HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO
TIỂU LUẬN
CÁC VẤN ĐỀ TOÀN CẦU
Chđề: Cạn Kiệt Nguồn Nước
Nhóm thc hiện 8:
1. Hoàng Thanh Phương
2. Nguyễn Tun Phương
3. Nguyễn Thanh Trọng
4. Lý Láo T
Tiểu lun các vấn đề toàn cầu_ nhóm 8
2
LỜI MĐẦU
Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của thế giới đương đại. Cùng với sự
phát triển ngày càng lớn mạnh của trang thiết bị khoa học k thuật,
nhân loại dường như đang đứng trước những thách thức mới, điều này
giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về vấn đề toàn cu hóa.
Phạm vi vấn đtoàn cầu hóa rất rộng lớn, trong bài tiểu luận này
chúng tôi xin đề cập đến một trong những vấn đề mà đang được nhiều
chuyên gia, các nhà quan hệ quốc tế quan tâm trong giai đoạn đầu của
thế kỷ XXI này: Cạn kiệt tài nguyên nước.
Nước, thứ tài nguyên thiên nhiên vốn được coi là một tặng vật của
thiên nhiên, “cái lộc trời bankhông bao giờ cạn kiệt.Người ta đã
nhầm khi quan niệm như vậy khi mà th“vàng xanh” này đang ngày
một cạn kiệt dần đi. Trong thời đại toàn cầu hóa, cạn kiệt nguồn nước
vấn đề đáng báo động không chỉ quốc gia phát triển mà còn cả
quốc gia đang phát trin, những nước giàu cũng như những nước
nghèo. Điều này chứng tỏ đây là vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày
nay, để làm được điều này cần sự nỗ lực chung của toàn thcác quốc
gia trên thế giới, vì một thế giới tươi đẹp hơn.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, trong khuôn khbài tiểu luận này
chúng tôi sgiải thích tại sao cạn kiệt nguồn nước lại là vấn đề toàn
cầu Bài tiểu luận này gồm những nội dung như: nguyên nhân của vấn
đề, thực trạng của vấn đnày ra sao, nó nh hưởng như o đến quan
hệ quốc tế, đồng thời cũng đưa ra một số hướng giải quyết.
I/ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC CẠN KIỆT NGUỒN NƯỚC
( sinh viên thực hiện : Nguyễn Tuấn Phương )
Tiểu lun các vấn đề toàn cầu_ nhóm 8
3
Hin nay, sự thiếu hụt nguồn nước đang là vn đề nghiêm trng mang tính
toàn cu, nhưng quan trng n mang tính khu vực và quốc gia. Uỷ ban tài
nguyên thiên nhiên của Liên hợp quốc cho rằng 40% n sthế giới hiện nay và
khoảng 80 nước đang đứng trước vấn đề thiếu nước nghiêm trọng. c chuyên
gia hu quan đánh giá rằng đến m 2025 sẽ có khoảng 2/3 n số thế giới sng
trong điều kiện căng thẳng do thiếu nước. Trung Đông và Bắc Phi là những khu
vực thiếu nước nghiêm trng nhất. Theo dtính, 6 nước Trung Phi 5 nước
Bắc Phi là nhng quốc gia thiếu ớc nghiêm trọng. Quốc tế lấy 1000m3 bình
quân theo đầu người 1 năm làm “tuyến cảnh báo”. Hai phần ba của lục địa Phi
châu, chín phn mười của lục địa Úc châu, hai phần ba lục địa Á châu và hai
phần ba của lục địa Mchâu; các nguồn nước ngọt đã dần dần cạn kiệt. Nhiều
nơi trên thế giới trong nhng thập niên qua đã chứng kiến cảnh sa mạc hóa đất
đai nơi mà họ đã canh tác thằng nhiều thế kỷ qua.
Trên thực tế, lượng nước bình quân theo đầu người ca nhiều nước thấp n
nhiu so vi tuyến cảnh báo”. m 1990, trong số 18 quốc gia Trung Đông
Bắc phi chỉ 7 nước lượng nước bình quân theo đầu người từ 100m3 trở
lên, đến m 2005, lượng nước bình quân của khu vực này thấp hơn 670m3.
Lượng nước bình quân theo đầu người của các quốc gia như Angiêri, Burrundi,
Tandania,...ch trong khoảng:600-700m3,các nước Ixraen, Tuynidi…khoảng
400-500m3,các nước Xyri, Ả Rập Xê Út, Gioócđani, Yemen chỉ có khoảng 100-
200m3. Cu Á vốn là khu vực có tài nguyên nước phong phú nhưng do sự tăng
trưởng dân svà sự phát triển của kinh tế nên châu Á cũng sẽ trthành châu lục
thiếu nước nghiêm trọng. Báo cáo nghiên cu của 1 schuyên gia quốc tế vtài
nguyên nước chỉ ra rằng, đến thế kXXI, phần lớn các nước khu vực Châu Á
sẽ phải đứng trước nguy cơ thiếu nước trầm trọng.
