intTypePromotion=1

Chế biến rơm làm thức ăn cho trâu bò góp phần giảm phát thải khí nhà kính

Chia sẻ: Trần Minh Tấn | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:6

0
52
lượt xem
8
download

Chế biến rơm làm thức ăn cho trâu bò góp phần giảm phát thải khí nhà kính

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lợi ích từ việc ủ rơm cho trâu bò ăn, các bước tiến hành ủ rơm + urê + vôi, cơ sở khoa học của ủ thức ăn xanh hay ủ bảo quản,... là những nội dung chính trong tài liệu "Chế biến rơm làm thức ăn cho trâu bò góp phần giảm phát thải khí nhà kính". Mời các bạn cùng tham khảo để nắm bắt nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chế biến rơm làm thức ăn cho trâu bò góp phần giảm phát thải khí nhà kính

  1. CHẾ BIẾN RƠM LÀM THỨC ĂN CHO TRÂU BÒ GÓP PHẦN GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH Đóng góp lớn nhất phát thải khí nhà kính từ chăn nuôi bò là methane đường ruột  chiếm 63% tổng lượng phát thải, với khoảng 84% khí mê­tan từ ruột bò, chủ yếu  là từ những con bò trưởng thành. (Kebreab et al, 2012) I. LỢI ÍCH TỪ VIỆC Ủ RƠM CHO TRÂU BÒ ĂN: 1. Tận dụng phế phụ phẩm của trồng lúa: Rơm là sản phẩm phụ của trồng lúa. Nguồn rơm hiện nay chỉ được sử dụng khoảng 20­30% (làm chất độn chuồng chăn nuôi, làm thức ăn cho trâu bò khi đói rét và dùng để trồng nấm ăn...). Như vậy, sau khi thu hoạch lúa, có 80% lượng rơm tương ứng không được sử dụng mà thường đốt đi. Nếu dự trử để chăn nuôi trâu bò thì đây là nguồn thức ăn dồi dào. Nhưng do rơm nghèo chất dinh dưỡng, tỷ lệ tiêu hoá thấp nên muốn sử dụng có hiệu quả phải biết phương pháp ủ rơm. Rơm ủ theo đúng quy trình kỹ thuật để làm thưc ăn cho trâu bò rất có nhiều lợi ích như: ­ Trâu bò ăn lượng rơm ủ gấp 2 lần rơm khô do rơm ủ mềm và không bị ngộ độc do urê. ­ Tỷ lệ tiêu hoá tăng lên 10% so với ăn rơm khô. ­ Tăng lượng đạm (protein) thô trong rơm gấp 2,5 lần. ­ Trâu bò tăng trọng nhanh, đem lại hiệu quả kinh tế cao. 2. Giảm phát thải khí nhà kính methane (CH4): Ở trâu bò (động vật nhai lại), đại đa số sinh ra methane (CH4) đường ruột diễn ra trong dạ cỏ. Phát thải trực tràng chiếm khoảng 2 đến 3% tổng lượng phát thải của CH4 trong cừu hoặc bò sữa theo Murray et al. (1976) và Muñoz et al.
  2. (2012). Một đặc điểm quan trọng có thể ảnh hưởng đến phát thải CH4 là chất lượng và khả năng tiêu hóa thức ăn thô xanh gia súc. Chất lượng thức ăn thô xanh, độ đậm đặc, khả năng tiêu hóa, và lượng tiêu thụ có liên quan tới nhau vàtác  động trực tiếp đến phát thải CH4 trong dạ cỏ. Đầu năm 2014 ở Thừa Thiên Huế đã nuôi thí nghiệm cho bò ăn rơm + urê + vôi và nhận thấy rằng bò ăn lượng rơm ủ nhiều hơn và khả năng tiêu hóa của rơm rạ được cải thiện so với chỉ ăn rơm khô hoặc chỉ ủ với urê. II. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH Ủ RƠM + URÊ + VÔI: 1. Chuẩn bị hố ủ: Có nhiều loại hố ủ như: hố ủ nổi, hố ủ chìm, nữa nổi nữa chìm, ủ bằng bao ni  lông...). Hố ủ chìm dể làm, ít tốn công và vật liệu nhưng phải lưu ý một số điểm  sau đây: ­ Địa điểm đào hố: cao ráo, mạch nước ngầm sâu, dể thoát nước khi trời mưa, dể  che đậy. ­ Kích thước: Tuỳ theo số lượng trâu bò nuôi hoặc lượng rơm cần ủ để thiết kế hố  ủ. Cứ 1m3 hố ủ được 100 kg rơm. Kích thước dài 2m x rộng 0,5m xsâu 1m. ­ Hố phải chắc chắn, kín. Không để nước và không khí thoát từ trong ra ngoài hoặc  ngược lại nên dùng tấm ni lông lót dưới đáy và chung quanh thành hố ủ. 2. Chuẩn bị nguyên vật liệu: ­ Rơm: 100kg (Rơm phải khô, sạch, có màu vàng sáng). ­ Nước sạch: 100 lít. ­ Urê: 2 kg. ­ Vôi bột: 2kg. ­ Dụng cụ: Xô, thùng tưới hoa sen (ô doa), cân, tấm bạt (ni lông). 3. Tiến hành ủ rơm: (Tính cho ¼ lần trên hố ủ 100 kg rơm) ­ Dùng tấm bạt (ni lông) che phủ thật kín lót dưới đáy và chung quanh thành hố ủ. ­ Cân 25 kg rơm rải đều vào hố ủ, nén (dầm) cho chặt.
