TIỂU LUẬN:
Cơ cấu tổ chức quản lý theo sản phẩm,
khách hàng, thị trường - Ưu điểm,
nhược điểm, phạm vi áp dụng
Lời nói đầu
Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh muốn tồn tại thì điều kiện cần là phải có
các hoạt động chức năng như sản xuất , tài chính, quản trị nguồn nhân lực, quản trị
chiến lược kinh doanh ... Nhưng trong chế thị trường hiện nay , các chức năng này
chưa đủ đảm bảo cho sự lâu dài của một doanh nghiệp nếu tách rời chúng với chức
năng kết nối mọi hoạt động của doanh nghiệp với con nời . Đó yếu tố tổ chức
quản khoa học , một chức năng bản quan trọng nhất của quản lý nói chung
của quản lý trong doanh nghiệp nói riêng .
Trong quản lý, hiệu lực của tổ chức quản nhân tố chủ yếu quyết định hiệu
quả của hoạt động kinh doanh. Trong thực tiễn quản doanh nghiệp, những sai lầm
hoặc thiếu sót về xây dựng vận hành tổ chức quản thường dẫn đến sự suy giảm
hiệu lực điều hành, gây rối loạn trong hoạt động kinh doanh; hậu quả khó tránh khỏi là
các mục tiêu của doanh nghiệp không đạt được, thậm trí dẫn đến nguy cơ đổ vmặc
dù có những thuận lợi khác (như : thị trường, nguồn vốn, công nghệ... ).
Nhận biết được tầm quan trọng của tổ chức quản lý, một trong những yếu tố
quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Em quyết định chọn đề tài: cấu tổ
chức quản theo sản phẩm, khách hàng, th trường - Ưu điểm, nhược điểm,
phạm vi áp dụng" làm đề tài tiểu luận của mình.
Phần I
Những yêu cầu đặt ra đối với cơ cấu tổ chức quản lý và Sự hình thành cơ cấu t
chức theo sản phẩm, khách hàng, thị trường .
I Những yêu cầu đặt ra đối với cơ cấu t chức quản lý :
1.Yêu cầu chung :
- Để quản - điều hành mọi hoạt động trong doanh nghiệp, cần có một bmáy
gồm các cấp, các khâu liên kết với nhau theo quan hệ dọc ngang, những chức
năng, quyền hạn và trách nhiệm c định. cấu của một tổ chức quản kết quả
tổng thành của sự bố trí bộ phận gắn với nhau một cách hợp tạo thành một hệ
thống. Và khi các bộ phận hoạt động thì cả bộ máy vận hành ăn khớp nhịp nhàng theo
sự điều khiển thống nhất của một trung tâm, tạo ra hiệu lực quản lý chung.
- Cơ cấu tổ chức phải hợp lý mới cho phép sử dụng tốt các nguồn lực, giúp cho
việc ra các quyết định đúng đắn và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quyết định đó,
điều hoà phối hợp các hoạt động.
2. Tính hợp lý của cơ cấu tổ chức quản lý:
2.1.Tính tối ưu:
- Số lượng các cấp, các khâu được xác định vừa đủ, phù hợp với các chức năng
quản các công đoạn trong chu trình kinh doanh. Nhiều cấp quá sẽ gây sự cách
biệt, kém nhanh nhạy trong điều hành và cồng kềnh, lãng phí. Quá ít cấp sẽ khiến việc
điều hành m cụ thể, sâu t, dễ sơ hở, sai t. Nhiều khâu ( bộ phận chức năng) quá
sẽ dễ trùng chéo chức năng, gây vướng mắc trong quan hệ trách nhiệm thiếu rõ
ràng, tạo ra nhiều đầu mối chỉ đạo và biên chế gián tiếp khiến chi phí quản lớn.
Ngược lại, quá ít khâu sẽ không quán xuyến được các chức năng cần thiết, hoặc thiếu
chuyên sâu từng chức năng .
- Tính tối ưu thể hiện tổng quát nguyên tắc: bảo đảm quán xuyến hết khối
lượng công việc và có thể quản lý, kiểm tra được.
- Một số nhà nghiên cứu về tổ chức quản lí cho rằng không nên vượt quá con s
6-7 đầu mối trực thuộc mỗi cấp. Tuy nhiên, trên thực tế, khá nhiều doanh nghiệp
thường tới trên 20 đầu mối trực thuộc giám đốc hoặc 10-15 đầu mối trực thuộc
quản đốc phân xưởng. Tóm lại, kthể quy định một mức đầu mối cho mọi trường
hợp. Phải tuỳ trường hợp cụ thể mà vận dụng cho phù hợp, trên tinh thần “vừa đủ”.
2.2.Tính linh hoạt :
- Hoạt động kinh doanh (cũng như nhiều loại hoạt động khác ) không phải bao
giờ cũng diễn ra bình thường đúng như dkiến. phụ thuộc vào các diễn biến thị
trường luôn thay đổi cùng với các yếu tố chính trị, hội phức tạp, đòi hỏi tính năng
động cao trong quản lí. Mỗi luôn đứng trước những may cần kịp thời nắm bắt cũng
như những nguy cơ cần kịp thời ứng phó.