Bắc Kinh gần đây cũng đã lo ngi rất nhiều cho c vùng đất đã sa mạc hóa
của họ, tạo thành những n bão qt qua thành phBắc Kinh. Theo thống kê
của Trung quốc, trong năm l950 chỉ 5 trận bão cát thổi qua thành phố, nhưng
đến năm 2000 thì con sđó đã lên đến 13 cơn bão! Nhiều vùng đất min y
bắc Trung quốc đã sa mạc hóa rất nhanh, tạo ra sự khan hiếm nước ngọt rất trầm
trọng. Sông Hoàng Hà, một trong hai con sông huyết mạch lớn ở Trung quốc, có
đoạn hàng năm đã khô cn đến ngàn y số. Con sông này i trên 3,400 dm,
cái nôi của Trung quốc. ng nhiều đoạn đã bkhạn, bùn lòng ng
bồi lên khi con nước cạn đi. Đến mùa nước nước ng lại dâng n rất mau
làm vcả đê điều, nước tràn ra hai ven sông làm ngập lụt những vùng dọc theo
ven ng gây thiệt hại v mùa màng cùng nhân mạng k ln. Tình trạng hạn
hán thường xuyên biến các dòng ng kcạn trong đó dòng ng Hng
nguy khô cạn mau nhất. Từ m y số đến cửa khẩu của dòng ng này đã
bắt đầu khô cạn trong những tháng mùa (theo bn tường trình gn đây nhất
của ký giả Richard Hayes của dài BBC Bắc kinh)
Tiểu lun các vấn đề toàn cầu_ nhóm 8
4
Thế giới chúng ta đang sống chỉ 3% ớc ngọt, còn lại 97% là nước mặn
không thdùng để uống hay canh tác được, mặc dầu gần đây đã những quốc
gia tiến bộ đã dùng nước biển chế tạo ra nước ngọt như Hoa Kỳ hoặc Do Thái,
song giá thành của nước ngọt còn quá đắt và li rất gii hạn. Trong s3% nước
chúng ta trên địa cầu, thì đã đến 68.7% nước đá dưới dạng đóng ng,
30.1% nước nm trong lòng đất, 0.9% c đá trong lòng đất, phần còn lại là
0.3% là nguồn nước sông hồ và đầm lầy.
Trên một vài phn đất trên thế giới, nhu cầu nước ngọt đã vượt qgiới hạn
cung cp. do rất dễ hiểu là một số lớn các n đó đã vào những vùng
đất khô hạn định khoặc thường xuyên. Theo thống kê của Viện nghiên cu
môi sinh Stockholm (The Stockholm Environment Institute) gần đây cho biết
rằng một số rất ln nhân loại đã vào nhng vùng đất khô hn thiếu nước
thường xuyên, nhu cu dùng nước hng ngày đã cao gấp đôi n sự ng
trưởng nhân số. Những giếng nước đào thật u vào lòng đất cùng những hồ
chứa nước có thể cung cấp nước cho nhân loại một cách tạm thời, song số lượng
nước mưa số lượng nước nằm trong lòng đất vẫn không thay đổi. Các chuyên
viên ktượng tiên đoán rằng trong vòng 25 năm tới, số lượng nước mà mỗi
người trên thế gii đang dùng sphải cắt đi một nửa. Trong khi đó một số nước
trên thế giới đã làm ô nhim nguồn nước địa phương của mình trm trọng, như ở
Phần Lan chỉ 5% nguồn nước sông rạch còn thdùng để uống, 75% bị ô
nhim nặng cho dù để dùng cho kĩ nghệ cũng không được.
Nhà máy cung cấp nước cho đô thị My cơ, lớn đứng hàng thnhì tn
thế giới, nguồn nước uống cung cấp gn 80% cho thị n đây đã tụt xuống
mt cách đáng ngại. Bắc Kinh, thđô của Trung quốc cũng đang gặp phải nạn
thiếu nước như trên. Lượng ớc dùng đang trên đà tụt xuống 3 feet mi năm,
1/3 các giếng nước cung cấp cho thành phhầu như đã kcn. Hàm lượng
nước đại Ogallala của Hoa Kcũng đã dùng gần hết cho việc canh tác ng
sản các min Tây Bắc tiểu bang Texas, hiện đang co rút lại đến 1/3 vì thiếu
nước để canh tác. Hai nước lớn là Trung Hoa Ấn độ, đứng hạng nhì ba
trên đà sản xuất nông phẩm cũng đã khựng lại đối đầu với tình trng thiếu nước
ngày càng trm trọng. Tình trng càng bi đát hơn vì các giòng sông lớn như sông
Hằng (Ganges) bên Ấn độ đã không còn chảy ra đến biển vì ng ng đã đổi
chiều chảy, cũng giống như giòng sông Colorado Bắc Mỹ vậy.