  3. ­ Cân 0,5 kg Urê và 0,5 kg vôi bột hoà tan vào 25 lít nước đựng trong xô. ­ Đổ nước đã hoà tan vào bình hoa sen tưới đều lên mặt lớp rơm trong hố. Vừa tưới vừa nén chặt, tưới từ từ để nước ngấm vào rơm mà không đọng ở đáy. ­ Tiếp tục làm từng lớp 2, 3, 4 tương tự như lớp trên cho đến khi đầy hố ủ. ­ Dùng tấm ni lông che phủ thật kín hố ủ, trên cùng dùng đất đắp hoặc đè bằng các vật liệu sẳn có khác.4. Theo dỏi hố ủ: ­ Sau vài ngày, rơm ở hố ủ xẹp xuống.Vì vậy, phải đắp đất hoặc tấm che sao cho  hố ủ luôn luôn được đậy kín. ­ Chống nước ngấm vào hố khi trười mưa. Bí quyết để thành công là: Nén thật chặt, tưới thật đều, che thật kín. 5. Lấy rơm cho trâu bò ăn: ­ Sau 2­3 tuần có thể lấy ra cho trâu bò ăn. ­ Lấy ra đến đâu, ăn hết đến đó. Lấy theo từng góc của hố ủ. Rơm đem khỏi hố để  khoảng 30 phút rồi mới cho ăn bằng cách dàn mỏng ra giữa sân làm bay hết mùi  nồng để gia súc dể ăn. ­ Rơm ủ xong đem trâu bò ăn tốt nhất là nhìn rơm có màu vàng sáng, không khô, không ướt, rơm mềm, có mùi khai đậm đặc. Chất lượng rơm phải tốt và đồng đều, không mốc, không ướt và không ứ đọng nước trong hố ủ. ­ Nếu trâu bò ăn rơm ủ lần đầu nên tập ăn bằng cách trộn với cỏ tươi để cho quen  dần. Trong hộ gia đình nếu nuôi trâu bò ít có thể ủ trong từng bao ni lông (bao ni lông  không rách, thủng lổ). Tỷ lệ rơm, nước, urê như phương pháp trên, cách làm khác  là rải đều rơm ra giữa nền sân (nền xi măng hoặc lót ni lông), vừa tưới nước hoà  tan vừa dậm chặt, sau đó bỏ vào bao nén chặt rồi buộc miệng bao thật kín. Quy trình ủ xanh thức ăn cho trâu bò Phương pháp  ủ  xanh thức ăn đã được áp dụng phổ  biến hầu hết các vùng  chăn nuôi trâu bò của nước ta.  
