưu thông tiền tệ quốc gia. Khi lĩnh vực này có những diễn biến không tốt

ngay lập tức có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế và các chính sách kinh tế vĩ

mô. Chính vì vậy, nhu cầu cần có một cơ quan chuyên trách, chịu trách

nhiệm về bảo vệ NTD trong lĩnh vực này là thực sự cần thiết. Để thực sự có

78

quyền năng thực thi việc bảo vệ NTD tài chính đặc biệt là trong lĩnh vực

BHNT cơ quan này cần phải có thẩm quyền nhất định, hoạt động khách quan

và độc lập, có đủ quyền lực, nguồn lực và năng lực trong việc giám sát và

chịu trách nhiệm đề xuất các chính sách về bảo vệ NTD trong lĩnh vực

BHNT. Bên cạnh đó, cơ quan này nên có quyền hợp tác với các cơ quan giám

sát dịch vụ bảo hiểm quốc tế để thường xuyên nắm bắt và cập nhật được

những vấn đề mới của thị trường BHNT, từ đó đi đầu trong việc điều chỉnh

các quy định ở trong nước cho phù hợp hoặc giúp điều tiết các giao dịch

BHNT mang tính quốc tế hoặc xuyên biên giới một cách thuận lợi. Cơ quan

chuyên trách này sẽ chịu trách nhiệm xây dựng hệ thống các quy định và cơ

chế BVQLNTD trong lĩnh vực BHNT phù hợp.

3.2.2. Thành lập Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực bảo

hiểm nhân thọ

Việt Nam có Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng (NTD) mới được thành

lập năm 2018 (trên cơ sở tách ra từ Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt

Nam). Đây là một tổ chức chính trị xã hội, được thành lập nhằm mục đích

bảo vệ NTD nói chung trong tất cả các lĩnh vực. Ngoài Hiệp hội này, Việt

Nam cũng nên thành lập Hiệp hội bảo vệ NTD trong lĩnh vực BHNT hoạt

động độc lập để thực hiện các mục tiêu bảo vệ NTD trong lĩnh vực này. Hiệp

hội này vừa có thể là tổ chức cung cấp các kiến thức BHNT đến NTD, giúp

nâng cao giáo dục tài chính cho NTD, đồng thời cũng là kênh đầu tiên tiếp

nhận thông tin về những rủi ro của NTD BHNT mang tính thời sự.

Ngoài ra, Hiệp hội bảo vệ NTD trong lĩnh vực BHNT có thể thực hiện

các trách nhiệm như:

(1) Hướng dẫn, giúp đỡ, tư vấn NTD khi có yêu cầu;

(2) Đại diện NTD khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công

cộng;

(3) Cung cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về BVQLNTD thông tin

về hành vi vi phạm pháp luật của các công ty BHNT;

79

(4) Độc lập khảo sát, thử nghiệm; công bố kết quả khảo sát, thử nghiệm

chất lượng sản phẩm, dịch vụ do mình thực hiện; thông tin, cảnh báo cho

NTD rủi ro của các dịch vụ tài chính mới, đặc biệt là các dịch vụ tài chính

được cung cấp khi cơ quan nhà nước chưa kịp có văn bản hướng dẫn và chịu

trách nhiệm trước pháp luật về việc thông tin, cảnh báo của mình; kiến nghị

cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về BVQLNTD

trong lĩnh vực tài chính;

(5) Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức

tiêu dùng tài chính...

3.2.3. Khuyến khích các công ty bảo hiểm nhân thọ xây dựng các

quy định nội bộ về việc công khai minh bạch thông tin với khách hàng

Các công ty BHNT cần cung cấp cho NTD trong lĩnh vực BHNT các

thông tin chính quan trọng liên quan đến lợi ích, rủi ro và các điều khoản của

sản phẩm. Cụ thể, cần cung cấp các thông tin trọng yếu của sản phẩm, và

trước khi giao kết hợp đồng, trong suốt giai đoạn khách hàng sử dụng dịch

vụ BHNT của tổ chức cung cấp, bất cứ khi nào có sự thay đổi, phát sinh mới,

công ty BHNT phải cung cấp thông tin cần thiết và kịp thời cho khách hàng.

