272
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 20, 272-279
*Corresponding author
Email: trangdolinh@gmail.com Phone: (+84) 919485625 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD20.3626
SLEEP QUALITY AMONG CANCER PATIENTS RECEIVING TREATMENT
AT VINMEC TIMES CITY INTERNATIONAL GENERAL HOSPITAL IN 2023–2024
Trang Do Linh1*, Hao Nguyen Tien1, Mai Nguyen Thanh1, Phuc Nguyen Thi1, Nguyen Thi Kim Anh1,
Thuy Dao Thi1, Vinh Hoang Trung2, Tinh Ta Thi2,
1Vinmec Times City International General Hospital - No. 458 Minh Khai, Vinh Tuy Ward, Hanoi City, Vietnam
2Thang Long University - Nghiem Xuan Yem Street, Dinh Cong Ward, Hanoi City, Vietnam
Received 23/09/2025
Revised 17/10/2025; Accepted 25/10/2025
ABSTRACT
Objective: The study aims to evaluate sleep quality and analyze factors associated
with the sleep quality of cancer patients undergoing treatment at Vinmec Times City
International General Hospital.
Subject and method: A cross-sectional descriptive study was conducted with 151
cancer patients, combined with a qualitative component involving in-depth interviews
with six patients who reported poor or very poor subjective sleep quality. Sleep quality
was assessed using the Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI). Quantitative data were
processed using Excel and analyzed with SPSS version 22.0.
Results: A total of 92.7% of participants were found to have poor sleep quality (PSQI > 5), with
a mean PSQI score of 11.36 ± 3.79 (range: 3–19). Poorer sleep quality was associated with
older age and higher ECOG performance status scores. Statistically significant relationships
were found between sleep quality and various factors, including age, occupation, educational
level, marital status, cancer type, disease stage, presence of metastasis, ECOG score,
chemotherapy and/or radiotherapy, dietary habits promoting sleep, and anxiety levels (p <
0.05). Qualitative findings further highlighted additional influencing factors such as hospital
environment, fear of sleeping pill side effects, and pain.
Conclusion: The prevalence of poor sleep quality among cancer patients was relatively
high. The findings underscore the need for comprehensive and widely implemented
sleep hygiene interventions to enhance sleep quality and overall well-being in this
patient population.
Keywords: Sleep Quality, PSQI, cancer, ECOG, anxiety.
273
D.L. Trang et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 20, 272-279
*Tác giả liên hệ
Email: trangdolinh@gmail.com Điện thoại: (+84) 919485625 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD20.3626
CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ ĐIỀU TRỊ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY NĂM 2023 – 2024
Đỗ Linh Trang1*, Nguyễn Tiến Hào1, Nguyễn Thanh Mai1, Nguyễn Thị Phúc1, Nguyễn Thị Kim Anh1,
Đào Thị Thúy1, Hoàng Trung Vinh2, Tạ Thị Tĩnh2,
1Bệnh viện Đa Khoa Quốc Tế Vinmec Times City- Số 458 Minh Khai, Phường Vĩnh Tuy, Thành phố Hà Nội, Việt Nam
2Trường Đại học Thăng Long- Đường Nghiêm Xuân Yêm, Phường Định Công, Thành phố Hà Nội, Việt Nam
Ngày nhận bài: 23/09/2025
Ngày chỉnh sửa: 17/10/2025; Ngày duyệt đăng: 25/10/2025
TÓM TT
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá chất lượng giấc ngủ và phân tích một số yếu tố liên
quan đến chất lượng giấc ngủ của người bệnh ung thư.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tả cắt ngang được thực hiện trên
151 người bệnh ung thư điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City trong
giai đoạn 2023–2024, kết hợp với nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn sâu 6 bệnh
nhân chất lượng giấc ngủ chủ quan mức kém và rất kém. Thang đo Pittsburgh Sleep
Quality Index (PSQI) được sử dụng để đánh giá chất lượng giấc ngủ. Dữ liệu được xử lý sơ
bộ bằng phần mềm Excel và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 22.0.
Kết quả: 92.7% người bệnh tham gia nghiên cứu chất lượng giấc ngủ kém (PSQI >
5), với điểm PSQI trung bình là 11.36 ± 3.79 (dao động từ 3 đến 19). Tuổi càng cao chỉ
số hoạt động thể (ECOG) càng lớn thì chất lượng giấc ngủ càng kém. Nghiên cứu cho
thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa chất lượng giấc ngủ các yếu tố: tuổi, nghề
nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, loại ung thư, giai đoạn bệnh, tình trạng di
căn, chỉ số ECOG, hóa trị và/hoặc xạ trị, chế độ ăn uống hỗ trợ giấc ngủ và tình trạng lo âu
(p < 0.05). Phân tích định tính còn ghi nhận thêm các yếu tố ảnh ởng như môi trường
bệnh viện, lo ngại về tác dụng phụ của thuốc ngủ và tình trạng đau đớn.
