
Chè đắng - Ilex kaushue S.Y.Hu, I. kudingcha
C.J. Tseng.
Có một số loài cây có lá được sao hay phơi khô dùng pha nước
uống thay trà-được gọi là chè-đắng. Các loại cây đều thuộc chi
Ilex.
Ở Paraguay và các nước Nam Mỹ, Hoa Kỳ và các nước châu Âu
, người ta dùng loại chè Paraguay (Paraguay Tea) - Ilex
paraguariensis St. Hil. làm trà uống vừa làm thuốc kích thích
tim, thần kinh, trị đau dạ dày và đái đường… Ở Trung Quốc,
người ta sử dụng phổ biến lá của loài Ilex latifolia Thunb. làm
chè uống với tên thương mại là chè-đắng "Vạn Thừa" hay chè-
đắng Đại Tân (Daxin bitter Tea). Chè này được sản xuất ở thôn
Khổ Đinh, xã Long Môn, huyện Đai Tân, tỉnh Quảng tây được
quảng cáo là một loại chè lưỡng dụng (vừa làm chè uống, vừa
làm thuốc) đã từng là một sản phẩm quý để cống hiến vua, có
tác dụng giảm đau, hạn chế khuẩn, chữa động kinh, có tác dụng
giảm huyết áp. Trong nhân dân, chè này được uống để an thần ,
giải nhiệt, chống ra mồ hôi, giải độc, kích thích tiêu hóa, làm
tỉnh rượu, lợi tiểu, trợ tim, chữa đi tả, nếu uống thường xuyên sẽ
làm tăng tuổi thọ.
Ở nước ta, từ những năm 1970, 1971 và sau này vào năm 1996,
các nhà thực vật học Việt Nam đã thu thập được mẫu vật của
loài Chè-đắng của Việt Nam giống như Khổ đinh trà của Trung
Quốc và đã xác định tên là Ilex kudingcha C.J.Tseng thuộc họ
Nhựa ruồi hay Bùi - Aquifoliaceae.

Vào năm 1999 , dựa vào những tài liệu phân loại mới, các nhà
thực vật học đã xác định lại loài Chè đắng ở Việt Nam có tên là
Ilex kaushue S.Y.Hu với tên đồng nghĩa là I. kudingcha C.J.
Tseng. Chè đắng, ở Cao Bằng thường gọi là Ché khôm cũng
được gọi là Khổ đinh trà ở các tỉnh Nam Trung Quốc, hay Khấu
thụ ở đảo Hải Nam.
Cây gỗ thường xanh cao 6-20m, đường kính 20 - 60cm, có cây
cổ thụ cao đến 35m, đường kính thân 120cm; cành thô màu nâu
xám, không lông. Lá đơn, mọc so le, dai và mỏng, hình thuôn
dài dạng bầu dục hay hình mác ngược, thường dài (11) 12 -
17cm, rộng (4) 5 - 6cm, nhưng những lá ở các chồi non có thể
dài tới 27-31cm, và rộng tới 9-13cm, đầu lá có mũi nhọn ngắn
hoặc tù, gốc hình nêm, mép lá có răng cưa với răng tù có đầu
đen, hai mặt lá không lông, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới màu
lục nhạt, gân giữa lõm, gân bên 14-15 đôi nổi rõ cả hai mặt;
cuống lá dài 1,5-2cm..
Hoa đơn tính, khác gốc, có khi tạp tính, họp thành cụm hoa ở
nách lá. Cụm hoa đực dạng ngù có trục dài cỡ 1cm, thường gồm
20-30 hoa có cuống mảnh, có lông tơ thưa, dài 4-5mm; đài hình
đĩa với 4 lá đài; 4 cánh hoa; 4 nhị ngắn hơn hoặc gần bằng cánh
hoa. Cụm hoa cái dạng chùm giả gồm 3-9 hoa có cuống thô dài
4 -6mm.
Quả hạch hình cầu, đường kính 1-1,2cm, không lông, khi chín
màu đỏ; phân quả 4, hình thuôn, dài cỡ 7mm, mặt lưng rộng cỡ
4mm, có vân và rãnh dạng mạng lưới.
Loài Khổ đinh trà hay Đại diệp đông thanh, Đại diệp trà - Ilex
latifolia Thunb. có một số đặc điểm sai khác với loài trên như: lá
dai, dày, cành non và cuống hoa hoàn toàn không có lông; phiến

lá dài 8-17cm, rộng 4,5-7,5cm, gân bên chỉ rõ ở mặt dưới, không
rõ ở mặt trên; cụm hoa dạng tán giả, gần như không cuống; đài
của hoa đực hình đấu; nhị dài bằng cánh hoa, hạt hình thuôn, dài
4mm, rộng 3mm, có các vân và hốc dạng khe rãnh không đều
nhau, mặt lưng có 3 gờ dọc