Tất cả các tài liệu quảng cáo về các sản phẩm tài chính phải chính xác, trung

thực, dễ hiểu, không gây hiểu lầm. Việc cung cấp thông tin giúp cho khách

hàng đánh giá được những lợi ích và rủi ro đi kèm khi thực hiện giao kết hợp

đồng, đảm bảo khách hàng có những giải pháp để chấp nhận rủi ro nếu giao

kết hợp đồng.

3.2.4. Tăng cường đào tạo, hướng dẫn, sử dụng, kiểm soát chặt chẽ

đội ngũ tư vấn viên, đại lý bảo hiểm

Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là trừu tượng, vì vậy đưa sản phẩm bảo

hiểm nhân thọ đến tận tay khách hàng, đa số là khách hàng cá nhân cần có

đội ngũ trung gian: tư vấn viên, đại lý bảo hiểm.

Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, có quy định thời gian chờ,

thường là 21 ngày. Thời gian chờ là khoảng thời gian quy định trong hợp

80

đồng bảo hiểm kể từ khi khách hàng đã chấp nhận tham gia bảo hiểm, đóng

phí bảo hiểm định kỳ lần đầu tiên đầy đủ và doanh nghiệp bảo hiểm có thể

đã phát hành hợp đồng bảo hiểm cho đến hết thời gian chờ, quy định khách

hàng có quyền hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm vô điều kiện, được hoàn lại phí

bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được quyền thu lại phần chi phí

khám sức khỏe cho khách hàng trước khi tham gia bảo hiểm (nếu có).

Trong thời gian chờ, khách hàng có thể tự nghiên cứu xem xét lại

nội dung điều khoản, điều kiện bảo hiểm, quyền lợi có thể được bảo hiểm,

đối tượng được bảo hiểm, phạm vi và các rủi ro được bảo hiểm, quyền lợi

và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm, trách nhiệm

của doanh nghiệp bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm,

phương thức trả tiền bảo hiểm, quy định về giải quyết tranh chấp. Nếu

người mua bảo hiểm chưa hiểu rõ có thể yêu cầu tư vấn viên, nhân viên

của doanh nghiệp bảo hiểm giải thích thêm hoặc nhờ luật sư tư vấn.

Trong trường hợp này, cần đào tạo, hướng dẫn, sử dụng, kiểm soát

chặt chẽ đội ngũ tư vấn viên, đại lý bảo hiểm sao cho giải thích được rõ

ràng, đầy đủ và hiểu được các cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm cũng

như nghĩa vụ của khách hàng.

Chất lượng của đội ngũ tư vấn viên, đại lý bảo hiểm gắn liền với chất

lượng khách hàng và chất lượng hợp đồng bảo hiểm được ký kết. Việc

khách hàng từ bỏ hợp đồng bảo hiểm trước hạn do nghi ngờ các nội dung

cam kết trong hợp đồng bảo hiểm hoặc không đủ khả năng duy trì việc

đóng phí bảo hiểm đúng hạn có một phần do lỗi của tư vấn viên, đại lý bảo

hiểm gây thiệt hại cho cả người tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo

hiểm.

KẾT LUẬN

Môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh lĩnh vực BHNT trong

nước từng bước được cải thiện, thị trường đã phát triển về quy mô, tốc độ

81

tăng trưởng khá cao. Tuy nhiên riêng thị trường Đồng Nai tốc độ phát triển

còn chưa tương xứng với tiềm lực hiện hữu. Nếu đánh giá một cách tổng

thể, toàn diện thì hoạt động KDBHNT Đồng Nai phát triển chưa cơ bản,

chưa vững chắc, chưa đồng bộ và đặc biệt là còn một số nguy cơ tiềm ẩn,

thiếu tính minh bạch và quyền lợi tiêu dùng trong lĩnh vực bảo hiểm còn

nhiều bất cập.

Từ những thực tế nêu trên, trong thời gian tới KDBHNT Đồng Nai rất

cần có những giải pháp mang tính đột phá nhằm phát triển một cách toàn diện,

đồng bộ và vững chắc, đáp ứng tốt nhất những yêu cầu phát triển và hội nhập

ngày càng sâu rộng của nền kinh tế nhằm đảm bảo quyền lợi của NTD trong

lĩnh vực BHNT còn nhiều bất cập. Trên cơ sở những yêu cầu đó luận văn đã

đưa ra những quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển KDBHNT trong

82

thời gian tới.