  4. I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA Ủ THỨC ĂN XANH HAY Ủ BẢO QUẢN: 1. Nguyên tắc: ­ Thức ăn xanh đem ủ nhờ lên men yếm khí hạn chế bị hư hỏng do ôxy hoá. ­ Acid tạo ra trong quá trình lên men hay acid bổ sung vào sao cho quá trình lên  men đều dừng lại. 2. Nguyên liệu: ­ Cỏ xanh hay một số phụ phế phẩm khác nhiều nước như: Vỏ, lỏi trái thơm,  bã trái điều, hèm bia. ­ Vấn đề ủ xanh đặt ra khi nguồn cỏ xanh dồi dào vào mùa mưa, nhưng ta không   thể phơi khô cất giữ đến mùa khô được. Ngược lại, nếu khi cần mới cắt cho ăn thì   chất lượng cỏ thay đổi rất nhiều, cỏ già sẽ kém tiêu hoá, lượng đạm giảm đáng kể và  Lignin tăng. Đối với mỗi loại cỏ có thời kỳ thu cắt tối ưu. ­ Phạm vi trong tỉnh: Thân vỏ  bắp non, xác khoai mì, thân cây họ  đậu, dây  khoai lang... là nguồn nguyên liệu khá lớn có thể dự trữ làm thức ăn xanh cho bò. II. BẢN CHẤT CỦA QUÁ TRÌNH Ủ CỎ: Quá trình ủ cỏ là quá trình lên men yếm khí trong hầm ủ khi có đủ độ ẩm. Giữ  vai trò chính trong quá trình ủ cỏ là các vi khuẩn lên men lactic có sẵn trong cỏ xanh.  Những quá trình chính sau đây xảy ra trong quá trình ủ cỏ: 1. Hoạt động hiếu khí Những tế  bào cỏ  tiếp tục hô hấp, tiêu thụ  oxy còn lại trong hầm ủvào tạo ra   khí CO và nước, kèm theo toả nhiệt lượng. Đồng thời nấm men và mốc vẫn tiếp  tục phát triển. Nếu  ủ đúng kỹ  thuật giai đoạn này sẽ  ngắn, nhiệt độ  sẽ  không lên  quá 38oC. Nếu cỏ  vào hầm ủ  chậm, cỏ nén không chặt, để  không khí lọt vào, thì   giai đoạn này kéo dài, tổn thất lớn và nhiệt lượng thừa sinh ra làm nóng và hỏng   cỏ. 2. Hoạt động yếm khí: Khi toàn bộ lượng ôxy còn lại trong hầm ủ đã bị tiêu diệt hết ở giai đoạn trên,   vi khuẩn yếm khí bắt đầu hoạt động và sinh sôi nhanh. Đồng thời nấm men và  mốc bị  chết đi. Một số  enzym thực vật vẫn tiếp tục hoạt động. Những biến đổi  sinh hoá sau đây sẽ xảy ra: ­ Đường chuyển hoá thành acid lactid ,acid Acétic, rượu và CO2 . ­ Protein được thuỷ phân thành Peptic, NH4+, Aminoacid, amin, amid. ­ Khi độ  chua cỏ  đạt đến một giá trị  nhất định, vi khuẩn chết, enzym ngưng   hoạt động và cỏ  ủ  có chất lượng ổn định. Giá trị  này phụ  thuộc vào vật chất khô  ban đầu của nó. III. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỎ Ủ: ­ Thành phần hoá học của cỏ đem ủ liên quan đến chất lượng cỏ ủ. ­ Chất lượng cỏ ủ phụ thuộc vào bản chất nguyên liệu đầu, cụ thể là vật chất  khô, hàm lượng đường...
  5. ­ Bổ  sung nguồn đường dễ lên men cụ  thể là rỉ  mật, cám...một số  phụ  phẩm  khác. ­ Nếu có điều kiện phơi héo cỏ, độ ẩm khoảng 70%, kèm theo bổ sung rỉ mật   2­4%(tuỳ thuộc nguyên liệu ủ có nhiều hay ít đường). ­ Không ủ cỏ trực tiếp dưới dạng tươi, ngoại trừ bắp, cao lương. ­ Nếu cắt cỏ gặp lúc thời tiết xấu thì dùng rơm băm, bã mía cho vào hầm để  hút bớt dịch cỏ, lượng mật phải bảo đảm. ­ Ngoài ra còn bổ sung muối đề phòng cỏ ủ chua quá. Ngoài ra muối và đường   đều tăng áp suất thẩm thấu, giảm sự mất mát vật chất khô. IV.   