Chứng minh được

tính xác thực vật lý của

Lý thuyết Dây

Lần đầu tiên, Các nhà vật lý lý thuyết Hà Lan sử dụng Lý thuyết Dây để

mô tả một hiện tượng vật lý. Công trình nghiên cứu của họ đã làm sáng tỏ

một hiện tượng tự nhiên chưa được giải thích bằng cách sử dụng các mô

hình toán học của Lý thuyết Dây, góp phần chứng minh được tính xác thực

vật lý của lý thuyết này.

Theo nhóm nghiên cứu, các electron có thể hình thành nên một dạng trạng

thái đặc biệt, còn được gọi là trạng thái tới hạn lượng tử, một trạng thái giữ vai trò

trong tính siêu dẫn nhiệt độ cao. Siêu dẫn nhiệt độ cao từ lâu đã trở thành một chủ

đề "nóng hổi" trong ngành vật lý. Ở trạng thái siêu dẫn nhiệt độ cao, được nhà

khoa học Heike Kamerlingh Onnes khám phá, các electron có thể di chuyển qua

một vật liệu mà không gặp một điện trở nào. Cho tới nay, chưa có một nhà khoa

học nào giải thích được tính siêu dẫn nhiệt độ cao.

Hiện tại, các nhà khoa học Hà Lan cho rằng, Lý thuyết Dây có thể góp phần

giải đáp vấn đề này. Nhóm nghiên cứu đã áp dụng Lý thuyết Dây để giải đáp hiện

tượng: Trạng thái tới hạn lượng tử của các electron. Trạng thái đặc biệt này diễn ra

ở một vật liệu chỉ ngay trước khi nó trở nên siêu dẫn ở nhiệt độ cao. Nhóm nghiên

cứu mô tả trạng thái tới hạn lượng tử như một loại "súp lượng tử" theo đó các

electron hình thành nên các khoảng cách tự do chung, trong đó các electron thể

hiện cùng hành vi ở cỡ cơ học lượng tử. Họ đã sử dụng một lĩnh vực của Lý thuyết

Dây được gọi là tương ứng AdS/CFT. Lĩnh vực này cho phép các trạng thái trong

một thế giới tương đối lớn được chuyển hoá thành một bản mô tả thu nhỏ ở cỡ vật

lý lượng tử cực nhỏ. Sự tương ứng này liên kết khoảng trống giữa hai thế giới khác

biệt nhau. Bằng cách áp dụng sự tương ứng này lên trạng thái khi mà một hố đen

chuyển động khi một electron rơi vào nó, họ đã thu được bản mô tả của các

electron lúc rơi vào và rơi ra khỏi trạng thái tới hạn lượng tử.

Các nhà nghiên cứu khẳng định, mặc dù họ vẫn chưa hoàn toàn giải đáp

được hết bí ẩn của tính siêu dẫn nhiệt độ cao, nhưng khám phá này đã chứng tỏ có

thể giải quyết những vấn đề chính trong lĩnh vực vật lý bằng cách sử dụng Lý

thuyết Dây.

Sự phản xạ của Âm

thanh

Ánh sáng khi gặp chiếc gương có thể phản xạ, âm thanh

cũng giống như ánh sáng có thể phản xạ lại khi gặp vật chướng

ngại. Bức tường hồi âm ở công viên Thiên Đài, Bắc Kinh là một

trong những công trình kiến trúc về âm bọc nổi tiếng của Trung Quốc; chỉ

cần nói nhỏ một câu vào tường hồi âm là âm thanh sẽ theo mặt tường hình

trụ tròn mà phản xạ đi rất xa

Hét một tiếng vào phía đồi núi trùng điệp có khi có thể nghe được tiếng vọng

lại, đó là âm thanh phản xạ từ vách núi đối diện. Gương phản quang thường không

phẳng, ví dụ như mặt phản quang hình cái bát ở đèn pin có thể hội tụ ánh sáng lại.

Cũng như vậy, mặt phản quang hình cái bát cũng có thể hội tụ âm thanh. Nếu

không tin bạn có thể tự mình làm thí nghiệm sau. Đặt một cái đĩa lên mặt bàn, đặt

một cái đồng hồ ở độ cao cách cái đĩa vài centimét, lấy một cái đĩa nữa để ở bên

cạnh tai mình, sau khi tìm được vị trí thích hợp bạn có thể nghe thấy tiếng tích tắc

ròn rã của chiếc đồng hồ; nếu nhắm mắt lại bạn sẽ có cảm giác như là chiếc đồng

hồ được để ngay bên tai mình. Những hiện tượng tương tự như vậy có khi cũng có

thể tìm thấy trong thiên nhiên. ở đảo Xi - xin nước Italia có một hang đá, người ta

đặt cho nó một tên gọi rất lạ là "tai của Denys". Chỉ cần đứng ở một chỗ bất kỳ nào

đó trước của hang là có thể nghe được âm thanh từ rất xa dưới đáy hang, những

âm thanh rất nhỏ yếu, thậm chí có thể nghe được tiếng thở cuả con người. Theo

truyền thuyết thì đó là nơu bạo chúa thời cổ đại Denys ở Syracuse dùng để giam

giữ tù nhân. Và cái"tai của Denys"dùng để nghe trộm những lời nói riêng tư của

phạm nhân.

Lợi dụng đặc tính phản xạ của mặt cong có thể hội tụ âm thanh, cũng có thể

tìm được cách truyền âm thanh đi xa nhất. Loa của máy thu thanh máy ghi âm và

các dụng cụ tăng âm, thậm chí micrô, các kèn đồng lớn, nhỏ trong dàn nhạc và cả

kèn lệnh dùng trong quân đội… đều có mặt phản xạ hình lõm.

Tai người và động vật cũng là một mặt phản xạ

thu và tập trung âm thanh, chúng có thể phản xạ âm

thanh vào tận trong tai để tăng cường hiệu quả thu

âm. Khi hét to, hoặc khi lắng nghe có khi bạn đã dùng

hai tay làm mặt phản xạ một cách không tự giác. Khi

hét to để hai bàn tay vào bên miệng có thể truyền

tiếng nói đi xa hơn, còn khi lắng nghe, lại để bàn tay

vào bên tai để thu và tập trung âm thanh lại vào tận tai trong. Lòng bàn tay cong

nghiêng chíng là một vật phản xạ âm thanh. Có khi sự phản xạ của âm thanh là có

hại. Trong một phòng lớn trống trải, tiếng người nói sẽ ồm ồm không rõ, vì đó là

kết quả của sự qua lại hỗn loạn của âm thanh phản xạ từ các hướng. Người ta gọi

những âm thanh phản xạ như vậy là tiếng vọng hỗn loạn. Khi tiếng vọng này quá

mạnh sẽ ảnh hưởng đến độ rõ của âm thanh, nhưng nếu quá yếu thì sẽ làm cho âm

thanh trở nên đơn điệu và không tự nhiên. Tại các nhà hát, phòng hoà nhạc người

ta thường lắp, treo các tấm hút âm, thảm, rèm che cửa v.v… để làm yếu âm thanh

phản xạ, để khống chế được cường độ của tiếng vọng hỗn loạn