Kết luận: Tlệ người bệnh ung thư có chất lượng giấc ngủ kém mức cao. Do đó, cần triển
khai rộng rãi các chương trình can thiệp về vệ sinh giấc ngủ nhằm cải thiện chất lượng giấc
ngủ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhóm bệnh nhân này
Từ khóa: chất lượng giấc ngủ, PSQI, ung thư, ECOG, lo âu
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh ung thư đang là mối quan tâm đáng lo ngại hiện
nay trên toàn thế giới Việt Nam. Đối với người
bệnh, việc chẩn đoán mắc ung thư như mang trên
mình một “bản án tử đe dọa về thể chất, sức khỏe
tinh thần, kinh tế cho người bệnh gia đình của
người bệnh. Sự kiệt quệ về thể chất, tinh thần lo âu,
sợ hãi thể làm cho việc đối mặt, chấp nhận với
điều trị ung thư trở nên khó khăn hơn, gây trở ngại
đến việc ra quyết định chăm sóc và điều trị của nhân
viên y tế, ảnh ởng trực tiếp đến chất lượng cuộc
sống của người bệnh, gia đình người bệnh. Một trong
những hoạt động sinh lý của cơ thể mang tính chu k
diễn ra hàng ngày nhưng lại đóng vai trò quan trọng
trong việc giúp thể nghỉ ngơi, phục hồi tái tạo năng
lượng cho các hoạt động của các quan trong
thể, giữ cho thần kinh được cân bằng, tinh thần ổn
định, khôi phục và tăng cường trí nhớ, nâng cao hiệu
suất trong công việc, phòng chống bệnh tật đó
giấc ngủ. Qua các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người
bệnh đối mặt với rối loạn giấc ngủ hay có chất lượng
giấc ngủ kém là tương đối cao khoảng trên 40%.
Thậm chí một nghiên cứu Hải Dương năm 2018
chỉ ra 83,7% người bệnh ung thư điều trị nội trú
chất lượng giấc ngủ kém [3]. Tuy nhiên, hiện nay
chưa nghiên cứu về chất lượng giấc ngủ nào được
thực hiện trên người bệnh ung thư tại Trung tâm Ung
274
D.L. Trang et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 20, 272-279
Bướu - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times
City. Do đó, nhằm khảo sát chất lượng giấc ngủ của
người bệnh ung thư tìm hiểu một số yếu tố liên
quan đến chất lượng giấc ngủ của người bệnh ung
thư nên chúng tôi thực hiện đề tài: Chất lượng giấc
ngủ của người bệnh ung thư điều trị tại Bệnh viện
Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2023 -
2024 với hai mục tiêu:
Đánh giá chất lượng giấc ngủ của người bệnh ung
thư điều trị tại Trung tâm Ung Bướu - Bệnh viện Đa
khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2023 - 2024.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến chất ợng
giấc ngủ của người bệnh ung thư điều trị tại Trung
tâm Ung Bướu - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Times City năm 2023 - 2024.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tả cắt
ngang kết hợp nghiên cứu định tính
2.2. Địa điểm thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu
được tiến hành từ 04/2023 đến tháng 04/2024 tại
Trung tâm Ung Bướu - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế
Vinmec Times City.
2.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu: Người
bệnh từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán ung thư
nhập viện điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa
Quốc tế Vinmec Times City, không các vấn đề
ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp, nhận thức, trí
nhớ, không mắc các bệnh rối loạn tâm thần – hành vi
(hoang tưởng, tâm thần phân liệt...) đồng ý tham
gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu: Người
bệnh lú lẫn, suy giảm trí nhớ, mắc các bệnh rối loạn
tâm thần – hành vi (hoang tưởng, tâm thần phân liệt)
hoặc các vấn đề sức khỏe ảnh ởng đến khả
năng giao tiếp, nhận thức.
2.4. Cỡ mẫu, chọn mẫu:
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng: Áp dụng công
thức tính cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ trong nghiên cứu
với p = 0,79 tỷ lệ người bệnh rối loạn giấc ngủ
trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phương Mai
(2021) cộng sự đánh giá chất lượng giấc ngủ của
người bệnh ung thư tại Bệnh viện y dược Huế [2]. =>
Cỡ mẫu của nghiên cứu tính được 151 người bệnh.
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính: Lấy mẫu
chủ đích 06 người bệnh ung thư (gồm 3 nam và 3 nữ)
trong số người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu định
lượng có chất lượng giấc ngủ chủ quan là kém và rất
kém tiến hành phỏng vấn sâu.