CÁCH   ĐÁNH   GIÁ   CHẤT   LƯỢNG   CỎ   Ủ:   (ĐÁNH   GIÁ   BẰNG   CẢM  QUAN) ­ Mùi thơm acid dễ chịu, nếu mùi rất khó ngửi là cỏ hư phải bỏ. ­ Vị không đắng và không chua gắt. ­ Không có nấm mốc. ­ Độ   ẩm và màu: đồng đều. Khi cỏ   ủ quá  ẩm sẽ  có màu sậm, nhớt, mùi khó   chịu. Thông thường màu vàng xanh của dưa cải là màu thích hợp nhất. ­ Lá cỏ ủ không có sự tổn thất. Cỏ ủ xấu có vẻ nhiều xơ hơn lá còn rất mỏng. V. CÁCH KIỂM TRA ĐỘ   ẨM CỎ  TRƯỚC KHI  Ủ  MÀ KHÔNG CẦN GỞI   MẪU ĐẾN PHÒNG THÍ NGHIỆM. Cỏ thái nhỏ nắm trong lòng bàn tay trong vòng 30 giây, rồi từ từ  thả  ra, nhận  xét cỏ trong lòng bàn tay sẽ suy ra độ ẩm: ­ Nếu dịch cỏ chảy dễ dàng qua kẻngón tay: Độ  ẩm 75­85% không thích hợp   để ủ. ­ Nắm cỏ giữ nguyên hình dạng, tay ướt, độ ẩm từ 68­75%. Khi ủ cỏ này vẫn   bị thất thoát dịch cỏ, nhưng với chất bổ  sung rỉ mật 2­4% thì chất lượng cỏ  ủ  sẽ  cao. ­ Cỏ nắm vào sẽ bung ra ngay khi mở tay: ẩm độ thấp hơn 60%. Nếu là cỏ rất  non thì có thể   ủ  chất lượng tốt với  ẩm độ  này, ngược lại cỏ  sẽ  dễ  dàng bị  mốc.  Xử lý trường hợp này là trộn chung với cỏ ướt hay thêm nước hoà rỉ mật. VI.THỰC HÀNH Ủ THỨC ĂN XANH, 1. Ủ cỏ xanh với rỉđường và muối. ­ Nguyên liệu: Có thể ủ xanh cỏ tự nhiên, cỏ trồng (như cỏ voi, cỏ sả, cỏ họ  đậu) hay thân cây bắp tươi, cây đậu phụng thậm chí cả  cây lục bình. Cỏ  nên cắt  vào thời điểm trước khi ra hoa. Cỏ  không quá non chứa nhiều nước khó  ủ, cũng  không chờ cỏ quá già. Nếu là cỏ trồng nên cắt sau 45 ngày. Có thể ủ nhiều loại cỏ  họ đậu với nhau, cỏ họ đậu nên ủ chung với cỏ voi. Các nguyên liệu bổ sung như  rỉ đường 2­4 %, muối 1­2 % so với trọng lượng cỏ tươi. ­ Chuẩn bị nguyên liệu ủ  cỏ: Chọn ngày nắng ráo để  cắt cỏ, trải ra sân phơi   cho héo, sau đó cắt ngắn độ 2­3 cm.
  6. 2. Ủ chua thân, vỏ bắp thu trái non. a. Cách làm hố ủ: Số  lượngbắp  ủ  tính trên số  lượng trâu, bò và số  lượng vỏ  bắp thu hoạch.   Một con bò có thể ăn 15­20kg vỏ bắp ủ/ngày. Hầm ủ có thể tích 1m3 ủ được 600­ 800 kg vỏ, thân bắp non. Có hai loại hố ủ: hố hình khối và hố hình giếng. Hố hình   giếng: Giống như  cái giếng bên trong xây gạch dày. Đối với hố  đào không xây   gạch, có thể  lót bên trong bằng một túi nylon, chừa phần dư  bên dưới để  lót đáy   hố, chừa phần dư bên trên để có thể cột chặt khi ủ xong hố. b. Cho vỏ, thân bắp vào hố ủ: ­ Cân vỏ bắp: Đối với hố có đường kính 1,2 m x đáy 1,2 m x cao 1,2m cho vào   hố mỗi lớp:50kg vỏ bắp + 1kg cám + 0,5 kg muối (cám 2% + muối 1%). Hoặc50kg   vỏ bắp+ 2,5kg mật đường + nước + 0,5 kg muối (mật đường 5% + muối 1%). ­ Dậm bằng chân kỹ lưỡng, nhất là vách hố ủ. Cứ thực hiện cho đến khi đầy  hố. ­ Khi đã ủ đầy hố, cột chặt miệng túi nylon. ­ Đặt một tấm vĩ, bên trên xếp những tảng đá hoặc những vật nặng. ­ Mái che. c. Cách lấy vỏ bắp ủ cho bò ăn: ­ Có thể lấy cho bò ăn sau khi ủ 3 tuần. ­ Bốc bỏ phần bắp ủ bị nhiễm mốc hoặc vỏ bắp ủ bị nhũng. ­ Khi đã mở hố ủ nên cho bò ăn liên tục, không nên ngưng. ­ Tuỳ cấu trúc của hố mà lấy vỏ bắp ủ cho bò ăn: + Nếu hố dài nên lấy từng phần và xắn theo chiều sâu của hố. + Nếu hố hình giếng, lấy lớp trên rồi nén lại cho chặt, đậy kỹ như cũ. d. Đánh giá chất lượng vỏ bắp ủ bằng cảm quan: ­ Mùi thơm axit dễ chịu. ­ Màu vàng xanh của dưa cải muối, không mềmnhũng. ­ Vị không đắng và không chua gắt. ­ Không có nấm mốc.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản