
Chuông chùa
TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN THANH GIAO
Chiều xuống nhanh trong tàn cây rậm rạp bên sườn núi. Hắn mệt mỏi lê từng bước qua
các bậc đá trên con dốc quanh co dẫn lên chùa. Có tiếng chuông văng vẳng trôi trong
không gian lạnh lẽo. Hắn ngồi phệt xuống một rễ cây bò ngang đường đã thành bậc dốc.
Rễ to, nhẵn bóng. Chẳng biết bao nhiêu người đã dẫm lên, đã ngồi lên đây, trong biết bao
nhiêu năm khi chưa có và khi đã có tiếng chuông chùa...
Hắn xoạc khuy kéo của chiếc áo khoác lấm màu đất núi, tháo nón quạt bộ ngực rịn mồ
hôi, nuốt nước miếng khan. Gió lạnh rì rào thổi qua vòm lá như một ý thơ hay một nét
nhạc chiều, gợi nhớ những bài thơ, bản nhạc hắn được nghe từ hồi còn là học sinh trung
học. Đầu hắn dịu lại. Mấy mươi năm lẩn tránh trong cuộc đời, hắn đã gặp biết bao cảnh
ngộ trớ trêu... Từ một cậu học trò con nhà khá giả, thích học âm nhạc, hắn cố lẩn tránh
nhưng buộc phải đi học võ bị, thành sĩ quan khi còn rất trẻ; ra trận, hắn cố lẩn tránh bắn
giết nhưng buộc phải bắn giết... Hắn nghĩ có lúc nào đó hắn sẽ viết một pho tiểu thuyết về
cuộc đời mình, với nỗi hồi hộp thắt tim khi nằm trên trang thờ cùng con chuột tránh sự
lùng sục của bọn đi bắt lính, với nỗi khiếp sợ són đái khi lần đầu ra trận đánh nhau, với
lòng ân hận ray rứt âm ỉ từng cơn sau khi giết người cướp của... Khi chiến tranh chấm
dứt, lẽ ra hắn phải đi trình diện, nhưng hắn lại lẩn tránh... Vì hắn không còn tin những lời
nói nữa. Hắn chỉ tin ở hành động, hành động của chính mình. Và số phận cứ xô đẩy hắn
đi... Nắng tắt hẳn. Gió thêm lạnh. Hắn uể oải chống cành cây bẻ vội làm gậy, khoác túi
đứng lên bước tiếp...
Khi màn đêm bao trùm cảnh vật, hắn lên tới cổng chùa. Ngôi chùa thâm u, nép mình dưới
một gốc đa xòe tán rộng mênh mông vào bóng tối. Trăng đầu hôm soi mờ khiến rễ đa
thành một đàn rắn hình thù ngoằn ngoèo, chuyển động.... Các cửa vào chánh điện chùa đã

đóng. Chỉ thấy ánh sáng le lói hắt ra qua những chấn song trên cao và một mùi hương
trầm lan nhẹ trong gió thoảng. Tự nhiên hắn thèm biết ánh sáng và mùi hương phát ra từ
đâu. Có phải từ cặp chân đèn và bộ lư bằng gỗ trầm chạm khắc hoa văn kỳ lạ mà du
khách bốn phương từng đến đây chiêm ngưỡng mách bảo lẩn nhau. Lần theo các cánh
cửa, hắn thấy một khe sáng. Mừng quá, hắn dán mắt vào. Không khí trong chánh điện rờn
rợn, ánh sáng tỏa mờ mờ. Tượng Phật uy nghi, tay đặt lên đùi, tay để trước ngực, mắt lim
dim thiền định bỗng như hé mở, nhìn hắn, cùng lúc với tiếng hỏi:
- A Di Đà Phật, ông tìm ai?
Hắn quay phắt lại, và không chút lúng túng (bao năm lẩn tránh, hắn từng đối phó với bao
bất ngờ), đáp lại cũng bằng một câu hỏi:
- Mô Phật, thưa, chẳng biết sư trụ trì có nhà không?
Rồi hắn liếc nhanh chung quanh, phán đoán... Thần kinh hắn dịu lại. Trước mặt hắn là
một ni cô trong bộ đồ dài màu khói nhang, áo cài chéo nách. Ni cô không còn trẻ, hơi gầy
và xanh, nhưng nét mặt rất xinh và vóc dáng rất đẹp.
- Dạ, thầy tôi vừa có việc xuống núi ít hôm. Thí chủ quen thầy tôi?
Hắn cười gượng, đáp mơ hồ:
- Dạ... Tôi từng nghe tiếng thầy...
Ni cô nhìn hắn từ đầu tới chân... Hắn vội nói:
- Dạ... Tôi đi hành hương. Đến đây trời tối... Xin cho tá túc một đêm... Mai tôi vào đảnh
lễ...
Ni cô phân vân một chút... Rồi nói:
- Mô Phật. Trời tối rồi. Đường xuống núi còn xa... Thôi, ông cứ qua bên kia, có mái tranh
cho bá tánh thập phương lên vãn cảnh chùa nghỉ tạm... Xin theo tôi...
Ni cô đi trước. Hắn bước theo ánh chiếc đèn bão đu đưa nhè nhẹ dưới nhịp tay ni cô.
Chẳng mấy chốc, một mái tranh lờ mờ hiện ra. Ni cô chỉ dẫn:

