UBND TỈNH BẾN TRE
SỞ CÔNG THƯƠNG
-------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
Số: 1229/CTr-SCT Bến Tre, ngày 24 tháng 09 năm 2013
CHƯƠNG TRÌNH
HỖ TRỢ NG CAO NĂNG LỰC SẢN XUT KINH DOANH CÁC LÀNG NGHỀ TIỂU
THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE GIAI ĐOẠN (2013-2020)
I. THỰC TRẠNG CÁC LÀNG NGHỀ SẢN XUẤT TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP (TTCN)
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẾN TRE GIAI ĐOẠN 2006-2012
1. Tình hình sản xuất kinh doanh của các làng nghề:
Trong những năm qua do nhu cầu phát triển, các sản phẩm sản xuất thuộc ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp (TTCN) trên đa bàn tỉnh Bến Tre cũng rất đa dạng và phong phú, đời sống người
dân trong làng nghề không ngừng được nâng lên; đã huy động được nguồn vốn khoảng 55 t
đồng để đầu tư vào sản xuất, giải quyết việc làm cho khoảng 10.000 lao động.
Giai đoạn (2006 - 2012) ngành Công Thương đã phối hợp với các ngành có liên quan và đa
phương tiến hành thẩm định và trình Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định công nhận 18 làng nghề
đạt tiêu chuẩn theo Quyết định số 673/QĐ-UB ngày 08 tháng 3 năm 2006 của UBND tỉnh
Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 26 tháng 6 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn như: Làng nghề dệt chiếu An Hiệp, dệt chiếu Nhơn Thạnh, dệt chiếu Thành Thới B,
làng nghề TTCN An Thạnh, Khánh Thạnh Tân, làng nghề bánh phng Sơn Đốc, bánh phng Phú
Ngãi, làng nghề bánh tráng M Lồng, làng nghề kìm kéo M Thạnh, làng nghề cá khô Bình
Thắng, cá khô An Thuỷ, làng nghề đan đát Phước Tuy, làng nghề đan đát - rượu nếp Phú Lễ,
làng nghề đúc lu Hoà Lợi, Làng nghề kẹo dừa Phường 7, làng nghề đan giỏ cọng dừa Phước
Long, Hưng Phong, làng nghề bó chi ấp An Hoà, Mỹ An. Với tổng số hộ 2.206 hộ, giải quyết
việc làm cho khoảng 8.697 lao động, thu nhập bình quân từ 1,8 triệu đến 2 triệu đồng/người/
tháng.
Kết quả sản xuất kinh doanh của các cơ sở sản xuất làng nghề: Giá tr sản xuất công nghiệp (CĐ
94) năm 2005 đạt 186.701 triệu đồng, năm 2010 đạt 331.665 triệu đồng, năm 2012 đạt 472.297
triệu đồng, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2010 12,18%/năm, chiếm 9,94% giá trị sản
xuất toàn ngành công nghiệp.
Sự phát triển của các làng nghề trong thời gian qua đã có đóng góp quan trọng vào quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của tnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và
dch vụ, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động ở nông thôn.
Các làng nghề đã đi vào sản xuất ổn định và đang trên đà phát trin (từ năm 2006 đến nay) như:
Làng nghề sản xuất chỉ xơ dừa An Thnh - Khánh Thạnh Tân, làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng -
bánh phồng Sơn Đốc, làng nghề dệt chiếu An Hiệp (có Công ty TNHH Thanh Bình với doanh
thu năm 2011 là 73 t, làm đầu tàu để thúc đẩy các làng nghề khác phát trin), làng nghề đan giỏ
cọng dừa Phước Long, làng nghề sản xuất kìm kéo Mỹ Thạnh, làng nghề đan đát
- SX rượu Phú Lễ (có Công ty CP rượu Phú Lễ Ba Tri ), làng nghề đan đát Phước Tuy.…
Ngoài ra, việc phát trin các làng nghề đã tạo điều kin cho các thành phần kinh tế khác phát
trin, điển hình là mt số doanh nghiệp tư nhân (DNTN), Công ty TNHH, Công ty Cổ phn, hợp
tác xã (HTX) như: Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu tỉnh Bến Tre, Công ty Cổ phần thương mại
Trúc Giang, Công ty TNHH Thanh Bình, Công ty TNHH Sáu Nhu, Công ty TNHH Chí Công,
HTX sản xuất TCMN Phú Lộc, HTX TTCN Bến Tre,… đã tự đầu tư vn, thiết bị công nghệ, m
rộng quy mô sản xuất, tổ chức nhiều vệ tinh, chủ động tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm trong nước và xuất khẩu.