Biến số/ chỉ số/ Nội dung/ chủ đề nghiên cứu:
* Nghiên cứu tả sử dụng bộ câu hỏi nghiên cứu
gồm có 4 phần:
A. Đặc điểm chung của người bệnh:
B. Đặc điểm lâm sàng, điều trị của người bệnh:
C. Thang đo PSQI - đánh giá chất lượng giấc ngủ
trong vòng 1 tháng gần nhất với 07 cấu phần. Sử
dụng điểm cắt là 5 điểm để phân chia điểm đánh
giá chất lượng giấc ngủ của người bệnh ung thư
thành 02 nhóm người bệnh chất lượng giấc
ngủ tốt ( PSQI 5 điểm) và chất lượng giấc ngủ kém
(PSQI > 5 điểm).
D. Thang đo DASS 21 - sử dụng subscale DASS 21
lo âu để đo lường lo âu người bệnh ung thư.
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng điểm cắt
7 điểm phân ra hai nhóm đối tượng lo âu (7
điểm) và không có lo âu ( 7 điểm).
* Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu được ghi chép
hoặc ghi âm để thu thập các thông tin, các yếu tố
liên quan ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của
người bệnh ung thư dựa vào các câu hỏi hướng dẫn
phỏng vấn sâu đã được đưa ra.
2.6. Xử lý và phân tích số liệu:
Số liệu sau khi được xử thô phần mềm Excel
được nhập và được phân tích bằng phần mềm SPSS
22.0. Các thông tin trong cuộc phỏng vấn sâu được
ghi chép và viết báo cáo nghiên cứu định tính về các
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của người
bệnh ung thư.
2.7. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được diễn ra có sự đồng ý của Hội đồng
Đề cương luận văn tốt nghiệp của Trường Đại học
Thăng Long căn cứ Quyết định số: 23051706/QĐ-
ĐHTL sự đồng ý của Ban lãnh đạo Bệnh viện.
sự đồng ý tự nguyện tham gia của đối tượng nghiên
cứu. Nghiên cứu chỉ nhằm mục đích khảo sát chất
lượng giấc ngủ của người bệnh ung thư tại Bệnh viện
Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City, ngoài ra không
có mục đích gì khác.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu
(n = 151)
Đặc điểm Số lượng
(N) Tỷ lệ (%)
Tuổi
Từ 18 đến 34 tuổi 21 13,9
Từ 35 đến 54 tuổi 53 35,1
Từ 55 tuổi trở lên 77 51
Mean ± SD (Min-Max) 54,47 ± 16,17 (18 – 90)
Người bệnh ung thư nhập viện nội trú tham gia
nghiên cứu nhiều độ tuổi từ 18 tuổi đến 90 tuổi,
tuổi trung bình của tất cả đối tượng nghiên cứu
54,47 ± 16,17.
275
D.L. Trang et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 20, 272-279
Bảng 2. Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên
cứu (n = 151)
Đặc điểm lâm sàng Số
lượng
(N)
Tỷ lệ
(%)
Thời gian
chẩn đoán
bệnh
≤ 6 tháng 69 45,7
> 6 tháng 82 54,3
Loại ung thư
Đầu mặt cổ 26 17,2
Phổi 26 17,2
16 10,6
Hệ tiết niệu sinh dục 13 8,6
Huyết học 28 18,5
Tiêu hóa 42 27,8
Giai đoạn
bệnh
I14 9,3
II 17 11,3
III 32 21,2
IV 88 58,3
Tình trạng
di căn
Đã phát hiện di căn 74 49
Chưa phát hiện di căn
77 51
Chỉ số hoạt
động cơ thể
(ECOG)
Tốt (0-1) 63 41,7
Xấu(2-3-4) 88 58,3
Về thời gian chẩn đoán bệnh, số người bệnh thời
gian chẩn đoán bệnh dưới 6 tháng 69 người bệnh
(45,7%) số người bệnh thời gian chẩn đoán
bệnh trên 6 tháng là 82 người bệnh (54,3%). Tlệ
người bệnh tham gia nghiên cứu mắc ung thư hệ
tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất (27,8%) và chiếm nhiều
nhất người bệnh mắc ung thư ở giai đoạn IV (58,3%).
Tlệ người bệnh tham gia nghiên cứu đã phát hiện
tình trạng di căn và chưa phát hiện tình trạng di căn
49% và 51%. Nhóm người bệnh tham gia nghiên cứu
có chỉ số hoạt động cơ thể ECOG xấu và nhóm có chỉ
số hoạt động ECOG tốt lần lưt là 58,3% và 41,7%.