- Mặc đầu đã được cân nhắc kỹ lưỡng khi thiết kế để tạo dựng bộ khung được
coi tối ưu, cấu tổ chức quản phải có tính uyển chuyển nhất định, phải khả
năng điều chỉnh thích ứng trước mọi nh huống xảy ra, trừ trường hợp bất khả kháng
phải tổ chức lại hoàn toàn.
2.3.Tính ổn định tương đối:
- Yêu cầu này dường như mâu thuẫn với tính linh hoạt, song không thể xem
nhẹ, bởi lẽ sự vững bền của cơ cấu tổ chức bảo đảm cho hiệu lực quản lý- điều nh
trong tình huống bình thường. Sự thay đổi tuỳ tiện và diễn ra nhiều lần (“Tách ra nhập
vào”) sẽ gây hậu quả tiêu cực, cả về nền nếp hoạt động cũng như m những người
trong bộ máy; làm giảm hiệu lực kỉ cương của bộ máy. Mỗi lần thay đổi cấu tổ
chức là một lần xáo trộn không dễ lấy lại sự ổn định trong một thời gian ngắn.
- Tính ổn định tương đối của cấu tổ chức quản trước hết được thể hiện
trên việc lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp với chức năng chính của doanh nghiệp (có
nhiều khả năng thực hiện lâu dài). Tiếp đó sự thận trọng khi quyết định điều chỉnh
(cải tiến, kiện toàn), điều chỉnh phải có đủ căn cứ thực tế điều kiện thực sự chín
muồi. Sau cùng khi tiến hành điều chỉnh phải sự chuẩn bị chu đáo mọi mặt
triển khai nhanh gọn, dứt điểm (tránh kéo dài thời chuyển tiếp). Yêu cầu này liên
quan trực tiếp đến việc bố trí nhân sự, đặc biệtcán bộ chủ chốt. Thời điểm tiến hành
điều chỉnh cũng là yếu tố quan trọng để hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh;
thường tránh thời công việc dồn dập (ví dụ công ty du lịch cần tránh mùa du lịch,
doanh nghiệp chế biến nông sản cần tránh thời vụ thu hoạch).
2.4. Độ tin cậy cao:
- Điều hành, phối hợp và kiểm tra mọi hoạt động trong doanh nghiệp đòi hỏi
thông tin phải được cung cấp chính xác kp thời. cấu tổ chức quản phải đảm
bảo tính tin cậy cao của các thông tin đó.
- Tính tin cậy còn thể hiện chổ mỗi bộ phận đều hiểu m đúng chức
năng của mình ( không sót không trùng nhau), sử dụng đúng quyền hạn khả
năng chịu tránh nhiệm. Muốn vậy, cơ cấu tổ chức quản phải xác định vị trí từng
bộ phận cấu thành trong cả hệ thống với các mối quan hệ dọc - ngang để không gây
ớng mắc, chồng chéo , cản trở lẫn nhau tạo được mối liên kết gắn bó với cả tổ chức.
Với cấu như thế, con người buộc phải làm đầy đủ trách nhiệm được giao ( không
chỉ trông váo ý thức), khiến cấp trên yên tâm, cấp dưới cũng tin tưởng vào sự điều
hành của cấp trên.
2.5.Tính kinh tế
- bộ máy phải chi phí để “nuôi” nó. Chi phí quản cao sẽ đội g
thành lên khiến hiệu quả kinh tế bị giảm sút. Tính kinh tế của cấu tổ chức quản lí
thể hiện sự tinh gọn của bộ máy ( theo nguyên tắc “vừa đủ”) hiệu suất m việc
của (không chỉ phụ thuộc chất lượng cán bộ mà còn do shợp của cơ cấu t
chức). Tính kinh tế ng ý nghĩa tính hiệu quả bộ máy, thể hiện qua tương quan
giữa chi phí bỏ ra với kết quả thu về, mặc dù khó đánh giá bằng số liệu.
II.Sự hình thành cơ cấu TCQL theo sản phẩm, khách hàng, thị trường :
- Nếu như các cấu trực tuyến, chức năng hỗn hợp trực tuyến - chức năng
được coi những loại hình cấu " cổ điển" rất quen thuộc và vẫn đang được áp
dụng, thì với sự phát triển của nền kinh tế hiện đại lại xuất hiện loại hình cấu mới,
thường được áp dụng cho các tổ hợp công ty lớn nhằm thích ứng với các mối đe doạ
và các cơ hội từ bên ngoài rộng lớn hơn, gọi là cơ cấu theo sản phẩm, theo khách hàng,
theo thị trường.
- Đó trường hợp các tổ chức kinh doanh hoạt động trên địa bàn rộng (trong
nước xuyên quốc gia), cần phải phân chia các phòng ban chức năng theo lãnh th
với cơ quan đại diện (chi nhánh) của Công ty.