2. Khoa học, công nghệ:
Ở các làng nghề mức độ đầu tư máy móc thiết bị vào sản xuất còn thấp, kỹ thuật sản xuất chủ
yếu là thủ công, sử dụng kỹ năng khéo léo của đôi tay là chính. Nhưng bước đầu một số cơ sở đã
sự nghiên cứu áp dụng kết hợp giữa công nghệ truyn thống với công nghệ hiện đại, do đó
mt số sản phẩm của làng nghề đã được tinh xảo, hiện đại hơn, năng suất lao động từng bước
được nâng lên đáng kể. Tuy nhiên, đối với một s nnh nghề thủ công truyền thống tng
đoạn sản xuất chính vẫn phải làm bằng tay, không thể áp dụng máy móc cơ giới toàn b cho quy
tnh sản xuất, vậy sản phẩm làng nghề vẫn giữ được nét độc đáo riêng có. Song do phần lớn
máy móc thiết bị phần lớn tự chế tạo nên năng suất và chất lượng sản phẩm chưa cao, còn rất
nhiều hạn chế trong quá trình sử dụng.
3. Môi trường làng nghề:
Phần lớn các cơ sở sản xuất vi quy mô hộ gia đình, đặt tại nhà ở và nằm rải rác trong khu dân
cư nên vic thu gom và xử chất thải của làng nghề rất khó khăn và còn hạn chế. Đại đa số các
làng nghề chưa được đầu tư hệ thống xử lý tập trung để giảm thiểu các chất thải: Rắn, lỏng, khí,
do đó mức độ ô nhiễm môi trường trong các làng nghề thường cao hơn mc cho phép. Công tác
quản lý và kiểm tra vic thực hiện những giải pháp bảo vệ môi trường của các cấp, các ngành
đa phương chưa được quan tâm đúng mức. Ý thức bảo vệ môi trường của người dân và các đơn
vị sản xuất tại làng nghề chưa cao. Ngoài ra, trong quá trình sản xuất người lao động chưa thật sự
quan tâm đến việc tự bảo vệ mình cũng như chưa có trang bị bảo h lao động đầy đủ nên cũng dễ
xảy ra tai nạn lao động.
Với những lý do trên cho thấy môi trường tại mt s làng nghề ít nhiu đã b ô nhiễm về nguồn
nước, không khí, tiếng ồn... ngoài ra, các chất thải rắn trong sản xuất và sinh hoạt cũng chưa
được quản , thu gom triệt để để x, do đó đây cũng là mt trong những nguyên nhân chính
vừay ô nhiễm môi trường, vừa làm xấu cảnh quan làng nghề.
Trong những năm gần đây, thông qua một số cơ chế, chính sách của trung ương và đa phương
được sự quan tâm của các cấp, các ngành chức năng cũng đã có trin khai hỗ trợ mt phần
kinh phí thực hiện mt số gii pháp nhằm khắc phục phần nào ô nhiễm ở các làng nghề như: Hệ
thng xử lý nước thải quy mô hộ gia đình; áp dụng các giải pp sản xuất sạch hơn cho làng
nghề như: Tiết kiệm nguyên vật liệu xăng dầu, tra dầu cho máy móc để gim tiếng ồn, đi mới
công nghệ thiết bị, lắp đặt lò gas theo chương tnh tiết kim năng lượng,... Tuy nhiên việc đầu
hỗ trợ cho làng nghề khắc phục ô nhiễm ng còn nhiều mặt hạn chế, ít và chưa đồng b, chưa
thường xuyên nên việc khắc phục ô nhiễm chưa đảm bảo đúng theo quy định của Nhà nước.
4. Cơ sở hạ tầng của làng nghề:
Hệ thống giao thông nội b của mt số làng nghề vẫn chưa được quan tâm đầu tư, do đó trong
quá trình vận chuyển nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất và thành phẩm chưa thuận tiện nên
không hấp dẫn các nhà đầu tư.
Các làng nghề hầu hết đều có hệ thống đin, nước, thông tin liên lạc để phục vụ cho sinh hoạt và
sản xuất. Tuy nhiên vẫnn tình trạng cúp điện, cúp nước không báo trước đã ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở trong làng nghề. Ngoài ra, toàn b các làng ngh
đang hoạt động đều không có hệ thống xử nước thải tập trung chung cho toàn làng nghề. Phần
lớn nước thi sản xuất và sinh hoạt được thi ra sông, kênh, mương gần làng nghề. Nếu tình
trạng này kéo dài không được xử lý triệt để sẽ gây ra ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường sống và
sản xuất tại các cơ sở n cư xung quanh khu vực làng nghề.