- Lu nước ngọt kia, đèn dầu và diêm đây... Ông có thể dùng nhưng xin tiết kiệm cho
người đến sau...
Ni cô trỏ tiếp mấy chiếc chiếu để ở đầu tấm phản gỗ dài dùng cho khách thập phương trú
tạm:
- Ông cứ trải chiếu ra mà nằm nghỉ. Đêm lạnh, có thể lấy đắp thêm... Nhà chùa còn
nghèo, xin ông thông cảm...
Hắn vội đáp:
- A Di Đà Phật. Vầy là quí lắm rồi...
Hắn nói thật, vì trong cuộc đời rày đây mai đó, qua đêm ngoài trời là chuyện hắn thường
nếm trải... Ni cô cúi chào, cáo lui. Hắn thở dài... Được ít bước, ni cô dừng lại, hỏi vọng
sang:
- ... Mà ông ăn cơm chưa?
Hắn mừng quá nhưng cố kìm lòng, chậm rãi đáp:
- Dạ... tôi lỡ độ đường... nên chưa...
Ni cô quay lại mấy bước:
- Thôi, để tôi mời ông dùng tạm bữa... Cơm chỉ có rau và tương thôi... Ông vui lòng...
Hắn vội đáp:
- Dạ, vậy tốt quá rồi. Tôi đâu dám đòi hỏi...
Khi hắn rửa ráy xong, vừa trải chiếu ra nằm nghỉ một lúc thì ni cô tới với một niêu cơm,
bát tương và dĩa cải luộc vun đầy trên chiếc mâm gỗ cũ đã sờn mẻ. Mùi cơm mới khiến
hắn bật dậy.
- Mời ông dùng tạm.
Hắn xoa tay, nở cười:
- Xin cảm ơn.... Rất cảm ơn...

- Ông cứ dùng tự nhiên. Bát đũa để sáng mai tôi dọn...
Ni cô xách chiếc đèn bão dợm gót quay đi thì hắn vội vàng nói:
- Bạch... thầy... Không dám nào... thầy có thể cho tôi hỏi...
- Ông muốn hỏi chi?
- Thưa... tôi nghe đồn... chùa... có ma... Có đúng không thầy?
Ni cô dừng bước, ngoáy đầu lại, cười tủm:
- Ông cũng sợ ma ư?
Hắn làm ra vẻ bối rối vì thật ra mấy mươi năm lẩn tránh cuộc đời, hắn đã thấy đủ màu
xanh đỏ tím vàng, có chi mà sợ... Hắn chỉ muốn... khai thác thông tin...
- Dạ thưa thầy...
Ni cô dường cũng muốn... thông tin nên quay gót đi về phía hắn:
- Đó là chuyện... mươi năm trước...
- Mà có chuyện đó thật không thầy?
Ni cô đặt chiếc đèn bão giữa hai người, ngồi ghé lên mép phản:
- Người ta đồn vậy mà...
- Thưa... khi thầy về đây thì còn chuyện đó không?
Ni cô nhếch mép cười mơ hồ:
- Cũng... còn một chút...
- Là sao, thưa thầy...
- Khi Đại dức trụ trì chùa vừa được bổ về đây vài tháng thì tôi cũng vừa lên chùa phát
nguyện...
- A!... Chùa lúc đó ra sao, thưa thầy?

- Vùng này trước có chiến sự ác liệt, chùa gần như bỏ hoang. Trước khi chúng tôi về, tin
đồn chùa có ma vẫn lan truyền. Mới chạng vạng tối, ông thủ tự vừa lên chánh điện đốt
nhang thỉnh chuông thì có một cái chân người rớt bịch xuống trước mặt...
Ni cô liếc nhìn người khách... Hắn tiếp tục suy tư chứ không tỏ vẻ ngạc nhiên hay khiếp
sợ... Ni cô kể tiếp:
- ... Kế đó, lại một cái chân rớt phịch xuống. Rồi một cái tay. Hai cái tay... Cuối cùng là
mình, rồi cái đầu răng nanh gớm ghiếc... Chúng ráp lại với nhau thành một con quỷ định
chụp bắt ông thủ tự nhai sống. Ổng sợ mất mật, tông cửa chạy bán sống bán chết xuống
núi... Từ đó, không ai dám bén mảng vào chánh điện...
Ni cô lại liếc nhìn hắn... Hắn vội ôm ngực như mắc nghẹn:
- Ôi, ghê quá... Vậy thầy có lần nào gặp nó chưa?
Ni cô cười lảng:
- Khi tôi về đây, còn thấy bốn con kên kên ở gốc đa kia. Mỗi khi sắp bay, chúng dang
cánh chạy lấy đà, sải cánh có tới năm mét. Ở trên cây, hàng ngàn con chim, ban đêm ríu
rít nỉ non, nghe ai oán lắm...
- Vậy thầy làm sao?
- Sư thầy tôi trụ trì chùa bèn lập trai đàn giải oan, cúng ba ngày ba đêm, đèn nhang thắp
sáng như sao, mõ chuông tụng niệm không dứt... Thập phương bá tánh, nhất là bà con
quanh vùng tới cúng lễ, cầu siêu, nấu cơm, rửa chén... Sau ba ngày đêm thì mấy ngàn con
chim bay đi hết, lũ kền kền cũng bay luôn. Đêm, cây đa chỉ rì rào, không còn tiếng nỉ non
ai oán nữa... Các oan hồn đã được siêu thoát. Chùa thịnh lên từ đó...
- Thưa... Còn việc trong ... chánh điện...
Ni cô lại liếc nhanh khuôn mặt người khách:
- Bá tánh vào cúng dường ban ngày. Còn ban đêm, chỉ có người của chùa lên thỉnh
chuông hay tụng niệm...
- Tụng niệm suốt đêm?