Bảng 3. Chất lượng giấc ngủ của người bệnh ung thư
(n = 151)
Chất lượng giấc ngủ (PSQI) Số lượng
(N)
Tỷ lệ
(%)
Chất lượng
giấc ngủ
Chất lượng
giấc ngủ tốt
(PSQI ≤5)
11 7,3
Chất lượng
giấc ngủ kém
(PSQI >5)
140 92,7
Mean ± SD (Min-Max) 11,36 ± 3,79 (3 – 19)
Tỷ lệ người bệnh ung thư có chất lượng giấc ngủ kém
(PSQI > 5) người bệnh chất lượng giấc ngủ tốt
(PSQI 5) lần lượt là 92,7% và7,3%. Điểm PSQI trung
bình là 11,36 ± 3,79.
Bảng 4. Đặc điểm giấc ngủ của người bệnh ung thư (n = 151)
Đặc điểm Số lượng (N) Tỷ lệ (%)
Thời gian đi vào giấc ngủ (phút)
≤ 15 phút 7 4,6
16 – 30 phút 52 34,4
31 – 60 phút 40 26,5
≥ 60 phút 52 34,4
Mean ± SD (Min – Max) 44,11 ± 16,48 (15 – 120)
Tần suất ngủ trễ hàng tuần
Không xảy ra 9 6
Ít hơn 1 lần/tuần 13 8,6
Từ 1 – 2 lần/tuần 65 43
> 2 lần/tuần 64 42,4
Độ trễ của giấc ngủ Median (Min - Max) 2 (0-3)
Số giờ trên giường ngủ Mean ± SD (Min – Max) 7,57 ± 1,10 (3 – 11)
Số giờ ngủ được mỗi đêm (giờ)
Ngủ trên 7 giờ/đêm 8 5,3
Ngủ được 6 – 7 giờ/đêm 13 8,6
Ngủ được 5 – 6 giờ/đêm 69 45
Ngủ được dưới 5 giờ/đêm 62 41,1
Mean ± SD (Min – Max) 5,09 ± 1,25 (1,5 – 10)
276
D.L. Trang et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 20, 272-279
Đặc điểm Số lượng (N) Tỷ lệ (%)
Hiệu quả giấc ngủ (%)
≥ 85% 27 17,9
75 – 84% 22 14,6
65 – 74% 25 16,6
< 65% 77 51
Mean ± SD (Min – Max) 67,76 ± 15,31 (25 – 100)
Chất lượng giấc ngủ chủ quan
Rất tốt 0 0
Tốt 67 44,4
Kém 74 49
Rất kém 10 6,6
Sử dụng thuốc ngủ
Không xảy ra 68 45
Ít hơn 1 lần/tuần 21 13,9
Từ 1 – 2 lần/tuần 34 22,5
> 2 lần/tuần 28 18,5
Thời gian đi vào giấc ngủ trung bình của người bệnh
44,11 ± 16,48 phút. Không người bệnh câu
trlời về chất lượng giấc ngủ chủ quan là rất tốt, 49%
người bệnh câu trả lời về chất lượng giấc ngủ chủ
quan kém 6,6% người bệnh rất kém. Trong đó,
51% người bệnh hiệu quả giấc ngủ dưới 65%,
16,6% người bệnh hiệu quả giấc ngủ từ 65% đến
74%; 14,6% người bệnh hiệu quả giấc ngủ từ
75% đến 84% và 17,9% người bệnh có hiệu quả giấc
ngủ trên 85%.
Số người bệnh không sử dụng thuốc ngủ 68
người bệnh, chiếm tỷ lệ 45% số người bệnh
dùng thuốc ngủ trên 2 lần/ tuần 28 người bệnh,
chiếm 18,5%.
Bảng 5. Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và chất lượng giấc ngủ
Biến số độc lập
Chất lượng giấc ngủ của người bệnh ung thư
(Điểm PSQI)
Trung bình Độ lệch chuẩn p
Thời gian chẩn đoán bệnh≤ 6 tháng (N = 69) 11,38 3,83 0,970b
> 6 tháng (N = 82) 11,35 3,80
Loại ung thư
Đầu mặt cổ (N = 26) 8,92 3,36
< 0,001a
Phổi (N = 26) 12,08 2,88
Vú (N = 16) 9,31 3,42
Tiết niệu sinh dục (N = 13) 14,31 2,46
Huyết học (N=28) 10,25 4,23
Tiêu hóa (N = 42) 13,05 3,28
Giai đoạn bệnh
I (N = 14) 9,14 3,70
< 0,001a
II (N = 17) 9,24 3,33
III (N = 32) 10,06 3,11
IV (N = 88) 12,60 3,67
Tình trạng di căn Có (N = 74) 13,05 3,30 < 0,001b
Không (N = 77) 9,74 3,54