5. Công tác quản lý nhà nước về làng nghề:
- Công tác thẩm địnhng nhận làng nghề: Hiện nay, tnh giao cho Sở Công Thương làm đầu
mi t chức thẩm định trình UBND tỉnh quyết đnh công nhận làng nghề CN - TTCN. Thành
phần của Hội đồng thẩm định gồm các Sở: Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư, Khoa học và
Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên minh Hợp tác
…. Tiêu chuẩn, tiêu chí áp dụng hiện tại thực hiện theo Thông tư s 116/2006/TT-BNN ngày
26 tháng 6 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát trin nông thôn. Đến nay đã xét công nhận
được 18 làng nghề. Các làng nghề hiện nay chưa có quy định cụ thể vnh thức tổ chức đại
diện cho tập thể các cơ sở của làng nghề trong các quan hệ đối nội và đối ngoại, làmnh hưng
rất lớn đến hoạt đng, phát triển củng như việc xem xét hỗ trợ kinh phí của Nhà nước cho làng
nghề.
- Công tác hỗ trợ xúc tiến thương mại, khuyến công, đầu tư htầng,..: Qua nhiều năm hoạt động
chương trình khuyến công, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình xoá đói giảm nghèo,
ngànhng Thương và UBND các huyện, thành phố đã tập trung đầu tư gần 3 t đồng h trợ
cho các làng nghề TTCN phát triển sản xuất, thông qua việc tổ chức hơn 100 lớp truyn nghề,
đào to nghề, tập huấn về k năng quản lý, kiến thức về hội nhập, kỹ thuật an toàn thiết bị điện,
an toàn vệ sinh thực phẩm,… cho 4.750 người; bằng nguồn kinh phí chương trình khuyến công
tnh, huyện đã đầu tư trên 300 triệu đồng để tổ chức các cuộc hi thảo, hội nghị chuyên đề về
phát triển các ngành nghề TTCN, sản xuất than thiêu kết, sản xuất kẹo dừa, sản xuất chỉ dừa,
tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm trong và ngoài tỉnh, tham gia hội chợ trin lãm hàng năm
ở trong và ngoài tỉnh… Hỗ trợ 2,18 tỷ đồng kinh phí khuyến công cho các cơ sở, các doanh
nghiệp triển khai thực hiện các dự án đầu tư, đi mới trang thiết bị, ứng dụng tiến bộ KHKT, đi
mớing nghệ sản xuất, đăng ký nhãn hiệu hàng hoá… đồng thời để cải tạo xây dựng cơ sở h
tầng tỉnh đã đầu tư 4,664 tỷ đồng để gia cố nâng cấp, làm mới đường giao thông, xây dựng cống
thoát nước cho các làng nghề An Thạnh (Mỏy Nam), Khánh Thạnh Tân (Mỏ Cày Bắc), An
hiệp (Châu Thành), Hưng Nhượng (Ging Trôm).
6. Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của các làng nghề:
6.1. Làng nghề sản xuất các sản phẩm từ dừa: Chỉ xơ dừa (An Thạnh - Mỏ Cày Nam, Khánh
Thạnh Tân - Mỏ Cày Bắc), đan gi cọng dừa (Phước Long, Hưng Phong - Ging Trôm), bó chổi
cọng dừa ấp An Hoà (Mỹ An - Thạnh Phú), sản xuất kẹo dừa, thạch dừa (Phường 7 - Thành phố
Bến Tre):
* Điểm mạnh:
- Sử dụng triệt để nguyên liệu từ cây dừa, tận dụng nguyên liệu tại ch dồi dào, góp phần đa
dạng hoá các sản phẩm từ cây dừa;
- Giải quyết việc làm cho nhiều lao động tại đa phương, góp phần cải thiện đáng kể thu nhập
cho nông hộ. Trong lao động sản xuất cũng có nhiều sáng tạo nhằm làm cho sản phẩm ngày càng
có tính thẩm mỹ cao ng suất lao động cũng tăng lên.