Cơ thể chúng ta rất cần nước sạch để đem các chất thải ra ngoài, thế nhưng
li không có đớc sạch để sử dụng. Con số người trên địa cầu hiện nay không
đầy đnước sạch để sdụng đã gia tăng t2.6 tngười vào m 1990 lên
đến 2.9 tngười o năm 1997 từ đó đến nay chỉ ng. Con số đó chiếm
Tiểu lun các vấn đề toàn cầu_ nhóm 8
5
gần nửa n số trên địa cu, và điều kiện vệ sinh của nước là c một vấn đề sinh
tử.
Đsản xut thực phẩm cũng phải tùy thuộc vào nước. Đtưới cho hoa màu
cây trái dĩ nhiên chúng ta cũng cần đến ớc nước mưa. Những thời gian gần
đây dn thủy nhập đintrthành một phương tiện chính để thể cung cấp
thực phẩm cho nhân số hoàn cầu càng ngày càng gia tăng. Ngày nay 36% mùa
màng trên toàn thế giới đều dựa vào phương tiện dẫn thủy nhập điền”. Tổng số
các vùng đất canh tác hoa màu trên thế gii nhờ vào phương tiện dẫn thủy đó đã
lên đến tột đỉnh khoảng hai mươi m về trước, và y githì đang tụt xuống
mt cách từ từ. Nếu ta phải dùng rất nhiều nước để dội cầu cho mạnh, cho bồn
rửa mặt và cho bn tắm thật sạch, thật kmà tin rng thế gii chúng ta đang
sống đã không cung cấp đủ ớc cho chúng ta xài. Nên nhrằng đó là chmi
20% nhng người hưởng thụ được những phương tiện xa xỉ trên mà thôi.
Tại lục địa Phi châu hầu hết đàn bà phải mất mi ngày ít nhất là 6 tiếng đồng hồ
để đi kiếm nước đặng dùng và thường thường thì hchỉ tìm được nước bẩn
ô nhim mà thôi. Dĩ nhiên những người đàn đó hiểu thế nào nước
sạch, nhưng họ phải đối diện một thực tế phủ phàng rng càng ngày nguồn nước
càng cn kiệt! Thế gii vi kĩ thuật hiện đại thể gii quyết vn nạn y được
không? Nước đã đi u hết ? Trong khi đó thì nhu cu đòi hỏi nước càng ngày
càng gia tăng.
Khu vực Nam Á, hạn hán ngày càng trầm trọng, do khai thác nước ngầm bừa
bãi nên i nguyên nước ngầm của các nước Ấn Độ, Pakixtan, Banglađet…b
khô kiệt. Tổng lượng Tài nguyên nước của Trung Quốc đứng thứ 6 trên thế giới,
nhưng lượng nước tính theo bình quân đầu người chỉ 2400m3, thấp n rất
nhiu so với lượng nước bình quân đầu người trên Thế giới là 7700m3, chỉ đứng
ở vị trí 109 và bliệt vào 1 trong scác quốc gia thiếu nước trên thế giới. Lượng
nước bình quân theo đầu người ca 9 tỉnh miền bắc Trung Quốc chưa đến
500m3, thấp hơn tiêu chuẩn lượng nước ngọt thấp nhất thế giới. Diện tích biển
nước mặn Aran đã thu nh lại còn không bng mt nửa trước đây. Khu vực
Trung Á cũng đang đứng trước vấn đề thiếu nước, 5 quốc gia ven biển đã bt
đầu hành động để bảo vệ nguồn nước của khu vực y. i nguyên nước của
khu vực Châu M rất phong phú nhưng do phân bkhông đồng đều nên các
bang miền Tây và min Bắc Mêhicô vn thiếu nước, thành phhicô thường
xuyên không đ nước để cung cấp trong thời gian i, do việc khai thác bừa bãi
mạch nước ngm đã làm cho thành cnày mỗi m tụt xuống 17cm. Xét góc
độ toàn cu, các khu vực như Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á, Nam Á đang
trong tình trng thiếu nước nghiêm trng, i nguyên nước ngày ng nh
hưởng to lớn đến sức khoẻ người n, với môi trường sinh thái, và sphát triển
kinh tế, chính trị, xã hi của những nước này