* Điểm yếu:
- Làng nghề còn tổ chức sản xuất nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia đình, khnăng xúc tiến thương mại
của làng nghề còn yếu, chưa có chiến lược phát triển sản phẩm mt cách bền vững và cũng chưa
xây dựng được thương hiệu riêng cho sản phẩm đặc trưng của làng nghề;
- Giá nguyên liệu không ổn định. Thiếu vốn mua trữ nguyên liệu để đảm bảo cho người lao động
việc làm thường xuyên và liên tục;
- Ô nhiễm môi trường không khí do bụi trong quá trình sản xuất chỉ xơ dừa, mn dừa, thảm dừa
chưa được giải quyết triệt để;
- Hệ thng dây chuyền máy móc thiết bị sản xuất còn lạc hậu, chậm đổi mới. Cơ sở hạ tầng chưa
đồng bộ (đường giao thông) gây khó khăn trong vận chuyển nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm;
- Riêng đối với làng nghề sản xuất kẹo dừa, thạch dừa thì thực hiện theo Đề án xử lý, di dờic
cơ sở ô nhiễm môi trường ra khỏi nội ô thành phố nên hiện tại phần lớn cơ sở sản xuất đã di dời
khỏi đa bàn làng nghề, không còn đáp ứng tiêu chí làng nghề theo quy định.
6.2. Làng nghề dệt chiếu (Thành Thới B - Mỏ Cày Nam, Nhơn Thạnh - Thành phố Bến Tre, An
Hiệp - Châu Thành), đan đát (Phước Tuy, Phú Lễ - Ba Tri):
* Điểm mạnh:
- Đây là nghề truyn thống ra đời từ thời xa xưa, những sản phẩm thân thiện với môi trường nên
rất thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh. Gắn kết hiệu quả với các tuyến du lịch sinh thái miệt
vườn;
- Tận dụng số lượng lớn lao động ngoài độ tuổi và lao động nữ, cải thiện rõ nét thu nhập cho
nông h;ng nghAn Hiệp đã phát trin thêm nhiều sản phm mới có giá tr xuất khẩu phù
hợp với nhu cầu phát triển.
* Điểm yếu:
- Phần lớn các công đoạn sản xuất sử dụng phương tiện thủ công. Sản phẩm chiếu hiện tại mẫu
chiếu truyền thống do đó sức cạnh tranh thị trường không cao, không ký hợp đồng trực tiếp được
mà phải qua khâu trung gian nên bị ép giá, hàng bị tồn đọng. Chưa xây dựng được thương hiệu
chiếu;
- Nguyên liệu tại chỗ (lát, tre, trúc) không đáp ứng đủ cho sản xuất, phải đi mua ngoài tỉnh (T
Vinh, Cà Mau), cự ly vận chuyển xa, đồng thời giá nguyên liệu ngày ng tăng, ảnh hưởng đến
lợi nhuận của người sản xuất;
- Kết cấu hạ tầng làng nghề chưa đáp ứng tốt, đặc biệt là đin giao thông nông thôn;
- Do nhu cầu phát triển nên phần ln lao động tr ít quan tâm đến ngh đòi hỏi công phu, cần
mẫn và khéo léo, do đó lao động của làng nghề có nguy cơ giảm.
- Làng nghề Nhơn Thạnh, Thành Thới B, đan đát Phú Lễ, Phú Tuy thiếu năng động trong nghiên
cứu đầu tư sản xuất sản phẩm mới, nên sản xuất gặp nhiều khó khăn, hiệu quả không cao. Làng
nghề Nhơn Thạnh phần lớn đã bỏ nghề, số hộ còn lại không đáp ứng tiêu c của mt làng nghề.
6.3. Làng nghề sản xuất rượu (Phú Lễ - Ba Tri):
* Điểm mạnh:
- Nghề nấu rượu thủ công truyn thống với thương hiệu ni tiếng “Rượu Phú Lễ” Ba Tri;
- Sử dụng hiệu quả lao động nữ và lao đng ngoài độ tuổi ở nông thôn;
- Sử dụng loại hồ men truyn thống chưng cất ra loại rượu có hương vị đặc trưng, thơm ngon.
* Điểm yếu:
- Việc sản xuất còn nhỏ lẻ ở từng h gia đình nên vấn đề vệ sinh an toàn thực phm chưa được
đảm bảo, có mt s cơ sở chạy theo lợi nhuận, sử dụng men ủ không rõ nguồn gốc tạo ra sản
phẩm rượu tuy năng suất cao, nhưng chất lượng rượu không đảm bảo;
- Vốn phục vụ cho phát triển làng nghề còn thiếu, chưa đáp ứng nhu cầu.
6.4. Làng nghề chế biến cá khô (Tim Tôm - Ba Tri, Bình Thắng - Bình Đại):
* Điểm mạnh: